Phật giáo An Bằng Xưa và Nay ( Nguyên Phương- Văn Tiến Nhị chủ biên)

CHÂN DUNG CỐ TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN SIÊU
(1921 – 2001)
Ngài đã khai sơn xây dựng chùa An Bằng đầu tiên
và các ngôi chùa An Bằng tiếp theo
LỜI GIỚI THIỆU

Tôi có người huynh trưởng, miền cát trắng.
chiều về cứ thả hồn theo nhịp thở,
để rồi anh và tôi tỏ bày đôi điều huyền diệu.
Anh tôi, nơi cõi bất diệt, nơi hiện hữu lá cây sắc nhiệm mầu,
Vùng gió cát giỡn đùa theo tiếng sóng, đưa anh tìm bến giác vô sinh.
Đôi nét về anh Nguyên Phương!
Anh là một Oanh vũ (đồng ấu) ưu tú. Từ những năm đầu thành lập GĐPT, thuộc Khuôn Hội Phật Giáo An bằng, quận Vinh Lộc, Tỉnh Thừa Thiên, nay là huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Là Ban viên Ban Hướng Dẫn GĐPT Thừa Thiên, Anh còn được sự tin tưởng của VỤ TRƯỞNG, BAN HƯỚNG DẪN TRUNG ƯƠNG GĐPT VN và GĐPT THỪA THIÊN- thăng cấp vào Phó Ban Hướng Dẫn GĐPT THỪA THIÊN . Anh đang nắm giữ mui thuyền truyền thống sinh hoạt Gia Đình Phật Tử An Bằng và các đơn vị cận sự vùng duyên hải. Kể từ những ngày tháng bước vào con đường ánh đạo vàng, anh luôn luôn sách tấn dắt dìu đàn em phụng sự cho lý tưởng đúng theo lời Phật dạy. Sau những biến cố nguồn cội GĐPT anh vẫn một lòng hiến dâng đời riêng cho nếp sống đạo tình do Chư Tổ chỉ giáo. Nhiều lần anh rất tâm huyết hầu chuyện Anh Võ Đình Cường “người Anh cả” của cả trái tim áo lam trên thế giới và mặc dầu tang lễ của Anh cả anh không vào Nam tham dự, nhưng vào khoảng thời gian Vesak thế giới tại Việt Nam anh có đến Thiền Viện Vạn Hạnh Sài Gòn thọ tang tưởng nhớ, nơi hương áng, di ảnh được tôn trí. Với anh, Anh cả vẫn mãi là ngọn đuốc thắp sáng cho những nơi tăm tối lầm mê, bỏ quên bổn phận màu áo lam.
Từ những năm tháng, Phật Giáo sau lần đại hội thống nhất năm 1964, Phật giáo An Bằng cũng dần được chỉnh soạn phát triển và mở ra một tương lai với tinh thần lục hòa dưới ngọn cờ hòa bình năm sắc . Từ Tổng Hội Niệm Phật Đường cho đến Đoàn thanh thiếu niên, Gia Đình Phật Tử (GĐPT) An Bằng, anh được bổn sư thượng Chơn hạ Thức ban cho pháp danh Nguyên Phương. Sau khi Bổn sư viên tịch, anh được Hòa Thượng Thích Thiện Siêu giáo dưỡng, kể từ đó anh đã theo gót Thầy làm Phật sự cho quê hương, với tinh thần chịu khó dấn thân, anh đã không ngừng vun bồi hạt mầm Từ Bi- Hỷ Xả-Trí Tuệ cho các thế hệ qua các kỳ Trại huấn luyện huynh trưởng, đoàn sinh các miền. Được bổn sư và Chư tôn đức Tỉnh hội tán dương công đức. Mặc dù thời cuộc biến động, làm lay chuyển ý chí tình người, không ngừng phân hóa tổ chức GĐPT nhưng anh “một lòng giữ vững tâm đạo” hướng dẫn nội quy, qui chế cụ thể về các sinh hoạt trong nội bộ Phật giáo An Bằng. Trong quá trình xao lãng về mạng mạch tâm linh đối với lớp huynh trưởng trẻ kế thừa mà bấy lâu anh đã không ngừng thai ngén bồi đắp. Do đó không ngoài việc biên khảo, sưu tầm và nghiên cứu hướng đi phụng sự chúng sanh là lợi ích cúng dường Chư Phật’. Anh, cùng với Ban Huynh trưởng lưu niên cho ra đời Tập San đặc biệt “ Phật giáo An Bằng Xưa & Nay” suốt một thời gian dài hết lòng tìm kiếm, đối chiếu và ngày càng minh chứng tính truyền bá Đạo Phật trên quê hương An Bằng.
Trong hàng ngũ Huynh trưởng, anh được Ban Hướng Dẫn Thừa Thiên mời vào các vị trí điều hành quan trọng và về những sự đóng góp của anh cho hội đồng Huynh trưởng Vạn hạnh, Cấp tấn. với một người xuất thân có truyền thống gia đình Phật tử, từ vùng quê hẻo lánh nhưng cũng được Anh Nguyễn Sĩ Thiều bổ nhiệm vào việc Ủy viên Doanh tế GĐPT Tỉnh Thừa Thiên.
Làm người hướng dẫn đoàn sinh GĐPT An Bằng, anh luôn tham gia vào các chương trình hoằng pháp, giáo dục, từ thiện văn hóa, văn nghệ, hội trại bạn, nên anh được các huynh trưởng lớn tin tưởng thương yêu và giao phó những trách nhiệm đối nội, đối ngoại cho Niệm Phật Đường, cố vấn ban huynh trưởng GĐPT. Vào đầu năm 2003 anh Nguyên Phương đã y theo sự đề nghị của bác Trương Công Châu. Khuôn trưởng lúc bấy giờ đã thành lập Ngành Thanh Gia Đình Phật Tử An bằng, Ngành mà kể từ ngày thành lập GĐPT An Bằng đến năm 1999 chưa có.
Năm 2008 anh cùng với quí bác, quí anh chị Huynh trưởng, Niên trưởng thuộc Khuôn hội Phật giáo An Bằng ở trong nước và hải ngoại đã góp phần, khởi công xây dựng tượng đài Quán Thế Âm ở bãi biển, An Bằng cũng như các di tích khác bị mai một bỏ quên theo thời gian.
Huynh trưởng Nguyên Phương với tập. “PHẬT GIÁO AN BẰNG XƯA VÀ NAY ”.
Đây có thể xem như là một công trình biên soạn, sao lục tất cả các văn kiện và sự phát triển Phật Giáo An Bằng qua các thời đại, cũng chỉ với tâm huyết vì tiền đồ hậu bối của người con xứ Độn Bồi An Đức Tự năm xưa. Ấn phẩm lịch sử này, đầy đủ sử liệu nhất từ trước đến giờ, là một tư liệu nghiên cứu bổ ích cho các nghiên cứu tiếp theo về sự hình thành và phát triển Phật giáo và GĐPT An Bằng sau này.

