VỀ Giếng Nước Thơm Trong ( Thăm Chùa Phật Ân – Đồng Nai)


“Cơm Cha áo Mẹ chữ Thầy
Nghĩ sao cho bỏ những ngày ước ao”
Đó là câu tục ngữ của ông cha ta từ xưa để lại, nó đã thấm nhuần qua bao thế hệ của người con Việt. Hoà mình vào không gian đầy tình người đó, ngày tôn sư trọng đạo, thị giả diễn đàn Vẻ Đẹp Phật Pháp đã tổ chức chuyến hành hương “ Về Giếng Nước Thơm Trong” đến chùa Phật Ân và Thiền Viện Trúc Lâm tại Long Thành-Đồng Nai, đây là chuyến để cầu mong sự bình an cho Người Thầy đã từng dạy dỗ ta nên người, cầu mong cho những người Thầy mà chưa từng một lần ta gặp gỡ, cầu mong cho những người Thầy đã một đời chèo lái con đò Trí Thức đưa không biết bao nhiêu thế hệ học trò qua sông.
Kết hợp với đoàn Lý Tưởng Lam, xe bắt đầu chuyển bánh vào lúc 7 giờ ngày 20/11/2011 tại Thiền Viện Vạn Hạnh, đoàn đã chụp ảnh trước lúc lên xe để ghi dấu thời khắc thiêng liêng “ Uống nước nhớ nguồn/ Ăn quả nhớ người trồng cây”

Để năng lượng tròn đầy, ban tổ chức đã chuẩn bị bữa ăn sáng cho đoàn, những nắm xôi thật thơm ngon và những chai nước tinh khiết làm ấm lòng vào buổi sớm mai. Dưới sự hướng dẫn của Thầy chủ nhiệm, đoàn đã tập ăn trong chánh niệm, tập quán chiếu nắm xôi này từ đâu mà có, đế chúng ta biết và cảm ơn những nhân tố tạo ra nắm xôi mà ta sắp thưởng thức, đó cũng là một trong những nội dung trong chuyến đi ngày hôm nay. Trong giây phút tĩnh lặng của Tâm, câu niệm phật Quán Thế Âm lại được tụng lên để cầu bình an cho con đường, cầu bình an cho những người đang lưu thông.
Dù ở một khoảng cách rất xa nhưng thầy Giáo Thọ Thích Thái Hoà luôn dõi theo từng bước đi của VĐPP, và trong chuyến đi ngày hôm đó, Đoàn đã đủ duyên để một lần nữa nghe những bức tâm thư của Sư Ôn “ Tiếp xúc niềm vui và nỗi buồn của Lịch Sử:
Thưa đại chúng!
Chúng ta hãy ngồi yên lắng để tiếp xúc một cách sâu sắc với lịch sử của đất nước qua niềm vui và nỗi buồn của từng triều đại, nhất là triều đại nhà Nguyễn mà chúng ta đang có mặt tại lăng Gia Long, nơi Minh Thành điện hôm nay.
Thưa đại chúng! Nhìn vào tự thân của mình, từ khi sinh ra đến khi lớn lên, mỗi chúng ta đều có lịch sử vui và buồn của chính mình. Một triều đại cũng thế. Trong một giai đoạn, trong một đất nước nào đó cũng có những khó khăn, rồi cũng có những thuận lợi. Ta tiếp xúc với triều đại nhà Nguyễn, với vị vua đầu tiên của triều Nguyễn để thấy được sự gian nan, thấy được công lao của Người trong việc xây dựng nên cơ đồ nhà Nguyễn và để lại một sự nghiệp to lớn cho chúng ta ngày hôm nay, từ kinh thành, lăng tẩm, đền đài, văn hóa, tín ngưỡng,… đã tạo nên lịch sử của đất nước Việt Nam nói chung và của cố đô Huế nói riêng.
Vua Gia Long tên thật là Nguyễn Phúc Ánh, sinh ngày 25 tháng 1 năm Nhâm Ngọ (8/2/1762), con của cụ Nguyễn Phúc Luân và bà Nguyễn Thị Hoàng.