Phật Lịch 2554 – 2010
Ban Hoằng pháp Văn Hóa Phật Giáo Sài Gòn
kính giới Thiệu

LỜI TỰA.

“CÂY CÓ GỐC, NƯỚC CÓ NGUỒN”
Đối với Phật Giáo thì có Nhân và Quả “Đạo Nhân Quả”. Trong nhân có quả, trong quả có nhân, có sự tương quan, tương duyên của nó, gọi chung là: Luật nhân quả.
Để ghi chép lại tiến trình, Lịch sử của Khuôn Hội Phật Giáo và Gia Đình Phật Tử An Bằng quá trình hình thành, phát triển và xây dựng từ xưa đến nay.
Vào năm 1983. Theo lời huấn thị của Ban Đại Diện và các ban ngành thuộc Khuôn Hội Phật Giáo An Bằng đương kim, quý bác cựu Khuôn trưởng, Gia trưởng, Huynh trưởng, quí đạo hữu thiện tâm.
Đã yêu cầu ban Văn hóa, Tu thư, nhật tu, sổ sách của Khuôn Hội, qua bao nhiêu năm thiên tai, chiến tranh tàn phá bị thất lạc, ghi chép lại lịch sử và tiến trình phát triển Khuôn Hội Phật Giáo và Gia Đình Phật Tử An Bằng. Sưu tầm, hình tượng, kinh điển, pháp khí về đây làm kho tàng, kinh điển giáo lý của Phật giáo An Bằng từ xưa đến nay..
Hầu để lại cho thế hệ sau tiếp nối sự nghiệp của cha anh trên con đường tu học. Lấy giáo lý Phật Đà làm kim chỉ nam trong cuộc sống từ ngàn xưa, để tiếp nối các thế hệ tương lai …
Nói đến Phật Giáo An Bằng chúng ta kính cẩn nghiên mình tưởng niệm đến các vị tiền bối, hữu công qua các triều đại đã đem ánh sáng trí tuệ của Đức Phật và sáng lập ra ngôi chùa đầu tiên ở tại Động Bồ, hay nói một cách khác Động Bồ Đề. (Xóm chùa), thì đạo Phật An Bằng đã có từ thời đó …
Nói đến Khuôn Hội Phật Giáo An Bằng chúng ta, nghiên mình kính cẩn tưởng niệm đến quí bác, quí anh chị đã quá cố trong mọi hoàn cảnh.
Và không quên ghi nhận công ơn của quí bác, quí anh chị còn hiện tại đã và đang dày công vun trồng, xây dựng.
Chúng tôi tài mòn, sức kém, tuy có nhiều người cọng tác, nhưng không làm sao tránh khỏi nhiều thiếu sót. sai lầm, khi viết cuốn sách nầy.
Trước khi bàn bạc đề cập làm công tác, xuất bản qua các phiên họp nên hay không nên xuất bản, vì sợ những thiếu sót nêu trên. Thế rồi không còn cách nào hơn là phải xuất bản.
Từ chỗ đó nên cũng nhất quán với nhau để thực hiện, chúng tôi đã cố gắng quyết tâm, với lòng say mê và thiện ch,í cũng đã mất mát rất nhiều công lao, để sưu khảo, chúng tôi chấp nhận sự phê bình nếu có, và tin chắc rằng các thế hệ sau tìm hiểu, tiếp tục bổ sung thêm.
Chúng tôi nghĩ rằng: Nếu không có cơ sở ban đầu thì sau nầy không căn cứ vào đâu để lập nên tiểu sử của Khuôn Hội và Gia Đình Phật Tử An Bằng kể từ ngày thành lập cho đến nay. “Vạn sự khởi đâu nan”.!
Nnên dù khó khăn đến mấy ban Văn hóa và Tu thư thành tâm cầu nguyện Tam Bảo vững bước đi lên chứ không buông tay dừng lại trên dốc đá của cuộc đời, đấy là điều tham vọng. Với tấm lòng mộ đạo, mục đích: Phát huy truyền thống của ngàn xưa và kế tục sự nghiệp của cha anh đi trước, lưu lại cho thế hệ mai sau.
Vì lẽ đó; kính mong quí vị, quí bác, quí anh chị em, hãy đến với chúng tôi bằng những niềm tin yêu và hy vọng, bằng ánh sáng cảm thông, để bước vào con đưòng Chân Thiện Mỹ. Ở đây Tham, Sân, Si của con người sẽ không còn, mà chỉ còn lại ngào ngạt hương từ bi và thánh thiện.
Xin hãy đến với Phật Giáo An Bằng, với GĐPT An Bằng. Là ngõ vào con đường của đạo Từ Bi, cánh cửa đã rộng mở để cùng nhau khởi sự, tiếp nối cuộc hành trình Tu và Học.
Kính đảnh lễ Chư Tôn đức. Kính thưa quí vị, quí bác, quí anh chị cựu Huynh trưởng và anh chị em Huynh trưởng đương nhiệm kính mến, cùng các em cựu Đoàn sinh, Đoàn sinh, các em Mầm non thân mến.
Ngoài Chư Tôn đức, qúi bác, quí anh chị em ra rồi, tâm bồ đề của các em cũng kiên cố không có gì lay chuyển nỗi.
Chúng tôi biết anh chị em còn đó, còn đó cả, chúng tôi biết anh chị em vì thời cuộc, vì hoàn cảnh xếp áo lam tạm thời cách biệt, nhưng hình hoa sen trắng vẫn nở kín trong lòng, mỗi khi nghe tiếng gọi đàn thì tất cả cùng về với cội nguồn và cùng hiện diện.
Chúng tôi đã gọi rồi đó, và anh chị em cũng đã đáp rồi đó, sở dĩ tiếng gọi còn yếu, nên lời đáp chưa mạnh.
Giờ đây chúng tôi luôn tiếp thu mọi sự đề nghị đóng góp của Chư Tôn đức, quí vị, quí bác, quí anh chị em sửa sai, bổ sung để công tác xuất bản sớm hoàn thành thật đầy đủ..
Chúng ta hãy đem đạo Phật đi vào cuộc đời, vào sự sống, hãy cùng nhau xây dựng, nề nếp, tu học để đưa Phật Giáo nói chung và Phật Giáo An Bằng nói riêng mãi mãi lên cao, ra sức xiển dương cho Phật Giáo hưng thịnh, góp phần phục vụ Đạo pháp và Dân tộc.
Trong suốt hơn 30 năm sưu khảo, hôm nay mới có bản Sơ lược tiểu sử của Khuôn Hội Phật Giáo và GĐPT An Bằng lần đầu tiên viết tại quê nhà, có sự tham gia đóng góp của:
Chư Tôn đức.
Ban Đại Diện Khuôn Hội Phật Giáo, Ban Huynh Trưởng GĐPT An Bằng.
Qui bác, qui anh: Lê Phát, Trương Công Châu, Anh Đặng Tuân, Đào Hoài, Văn Hưng, Nguyễn Anh Tuấn,
Qua tham khảo một số tư liệu của Anh Phạm Hưởng – Văn Nhân Đạo – Văn Đình Xuân, đang ở nước ngoài cung cấp thêm.
Tuy nhiên những buổi nói chuyện, những bài viết về một số đề tài, không sao tránh khỏi sự trùng lập, khi đọc nếu thấy thiếu sót, trùng lập mong Chư Tôn đức, quí bác và quí anh chị em góp ý và thông cảm cho.
Xin chân thành cám ơn quí bác Cố, Nguyên và Đương nhiệm, Khuôn trưởng, Phó, các thành viên trong Khuôn Hội, qua các thời kỳ đã dày công giáo dưỡng hàng ngũ Huynh trưởng và Đoàn sinh GĐPT An Bằng qua nhiều thế hệ, đều trở thành con người tốt đạo, đẹp đời để phụng sự gia đình, xã hội, Khuôn Hội, dân tộc và Đạo pháp.
Xin chân thành cám quí bác, quí anh chị niên trưởng, quí anh chị em Huynh trưởng và Đoàn sinh GĐPT An Bằng từ trong nước và hải ngoại, đã động viên hỗ trợ bằng tinh thần, lẫn vật chất để tập sách được sớm lưu hành.
Tập sách chia làm 3 phần:
PHẦN MỘT : Lịch Sử Phật Giáo An Bằng Xưa và Nay.
PHẦN HAI : Tổ Chức Gia Đình Phật Tử với Khuôn Hội Phật Giáo An Bằng.
PHẦN BA : Phần Phụ Lục.
Mùa thu lại về, xin mời tất cả các cánh chim đang tảng mác bốn phương trời hãy quay về tổ ấm như người xưa thường nhắc nhở: « Cây có cội, nước có nguồn»
Trưởng lão Hòa Thượng Thích Thiện Siêu cũng có câu:
“Cá đã về nguồn luôn nhớ cội.
Chim dù xa tổ nhớ ơn cây”.
Mùa thu năm Đinh Hợi (2009) PL 2552
Ban Văn Hóa, Tu Thư, phụ trách biên tập
Huynh Trưởng Cấp Tấn
Nguyên Phương Văn Tiến Nhị