Đức vua mồ côi cha khi mới 4 tuổi. Nguyễn Phúc Luân đã bị Trương Phúc Loan thao túng và ám hại. Vì vậy, đức vua Gia Long ở với chúa Nguyễn Phúc Thuần tại nội cung. Sau chính biến chúa Trịnh tấn công Phú Xuân năm 1774, đức vua theo chú vào Quảng Nam. Sau đó, khi quân Tây Sơn từ Bình Định đánh chiếm Quảng Ngãi, Quảng Nam, rồi chiếm thành Phú Xuân, đức vua Gia Long (bấy giờ là Nguyễn Ánh) cùng với chú (Nguyễn Phúc Thuần) chạy vào Gia Định, sau đó về Long Xuyên.
Vào năm 17 tuổi, đức vua chiêu quân, trở thành nguyên soái, nhằm khôi phục lại những gì chúa Nguyễn đã mất.
Sau nhiều lần giao chiến với quân Tây Sơn, thành công có, thất bại có, trải qua 26 năm nằm gai nếm mật, có khi lánh nạn sang Xiêm La, tức là Thái Lan ngày nay, có khi bôn ba ra hải đảo, rồi cầu viện Pháp (thông qua giám mục Bá Đa Lộc). Đức vua đã phải giao hoàng tử Cảnh cho giám mục Bá Đa Lộc đem sang Pháp làm con tin (Hoàng tử Cảnh là con của bà Thừa Thiên Hoàng Thái Hậu, tên thật là Tống Thị Lan), sau khi Pháp hứa yểm trợ cho đức vua để khôi phục lại vương triều, nhưng sự hứa hẹn đó cũng chỉ được nửa vời.
Sau một thời gian chiến tranh với Tây Sơn, năm 1801 vua Gia Long chiếm lại được thành Phú Xuân- tức là thành phố Huế hiện nay. Đầu năm 1802 ngài lên ngôi Hoàng đế, định thưởng tướng sĩ có công, có tội, ưu đãi cho các vị trong triều Lê và các vị trong thời chúa Trịnh. Sau đó, đức vua kéo quân ra Bắc để dẹp các biến loạn còn lại và thống nhất sơn hà.
Năm 1804 đức vua sai đại thần Lê Quang Định sang cầu nhà Thanh phong vương và đổi tên nước là Nam Việt, nhưng vua Thanh sợ hai chữ ấy trùng với thời Triệu, nên không đồng ý mà sắc phong là Việt Nam. Sở dĩ vua dùng hai chữ “Nam Việt” là muốn ghép hai tên An Nam và Việt Thường. Như vậy, tên Việt Nam có từ thời vua Gia Long. Từ thời Hùng Vương, Việt Thường từ Thanh Hóa trở ra. Trong thời kỳ Việt Nam còn lệ thuộc Trung Hoa từ thế kỷ 7 đến cuối thế kỷ 10, nước ta có tên là An Nam Đô hộ Phủ, tức chỉ là một quận huyện của Trung Hoa mà thôi. Đến đời Lý mới có tên An Nam Quốc.
Trong sử ghi lại, vua Gia Long là vị canh tân đất nước đầu tiên. Nhà vua là người ham học, chịu khó, và rất thông minh. Đức vua Gia Long lên ngôi đầu tiên là ở tại phủ Dương Xuân, tức là vùng Lịch Đợi ngày nay, đến năm 1804 mới thiết định và xây dựng kinh thành.
Cuộc đời vua Gia Long có những điều cực kỳ khó khăn. Vì non sông đất nước, vì pháp tổ mà đã hy sinh người con đầu là Hoàng tử Cảnh, giao cho giám mục Bá Đa Lộc làm con tin. Đó là một sự hy sinh to lớn. Không những vậy, sau này, khi truyền ngôi cho vua Minh Mạng là con của bà Thuận Thiên Hoàng Thái Hậu (thứ phi Trần Thị Đan) cũng là một sự hy sinh to lớn nữa. Lẽ ra hoàng tử Cảnh mất thì phải truyền ngôi cho con của hoàng tử Cảnh là dòng đích. Nhưng đức vua đã không làm. Tại sao như vậy? Vì đức vua biết rằng nếu đặt con hoàng tử Cảnh lên ngôi nhiếp chính thì đất nước này, triều đình này sẽ rơi vào tay Thiên chúa giáo. Thiên chúa giáo đã đưa Hoàng tử Cảnh sang Pháp, muốn sau này sẽ thế vua Gia Long. Nhưng không may hoàng tử Cảnh mất trước, nên người ta tiếp tục nuôi dưỡng và đào tạo con của hoàng tử để sau này thay vua Gia Long nắm triều chính, để thay đổi đất nước đi theo hướng của Thiên chúa giáo.