Cẩn kính

PHẦN MỘT

LỊCH SỬ
PHẬT GIÁO AN BẰNG
XƯA VÀ NAY

Soạn Tập Văn Tiến Nhị

I. TỔNG THỂ VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG AN BẰNG.
1. VỊ TRÍ, DIỆN TÍCH. VÀ ĐỊA GIỚI
a/ VỊ TRÍ : Làng An Bằng nằm vào phía đông của Thành Phố Huế, khoảng cách 18km, tính đường chim bay. Nếu đi xe máy, ô tô thì phải qua 35km đường dài. Nằm dọc theo miền duyên hải, giữa Thuận An và Tư Hiền thì làng An Bằng như đòn gánh. (Nghĩa là cửa Thuận An và cửa Tư Hiền ở hai đầu còn làng An Bằng ở giữa.
b/ DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN: 720ha.Trước ngày
thống nhất đất nước cho đến nay vẫn giữ nguyên các Cột mốc giới. mặc dù phân chia về địa giới hành chánh, cụ thể như trước đây làng An Bằng xã An Bằng thuộc quận Vinh lộc (huyện Phú Lộc). Hiện nay thuộc huyện Phú vang.
c/ ĐỊA GIỚI THỔ CƯ: Phía Đông làng An Bằng, giáp biển Đông, thái bình dương. Phía Tây giáp làng Hà Úc xã Vinh An. Phía Nam giáp xã Vinh Mỹ huyện Phú Lộc, Phía Bắc giáp xã Vinh Thanh huyện Phú Vang, cách phá Tam giang 3km .
“Theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn.
(trang 211)
An Bằng khách hộ phường.
– Đông giáp biển
– Tây giáp phường Hà Úc, phường Lương Viện có cột đá làm giới.
– Nam giáp Mỹ Toàn khách hộ phường.
– Bắc giáp Hà Thanh ( tôngr Kế Thống Hương Trà) có cột đá làm giới.
– Toàn diện tích 1201.4.0.0
– Quan thổ Tam Bảo 0.3.0.0
Cát trắng 1201.1.0.0 ”… (*1)
2. CÁC DI TÍCH CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
Di Tích và cảnh quang hiện có ở trong làng gồm: Chùa Làng, Đình Làng, Am cạnh đình làng, Am Thành Hoàng, Am Quan Cát, Am Đôi, Am Bà Thủy, Am Bà Chúa, Am Phường Trên, Am Phường Giữa, Am Phường Dưới. Lăng Ông Ngư, Nền xóm Trên, Nền xóm Dưới, Nền xóm Giữa, Nền An Mỹ, Cột cờ xóm Trên, Giếng Tau, Giếng Chùa, Giếng Bộn (hiện nay đã trùng tu lại vẫn còn xử dụng được). Nhà thờ Đạo Thiên Chúa Giáo, Chùa Khuôn Hội Phật Giáo An Bằng, nhưng có sau các di tích lịch sử đã nêu trên. Các long, địa mạch trong làng là: Bàu Tràm, Khe Bàu, Khe Chùa, Khe Toon (Trong), Miệng Trọt. Bàu An Mỹ (hay gọi là Bàu ông Truyện) Ngoài ra còn một số di tích khác ở trong phạm vi của làng. Cho đến bây giờ dân làng giản ra ở bao bọc chung quanh làng cho nên mỗi cụm dân cư đều có Am Thổ địa để hương khói hàng năm cầu dân an vật thụ.
Nhờ Ấn pháp của Tổ sư Phật giáo đã tìm long mạch khai sơn xây dựng ngôi chùa làng, hôm nay làng An Bằng được an bình, thịnh vượng. Ngày trước các Ngài đi với các vua, chúa, (Chúa Nguyễn Hoàng), để mở mang bờ cõi, xây dựng chùa chiền, miếu vủ, hể đến nơi nào đất đai có long mạch, màu mỡ, thì quí Ngài chọn và Ấn pháp ở đó để xây dựng chùa và các thắng tích.
Ngôi chùa làng An Bằng được xây dụng từ hồi đó, ngôi chùa cách đình làng hiện nay 150m về hướng Bắc, cây cối um tùm, sầm uất. Ngày xưa quí tiền bối đã trồng các loại cây cổ thụ, đa số là cây mù u, sanh, cừa v.v… Cách chùa 10m về hướng nam có một cái giếng vuông gọi là Giếng Chùa, nước rất trong, trước chùa có con khe nước chảy róc rách từ lầm Bùi về không bao giờ khô cạn, con khe nầy cũng bắt nguồn từ long mạnh của làng, Ngôi chùa làng xưa ấy, hôm nay không còn nữa vì quá lâu đời do phù sa bồi lấp toàn bộ ngôi chùa, chỉ còn lại cái giếng mà thôi.
Mãi đến năm 1954 đất đã lấp hết chùa các dụng cụ và vật thờ cúng còn lại như đá tán, một số cột kèo, 3 vị Quan Thánh, chuông, mõ và một bức hoành phi có 3 chữ “AN ĐỨC TỰ”, năm Quí dậu do ngài Lê Đức Trí pháp danh Hải Bảo tín cúng.
Làng giao lại cho Khuôn hội đem về thờ tại chùa Khuôn, đây là ngôi chùa thứ 2 trong làng do phật tử An Bằng tạo dựng lên vào năm 1954 cạnh đình làng cách 10m nằm về phía Đông Nam, trong hồ sơ bàn giao cho Khuôn Hội An Bằng có 3 sào đất Tam Bảo quan thổ trước mặt chùa làng xưa, trong Phủ Biên Tạp Lục có ghi 3 sào đất Tam Bảo nầy, Phật, Ba vị Quan Thánh và pháp khí thờ ở đâu thì lấy 3 sào đất Tam Bảo quan thổ đó để hương khói phụng tự. Từ khi ngôi chùa làng bị vùi lấp thì ngôi chùa thứ 2 và các ngôi chùa kế tiếp lần lượt xây dựng lên.
Sau năm 1954 có Trường học Mai Khôi, năm 1970 có Trường Bồ Đề và Ký Nhi Viện An Bằng. Trường Bồ Đề, Ký Nhi Viện Phật giáo và Trường Mai Khôi, sau năm 1975 thì các cơ sở nầy không dạy học và sinh hoạt nữa. Tuy nhiên đại đa số ngưòi dân trong làng theo học ở hai ngôi trường nầy hiện nay vẫn là người có học thức ở thế hệ nầy, đã và đang chăm lo xây dựng quê hương và phục vụ xã hội.
Ai đã một lần đến An Bằng cũng phải lưu luyến, khâm phục giang sơn gấm vóc và phong thủy, địa mạch của làng bởi vì: Phía đằng sau làng là phá Tam giang, phía trước là biển nhìn ra cả đại dương xanh ngát, cứ buổi sáng và chiều thuyền tàu đi làm về cá đầy ắp, cả dân làng tấp nập rộn ràng mua bán, không ngừng nghỉ, tạo nên cảnh sắc tuyệt đẹp của quê hương. Đặc biệt bãi biển làng An Bằng rất sạch, không có ô nhiễm môi trường như các nơi khác, khách du lịch đến tham quan cũng cảm nhận như thế.
Làng xưa tập trung dân cư ở trên cồn cát như ở trên lưng con Rùa cảnh làng rất sầm uất, cây cối um tùm, chung quanh làng có một dãy đất bao bọc mà cổ xưa ta thường gọi là con Rồng uốn lượng quanh làng cũng gọi Động Bồ (Động Bồ Đề) là con Rồng, đây là Long mạch. Địa mạch của làng. (*1) Dân làng chuyên sống về nghề biển và trồng khoai, sắn, hoa màu cũng là nguồn lương thực chính, cho những năm mất mùa biển (cá).
Làng có một con khe bao bọc, xuất phát từ mạch nước đầu tiên gọi là long mạch của làng, khi trời mưa bảo con khe chạy bọc bao quanh làng đưa nguồn nước đầu tiên và mang theo những bùn nhơ ô uế, chảy thẳng qua miệng Trọt rồi ra biển đông, làm tiêu tan màn u ám sau mỗi một năm dân làng sinh sống có ảnh hưởng đến môi sinh, môi trường.
Phần nước trong sạch mát lành còn lại để cho dân làng sinh hoạt và cung cấp cho cây cối xanh tươi, ruộng đồng được mùa lúa, khoai tạo thêm nguồn lương thực để dân làng sinh sống, nước vẫn trôi chảy theo hướng chùa làng tiếp nối con khe chùa ở Bùi róc rách chảy về dưới chân Độn Bồ không có khi nào khô cạn. Nước khe chùa dừng lại ở đây để chờ mùa mưa bảo tới, kết hợp nhau chảy qua miệng Trọt thẳng ra biển đông và cứ như thế cả bao đời nay.

(*1)Động Bồ là Long, Địa mạch, là di tích lịch sử của làng, lại một lần nũa đã làm cho dân làng và 44 họ tộc làng An bằng từ trong nước và hải ngoại quyết tâm gìn giữ và bảo vệ. Vì cơ quan chính quyền cấp huyện Phú vang đã cấp đất Động Bồ cho Giáo Xư An bằng tại công văn số: 16/TB.NT Ký ngày 15 tháng 1 năm 2009. của phòng Tài Nguyên Môi Trường. (Hội Đồng Giáo Xứ và Giáp An Bắc viết đơn trình là không nhận vì đây là đất phong thổ, huyết mạch của tâm linh đã có từ ngàn xưa đến bây giờ, đơn trinh lại vào ngày 23 tháng 1 năm 2009.) Nhờ sự đoàn kết và lẽ phải của dân làng va 44 họ Tộc. Nên chính quyền các câp, đã cho phép Làng An bằng xây dựng nhà Bia Tưởng Niệm để giữ lại đất Động Bồ.