Như vậy, quý vị có thể thấy được đức vua đối với đất nước, với tổ tông như thế nào. Còn nếu mình đọc lịch sử một cách hời hợt, rồi một số người lên án khơi khơi nữa, thì đúng là chúng ta không thấy được sự thật của vấn đề
Năm 1817, vua Louis XVIII của Pháp sai hải quân đánh vào Đà Nẵng, buộc vua Gia Long thi hành hiệp ước nhường Đà Nẵng và Côn Lôn như đã ký với Bá Đa Lộc, nhưng nhà vua không chấp nhận, vì hiệp ước đó đã không được Pháp tôn trọng và thi hành một cách nghiêm túc. Như vậy quý vị có thể thấy được tinh thần ái quốc của đức vua.
Bây giờ đặt lại trường hợp của mình cũng vậy, giả như mình đảm nhận vai trò của vua Gia Long thời đó, trong tình trạng chiến tranh với Tây Sơn, lẽ đương nhiên mình yếu thì mình phải cầu viện nước ngoài. Nhưng sau khi được giang sơn rồi thì thái độ của mình phải như thế nào. Ngày trước, quý vị cũng học sử như tôi, người ta lên án đức vua Gia Long là “cõng rắn cắn gà nhà”, lên án như thế là không chính xác, không có trí tuệ. Vậy nên sau này lịch sử được người ta xét lại rất nhiều.
Công đức của vua Gia Long đối với đất nước mình rất là lớn. Nhà vua là người thống nhất sơn hà đầu tiên, và đã khiến nhà Thanh, Xiêm La, Campuchia,…đều phải kính nể. Đức Vua đã mở mang bờ cõi ra tận đến các hải đảo Trường sa, Hoàng sa và đã cho gặm mốc giới tại các hải đảo nầy.
Nguyễn Huệ tuy là vị anh hùng dân tộc, đã chiến thắng 20 vạn quân Thanh, nhưng nội bộ anh em Tây Sơn bất hòa. Khi Nguyễn Nhạc xưng vương ở Bình Định, Nguyễn Huệ kéo quân vào đánh, nhưng vì Nguyễn Nhạc nói lời thống thiết, nên Nguyễn Huệ đã kéo quân ra.
Khi vua Gia Long thống nhất đất nước đã sai Nguyễn Văn Thành đọc lại bộ luật Hồng Đức của đời Lê và bộ luật của nhà Thanh để thiết lập nên bộ luật Gia Long. Các người Pháp phụ giúp triều đình, đức Vua buộc họ phải đặt Họ và tên Việt. Họ và tên Việt phải để trước tên Pháp. Như Nguyễn văn Chấn – Philippe Vannier; Trí – Dpyot, Tín – Olivierde Puymanel,… Điều nầy cũng cho ta thấy lòng ái quốc và chủ quyền lãnh đạo đất nước của vua. Và vào thời vua Gia Long trị vì, có bốn điểm cần lưu ý.
Thứ nhất, vua không bao giờ thiết lập chức tể tướng, bởi vì vua rút được kinh nghiệm rằng, tể tướng là người hay chuyên quyền và lấn lướt triều chính, như thời chúa Nguyễn Phúc Thuần và Trương Phúc Loan chẳng hạn.
Thứ hai là không lập hoàng hậu, bởi vì rút kinh nghiệm lịch sử từ thời Lý, Trần, hoàng hậu là người hay khuynh loát triều chính.
Thứ ba, vua dạy quan rất nghiêm, không hối lộ, tham nhũng, ức hiếp dân.
Thứ tư, vua dạy dân rất giỏi: dân không được lợi dụng thần thánh để bày ra yến tiệc, ăn uống linh đình, chè chén.
Bốn điểm này quý vị thấy có đáng quý không? Những điểm này trở thành ra phép tắc, nét đặc thù để trị vì đất nước, thiết định ra một triều Nguyễn suốt một trăm bốn mươi ba năm.
Nhưng có một điều đáng buồn là hai vị đại thần có công nhất với nhà vua là Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường là những người cùng nằm gai nếm mật với nhà vua, cùng nhà vua xây dựng và phát triển đất nước, nhưng đã bị giết vì những lời dèm pha, chẳng khác nào Nguyễn Trãi cùng Lê Lợi dựng nên triều Lê, nhưng cuối cùng bị triều Lê tru di tam tộc. Đó là nỗi đau lớn nhất của một đời làm vua, đôi khi nghe các nịnh thần, và sợ các công thần ảnh hưởng đến uy quyền của mình, nên ra tay trước. Đọc những điều này trong lịch sử khiến mình thấy xót xa. Giá như không có những điều đó xảy ra thì mình vinh dự biết mấy.