Ở chân Động Bồ thì Ngôi chùa đã dựng lên, theo sử sách ngôi chùa nầy đã có từ thời Hậu Lê, nay bị cát vùi lấp và hư hỏng, đến năm 2004 làng đã đứng ra phục chế lại, nhưng không so sánh với ngôi Chùa làng xưa được.
Như vậy ngôi Chùa làng này, được xây dựng lên từ thời nào thì dân làng An Bằng tiếp nối căn cơ của đạo Phật bắt nguồn từ thời đó.
Cảnh làng cây cối, lầm rú sầm uất, hùng vĩ, trù phú, linh thiêng nhờ các di tích lịch sử đã xây dựng từ ngàn xưa để lại rất nhiều, Am, Miếu vủ, rải rác trong thôn, xóm của làng, mãi cho đến ngày nay các di tích ấy vẫn còn làm nơi thờ cúng của dân làng và hiện nay đều được trùng tu lại. Ngôi đình làng đã qua các thời kỳ tu sửa, đến năm 1999 là xây dựng làm mới toàn bộ nhưng vẫn giữ hướng, phong thủy của ngôi đình cũ và đường nét cổ xưa.
Ngoài đình làng ra trong mỗi xóm, (phường) đều có Am thổ địa từ xa xưa lắm rồi, ngày nay vẫn còn để dân trong Xóm (Phường) chiêm bái thờ cúng hằng năm theo tục lệ của từng đơn vị.
Một lễ hội lớn nhất của dân làng là Lễ Hội đua thuyền truyền thống trên biển, gọi là Tam Niên Đáo Lệ Cầu Ngư đã tổ chức đến lần thứ 150 không có năm nào bỏ lệ, và nhiều lễ hội truyền thống trong làng hàng năm đều tổ chức như lễ Cầu an đầu năm, lễ Hạ vọng để thuyền đi biển, lễ Xuống mùa, lễ Khai khe, lễ Âm hồn vào đầu tháng 5 Âm lịch, lễ đua, lễ Đông chí, lễ kỵ Ông ngư gọi là lễ kỵ Ngài, lễ Tảo mộ, lễ Tam tiết nhật v.v… Dù khó khăn, cơ cực mấy đi nữa cũng tổ chức cho bằng được.
Cho đến nay năm 2007- 2011 dân làng đã phát triển mạnh về đời sống, văn hóa, kinh tế, quê hương được khởi sắc, giàu đẹp, đình, chùa, miếu vủ, nhà thờ đạo, nhà thờ các họ tộc được xây dựng mới, nhà cửa của dân làng 2,3,4 tầng lầu mọc lên như nấm, đường sá được mở mang, mạng thông tin truyền thông đại chúng đều rộng khắp trong làng.
Khách du lịch trong nước và ngoài nước đang để ý đến, đã nhiều đoàn du lịch từ trong nước và Hải ngoại đến tham quan, nhất là quần thể lăng mộ của những người con, người cháu hiếu thảo thế hệ sau nầy xây dựng lên cho tổ tiên, ông bà cha mẹ, cô dì, chú bác, anh chị em, là một quần thể lăng mộ kỳ bí, biến thành nơi du lịch tâm linh từ nay và sau này.

Ngôi chùa đầu tiên sau năm 1968 (sau tết Mậu thân) tại mảnh đất
Xây dựng chùa mới hiện nay phật tử Văn Tiến Nhị và Văn Hưng
chụp hình lưu niệm trước Tiền đàng.

Ngôi chùa An Bằng xây dựng lần thứ tư trước năm 2000
SỰ HÌNH THÀNH LÀNG AN BẰNG

NGƯỜI VIỆT VÀ NHỮNG LẦN NAM TIẾN
“An Bằng là một làng nằm ven biển, hiện nay thuộc xã Vinh An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Sử liệu cho thấy làng nằm trên phần lãnh thổ của vương quốc Chiêm Thành xưa. Để dẫn đến sự kiện có mặt của người Việt và sự hình thành của làng An Bằng hiện nay, chúng tôi xin lượt qua một số biến cố của lịch sử dân tộc như sau.
Từ những bộ tộc cư ngụ ở phía nam sông Dương Tử và hồ Động Đình. [1] Người Việt bị sức ép của các bộ tộc phía Bắc nên lùi dần về phương Nam, và đã từng biết kết hợp với các bộ tộc liên hệ để bảo toàn sắc tộc[2]. Vả lại, cũng như các dân tộc trên lục địa thế giới, sự sinh tồn của con người luôn có chiều hướng đi dần về phương Nam vì điều kiện hay hoàn cảnh. Với địa thế, người Việt còn lại của các bộ tộc trong gia đình Bách Việt về được phương Nam, đã trụ lại trên phần đất Bắc-Việt ngày nay[3] để cố thủ và lập nghiệp. Sau khi có được nền tảng để bảo vệ giống nòi, họ lại nhìn về phương Nam mà phát triển, để giảm bớt áp lực của phía Bắc.
Ở về phía cực Nam lãnh thổ của người Việt lúc bấy giờ có dân tộc Chiêm Thành. Trong lịch sử Việt-Chiêm đã có những cuộc chiến tranh kể từ thời nhà Đinh, do Ngô Nhật Khánh trốn về Chiêm Thành[4] rồi xúi giục quân Chiêm tiến đánh Đại Cồ Việt[5]. Nhưng quân Chiêm không thực hiện được cuộc chiến do trận bão làm thiệt hại binh thuyền (năm 979). Rồi sau khi vua Lê Đại Hành lên ngôi, gởi sứ sang thông hiếu nhưng bị vua Chiêm giữ lại, nên năm Thiên Phúc thứ 3 (982) Lê Đại Hành đánh vào Kinh đô nước Chiêm. Năm 1044[6] vua Lý Thái Tông lại đánh chiếm thành Phật Thệ[7] – kinh đô của nước Chiêm. Nhưng việc làm chủ đất đai của người Chiêm thì mới bắt đầu từ hậu bán thế kỷ XI thuộc triều đại nhà Lý, bằng các cuộc chinh phạt gây rối của người Chiêm Thành ở biên giới. Trong trận chiến năm 1068 nhà Lý cũng lại đánh chiếm thành Phật Thệ[8] và bắt được vua Chiêm là Chế Củ đem về. Do trận chiến nầy, vua Chế Củ xin dâng 3 châu để chuộc tội là: Bố Chính, Địa Lý (hai châu nầy tức Quảng Bình ngày nay) và Ma Linh (tức vùng Bắc Quảng Trị tới Cửa Việt).
Và năm 1103 người Việt cũng đã chinh phạt Chiêm Thành vào tới cực Nam nước Chiêm, khiến một dân tộc ở phía nam là Chân Lạp khiếp sợ mà phải xin triều cống Đại Việt.
Nhà Trần thay nhà Lý (1225), nối tiếp sự nghiệp xây dựng và mở mang đất nước. Năm 1306, qua cuộc cưới gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân, nước ta lại có thêm hai châu Ô, Lý, gồm một phần phía nam tỉnh Quảng Trị từ Cửa Việt, nguyên tỉnh Thừa Thiên, qua đèo Hải Vân đến Bắc Quảng Nam (thuộc Thành phố Đà Nẵng ngày nay). Sau khi vua Chế Mân mất, Công chúa Huyền Trân được cứu thoát. (Theo tục lệ của người Chiêm, khi nhà vua chết đi thì các cung phi phải thiêu sống theo vua). Kể từ đó người Chiêm ấm ức về những phần đất đã mất vào tay người Việt, nên chiến tranh biên giới Việt-Chiêm càng ngày nặng nề hơn. Do vậy mà người Việt cũng chiếm dần những vùng đất ở phía Nam đèo Hải Vân; như: năm 1402 Hồ Quý Ly đưa quân vào đánh Chiêm Thành, khiến người Chiêm phải dâng vùng đất thuộc hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi, lập ra trấn Quảng Nam. Năm 1470 vua Lê Thánh Tông chiếm Bình Định. Sau khi Đoan Quận công Nguyễn Hoàng được trấn giữ luôn xứ Quảng Nam năm 1570, đến năm 1611 thì đánh chiếm Phú Yên. Năm 1652 Chúa Nguyễn Phúc Tần mở rộng bờ cõi đến tận Phan Rang, và năm 1693 chúa Nguyễn phúc Chu bắt dân Chàm thay đổi y phục để đồng hóa với người Việt. Cho đến năm 1697 đất nước Chiêm Thành hoàn toàn mất hẳn vào tay của các chúa Nguyễn, và sau đó 1781 Nguyễn Ánh [9] cũng kiểm soát luôn phần đất của Chân Lạp (tức Nam Việt ngày nay).
CÁC CUỘC DI DÂN VÀO NAM CỦA NGƯỜI VIỆT.