Một nỗi đau nữa là sau khi thống nhất sơn hà, vua Gia Long xử lý những vị vua quan Tây Sơn hơi nặng tay. Cũng phải thôi, vì khi Nguyễn Huệ lên ngôi đã “xài xể” các chúa Nguyễn rất dữ, thậm chí đào mả Nguyễn Phúc Luân là thân phụ của vua Gia Long. Cho nên vua Gia Long khi lên ngôi cũng ra lệnh đào mả dòng dõi Tây Sơn. Ước chi mấy vị vua của mình đừng làm chuyện đó, thì hôm nay con cháu của mình có thể ngẩng mặt mà đi, vì thấy được đức vua của mình thật sáng chói. Nhưng chính những điều đó khiến cho lịch sử đất nước có những nỗi buồn.

Thêm một điểm nữa là đức vua Gia Long đã nạp Lê Thị Ngọc Bình, vợ của Nguyễn Quang Toản làm đức phi và có bốn người con với bà này, hai hoàng tử và hai công chúa. Giả như đức vua đừng có chuyện đó thì thật là hay. Mình đã chiến thắng cả sơn hà rồi thì không cần phải như thế.
Nhưng ở đời mà đòi hỏi sự hoàn hảo thì thật khó. Đó chỉ là ước muốn của mình, ước muốn cha ông mình khi nào cũng là hoàn hảo.
Tuy nhiên, quý vị phải biết vua Gia Long là vị có công rất lớn đối với triều Nguyễn nói riêng, lịch sử dân tộc nói chung. Với chúng ta ngày hôm nay, nếu cha mình, mẹ mình, tổ tiên mình có những vinh dự nào thì đó là vinh dự cho trái tim của mình; nếu cha ông mình có những sơ suất nào thì mình phải chấp nhận, vì mình là con cháu. Mình chấp nhận những vinh dự của cha ông mình thì mình cũng phải chấp nhận những vụng về, sơ suất của cha ông mình. Chấp nhận để làm gì? Để thế hệ con cháu chúng ta trong tương lai đừng mắc phải những sơ suất như các bậc tiền nhân đã sơ suất. Chúng ta học lịch sử, thì phải biết ứng dụng cái hay của lịch sử vào trong đời sống hiện tại của chúng ta.
Vào năm Kỷ Mão -1820, trước ngày băng hà khoảng một tháng, đức vua Gia Long truyền ngôi lại cho vua Minh Mạng. Vua Gia Long không thích người Tây Phương, vì họ lợi dụng các linh mục Thiên chúa giáo để truyền đạo và nhòm ngó đất nước. Điểm này sang đến thời Minh Mạng, Tự Đức, càng rõ nét hơn.
Về văn minh khoa học, thời Gia Long đã chế ra thuyền đồng để đi tuần tra. Đức vua có tâm thương dân rất nhiều. Cứ khoảng 10km nhà vua cho dựng một ngôi nhà trạm, để người dân đi đường có thể dừng chân nghỉ ngơi. Nhà vua cũng ra lệnh giảm thuế. Ngoài ra, Vua còn yểm trợ cho hoàng thái hậu, các vương phi, công chúa trong việc tu học. Chính Hoàng thái hậu là người đã trùng tu lại chùa Báo Quốc, Huệ Lâm ở kinh đô.
Như chị Phước Ý đã nói, lăng Gia Long được khởi công xây dựng vào năm 1814. Nhà vua đã cho tập hợp tất cả các nhà phong thủy học của đất nước về đây để nghiên cứu vùng đất, tập hợp các nhà kiến trúc để nghiên cứu và thiết trí. Cho nên, chúng ta đến đây, tiếp xúc với đức vua là chúng ta cũng tiếp xúc được với nhiều mặt của một giai đoạn lịch sử đất nước.
Quý vị biết, đức vua Thiệu Trị đã nói rằng suốt đời làm vua, đức vua chỉ thực tập bốn điều mà còn làm không nổi nữa. Bốn điều đó là gì?
Thứ nhất là “kính thiên”, nghĩa là muốn làm vua, phải biết kính trọng quy luật tự nhiên của trời đất, của tự nhiên. Hôm nay chúng ta học về môi trường học, chúng ta phải khai thác điểm này của vua Thiệu Trị. Vậy nên quý vị đừng nghĩ rằng bộ môn sinh thái học, môi trường học là ở bên Tây, chứ nước mình không có. Hiểu như vậy là sai lầm. Môn học ấy đã có từ thời vua Thiệu Trị, đó chính là tư tưởng “kính thiên”, tức là kính trọng quy luật của thiên nhiên.
Thứ hai, làm vua là phải giữ gìn “pháp tổ”. Pháp tổ nghĩa là luật pháp, nguyên tắc của tổ tiên. Tổ tiên mình đã đặt ra các quy tắc, quy ước nào cho dân tộc mình, đã tạo nên pháp quy thế nào cho đất nước thì hôm nay mình phải tôn trọng và bảo vệ.
Điểm thứ ba là “cần chính”, nghĩa là phải siêng năng, cần mẫn với chính sách an dân, với việc lãnh đạo quốc gia.
Thứ tư là “ái dân”, tức là thương dân, mến dân.
Vua Thiệu Trị đã nói rằng, bốn điều này là vương đạo, tức là đạo đức của một người làm vua, mà một bậc thiên tử, bậc quốc chủ phải thực tập.
Do đó, chúng ta tới đây, tiếp xúc và xem thử bản thân mình có kính thiên không, có có pháp tổ không, cần chính không, ái dân không. Con nếu chỉ tới đây để mà chơi, chỉ đến một cách hời hợt thì thật là uổng phí thời gian và tiền bạc. Chúng ta đến đây là tiếp xúc cho được với niềm vui và nỗi buồn của một triều đại, của một ông vua, để từ đó có thể tiếp xúc được với niềm vui, nỗi buồn của chính mình trong kiếp sống con người này. Bởi vì vua- có tiểu sử của vua; dân- có tiểu sử của dân; họ- có tiểu sử của họ; làng- có tiểu sử của làng; nước- có tiểu sử của nước; thế giới con người thì có tiểu sử của con người. Trong tiểu sử đó lúc nào cũng gắn liền hai chất vui, buồn lẫn lộn. Đó là kiếp sống con người.
Chúng ta có mặt ở đây, chính là xương là máu do tổ tiên để lại cho mình. Chúng ta không thể hời hợt được.
Trên đường đi từ thành phố Huế đến đây, giang sơn cẩm tú, quê hương rất đẹp. Dòng sông Hương phục vụ cho con người. Chiếc thuyền phục vụ con người. Ngay cát dưới sông cũng phục vụ con người. Vậy con người phục vụ ai? Hay chỉ biết gây nhau, ăn rồi xả rác. Vậy con người phải biết sống như thế nào để xứng đáng là con cháu của tiền nhân.” Là một bài học thật quý giá cho chúng con, những đứa con đang hành hướng để tìm, tưởng nhớ đến cội nguồn, để chúng con biết được nhờ đâu mà chúng con có mặt trên trái đất này, nhờ đâu mà chúng con trưởng thành và có được tri thức nhu ngày hôm nay.
Sau những lời chia sẽ của Thầy chủ nhiệm, xe đang tiến dần về chùa Phật Ân, ngôi chùa hiện ra như Hàm rồng, nơi đây từng là rừng thiền chuyên tu tịnh nghiệp, chỗ nương náu biết bao Tăng sĩ, cư sĩ tại gia có tâm thực nghiệm đời sống phạm hạnh, đời sống an nhiên thụ pháp, Khoác lên mình chiếc áo Lam truyền thống, đoàn vào Chánh điện dâng hương lễ Phật, lúc đó cũng có lễ Quy y tam bảo, phát nguyện hành trì năm giới. Dành riêng cho Phật tử Sài Gòn dưới sự chứng minh của Hòa Thượng Viện Chủ Thích Minh Tâm, Thượng tọa Thích Trung Đạo cùng chư Đại đức tôn chứng sư. Phật tử Nguyễn Vĩnh Bảo Châu (Vẻ Đẹp Phật Pháp) được Bổn sư trao truyền Pháp danh Thiên Ngọc. Buổi Quy y vừa xong là đến thời Pháp thoại của Hòa thượng Viện chủ tại giảng đường bằng chủ đề mà Ôn nhắn gửi chia sẻ đến lớp trẻ ““Hạt giống tốt xấu là từ ý thức”. Ôn kể chuyện các chú tiểu trong chùa, họ có nhân lành từ lâu với Phật, giới sinh viên Hà Nội cảm nhận gì về một Đạo Phật, đạo làm người hay lãnh đạo đất nước bằng những phương thức hội nhập thế nào mà miếng đất phù sa của Tổ tiên vẫn còn nguyên vẹn, các nhà khoa học khi họ khám phá ra đạo Phật, là nguồn ánh sáng cho khoa học bất tận. v.v… Nhiều vấn đề được Ôn chia sẻ, phân tích, từ đó giới trẻ có sự nhìn nhận về một tương lai tốt đẹp hơn, nhờ được Ôn chỉ dẫn nhiều phương pháp tu tập và biết sống dục thiểu với chính mình. Ôn còn chỉ ra cách quản lý thời gian hay tận dụng mọi phương tiện để sống thật với nhau.
Buổi giảng của Ôn hơn một giờ thôi, nhưng đã làm hăn say học hỏi về tri thức, kiến thức, ý thức là nguồn pháp tư niệm mỗi chúng ta, ai cũng nỗ lực để có bổn phận với những gì chúng ta đang hành dộng và đánh thức “nhân quả tương đồng”. Thời pháp thoại chấm dứt thì tất cả cùng đến trước chánh điện để chụp hình chung với Ôn, với quý thầy chủ nhiệm ‘hát dâng tặng Ôn bài Kính Mến Thầy, Bài ca Bi Trí.
Đoàn được dùng cơm trưa cùng với Quý thầy và đoàn Lý Tưởng Lam, trong lúc ăn đoàn thực tập quán chiếu, dâng bát cơm đầy để nuôi dưỡng lòng biết ơn và cảm nghĩ về đời sống còn thiếu thốn của những người nghèo đói và giá trí của hạt lúa, ơn người cày cấy, ơn những người đốt lửa thổi cơm…Sau nữa giờ đồng hồ nghĩ ngơi, hai đoàn lại cùng nhau sinh hoạt, trao cho nhau những lời ca tiếng hát về công ơn của người cha, người mẹ và thầy cô giáo đã dìu dắt chúng ta trên bước đường đời.

Sau những trò chơi vận động đầy thú vị của đoàn Lý Tưởng Lam hướng dẫn, cũng để đáp lại tấm chân tình nhiệt huyết đó, ban thị giả VĐPP đã hướng dẫn đi thiền hành trong khôn viên vườn thiền của Chùa Phật Ân, vườn Thiền khá đẹp, rộng rãi xanh mát, nhiều chiếc lá vàng rụng xuống bên bậc thềm tam cấp gác chuông, làm cho các thành viên có cảm giác như mùa thu của Trịnh Công Sơn ‘có những mùa thu đi, em nghe gì về trong nắng’. Con suối nhỏ cũng hiện ra khi buổi thiền hành của đại chúng từng bước thong thả. Hơi thở và bước chân của mọi người là trọng điểm của sự nuôi lớn chánh niệm thân tâm.
Đến 14 giờ 30 đoàn rời chùa Phật Ân đến Thiền Viện Trúc Lâm Trí Đức, không gian rộng lớn, yên tĩnh và cảnh quan thiền vị. Các thành viên của hai đoàn luôn tạo tình thân hữu lục hòa cho cả buổi chiều. Đáng tiếc là chưa có tham dự buổi ngồi thiền tại Chánh Điện, đoàn chỉ lễ Phật và bái Tổ, chụp ảnh lưu niệm.
15 giờ 30 đoàn lại trở về Chùa Phật Ân, tri ân đến quý thầy đã tạo cho đoàn có một chuyến đi viên mãn.
16 giờ đoàn lên xe trở về lại thành phố Sài Gòn náo nhiệt, để đoạn đường trở về rút ngắn lại, đoàn lại lắng nghe những lời thơ tiếng hát trong CD “ Như dấu chim bay” của Thầy Giáo Thọ.
Một ngày tu học thật ý nghĩa, một chuyến du lịch tâm linh chỉ diễn ra trong mấy tiếng đồng hồ, nhưng đã để lại nhiều ấn tượng, nhiều cảm xúc và nhiều ý nghĩa cho tất cả các thành viên trong đoàn.

Nguyên Minh và Ban Biên Tập Vẻ Đẹp Phật Pháp tường thuật nhật ký

Advertisements

About Kinh Tâm

Từng bước hoa sen nở
Bài này đã được đăng trong Chùa Việt Nam và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s