Việc di dân của người Việt về phía Nam kể từ sau thế kỷ thứ 10, được bắt đầu sau khi vua Chế Củ dâng 3 Châu để chuộc tội vào năm 1069, thì triều đình nhà Lý đã cho dân chúng đến để khai khẩn ruộng đất. Rồi nhà Trần sau khi thu nhận hai châu Ô, Lý vào năm 1307, thì đổi thành Thuận Châu, Hoá Châu và khuyến khích dân chúng vào khai hoang lập nghiệp. Hành Khiển Đoàn Nhữ Hài được đưa vào để vỗ về dân bản địa và tổ chức Phủ, Huyện nhằm bảo vệ dân chúng lập nghiệp lúc bấy giờ. Trong những cuộc di dân trên, dĩ nhiên người Việt chỉ vào tới những vùng lân cận như Quảng Bình, Quảng Trị với những cánh đồng như Phong Điền, Quảng Điền. Ngoài những thành phần sống về nông nghiệp, thành phần dân chúng sống về ngư nghiệp hẳn phải tiến xa hơn, bởi do địa thế của bờ biển và nhu cầu tăng trưởng kinh tế, vả lại phương tiện di chuyển đường xa thuận tiện nhất lúc bấy giờ là ghe thuyền, nên dân cư ở gần bờ biển và sinh sống bằng nghề biển có phương tiện để đi xa hơn.
Đến năm 1558, Đoan Quận công Nguyễn Hoàng vào Trấn thủ Thuận Hóa đã mang theo gia đình, bà con thân thuộc, và binh sĩ cùng gia đình của họ. Đến 1569 (11 năm sau), Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng ra bái kiến vua Lê (lúc này đang ở Thanh Hóa), khi trên đường trở về cũng có một số người theo đoàn quân của Nguyễn Hoàng vào Nam. Và khi Nguyễn Hoàng trở ra Bắc giúp vua Lê vào năm 1593, đến năm 1600 thì trở về lại Thuận Hóa, dân chúng cũng lại theo về vì hâm mộ chúa Tiên Nguyễn Hoàng, cũng như muốn tìm đất mới. Bối cảnh xã hội và làng An Bằng được hình thành
Xã hội Việt Nam lúc bấy giờ chiến tranh loạn lạc, một nước có hai triều đình. Nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê và giữ lấy Đông Đô (Thăng Long), chẳng bao lâu thì tướng thần của nhà Lê là Hữu vệ Điện tiền Tướng Quân, An Thành Hầu Nguyễn Kim giúp vua Lê Trang Tông lập lên lại triều đình ở Thanh Hóa để chống lại nhà Mạc, nên mới có Bắc Triều và Nam Triều. Bắc Triều có nhà Mạc, Nam Triều có nhà Lê.
Sau khi Nguyễn Kim bị tướng hàng của nhà Mạc hại chết, quyền hành giao lại cho con rể của Nguyễn Kim là Trịnh Kiểm. Vì sợ Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng giành lại quyền hành nên Trịnh Kiểm tìm cách giết Nguyễn Uông. Nguyễn Hoàng thấy vậy cũng rất lo sợ bởi quyền hành nằm cả trong tay Trịnh Kiểm[10]. Trong tình huống bất an ấy, Nguyễn Hoàng đã nhờ chị là Bảo Ngọc (vợ Trịnh Kiểm) vận động để cho vào trấn thủ ở phương Nam vào năm 1558. Khi vào được Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng lo mở mang xã hội và xây dựng kinh tế, nên trong một thời gian ngắn xứ Thuận Hóa thịnh đạt hẳn lên. Nguyễn Hoàng rất được dân chúng mến mộ, nên tôn xưng là chúa Tiên. Rồi năm 1570, sau lần ra bái kiến vua Lê ở Thanh Hóa, chúa Tiên Nguyễn Hoàng được trấn giữ luôn đất Quảng Nam. Chính trong lần trở về từ Thanh Hóa của Đoan Quận công Nguyễn Hoàng vào năm 1570, tổ tiên của người An Bằng, bắt đầu có sự quan hệ với chúa Tiên-Nguyễn Hoàng trong việc đánh dẹp cũng như khai dựng, mở mang xứ Thuận-Quảng.
Tổng lược lại những tư liệu lịch sử của làng hiện có, và đối chiếu với lịch sử dân tộc, thì nguồn gốc và những diễn tiến về sự hình thành của Làng An Bằng như sau:
Nguyên tổ tiên của người làng An Bằng có nguồn gốc từ thôn An Ba, xã Cừ Hà, huyện Khang Lộc, phủ Tân Bình[12]. Nhân đi thuyền ra buôn bán ở xứ Thanh Hóa và gặp được Đoan Quận công Nguyễn Hoàng, Nguyễn Hoàng đòi các lái tới để hỏi tình hình về xứ Quảng Bình, và hẹn tháng 8 năm sau ra đón Ngài vào[13]. Năm sau, các lái Nguyễn Quý công, Trần Quý công, Hoàng Quý công, huy động được 10 chiếc ghe trường đà[14] ra đón Đoan Quận Công và bản bộ binh sĩ vào. Một cuộc đón tiếp Đoan Quận công đã diễn ra tại đình Động Hải, và chúa Tiên Nguyễn Hoàng đã chủ trì một buổi lễ kỳ an tại đình làng ở thôn An Ba xã Cừ Hà [15].
Rồi theo yêu cầu của Đoan Quận công, do thông thuộc đường xá, địa hình ở bản huyện (huyện Khang Lộc) nên các Ngài làm hướng đạo trong việc đánh Mĩ Lương của Nguyễn Hoàng. Sau khi trừ được Mĩ Lương [16] năm 1570, Nguyễn Hoàng lại kéo quân về ấp An Ba làm lễ kỳ an và mừng thắng trận. Nhân đó Chúa Tiên Nguyễn Hoàng tưởng thưởng cho dân xã Cừ Hà. Lệnh cho nội phủ là dân xã Cừ Hà được miễn trừ thuế má chợ đò, sưu dịch. Sau đó các lái thôn An Ba lại đưa chúa Tiên Nguyễn Hoàng và bản bộ vào sông Ái Tử, ở Dinh Cát.
Cuộc hội ngộ của Nguyễn Hoàng và Trịnh Kiểm khi Nguyễn Hoàng ra chầu vua Lê được diễn ra rất thân tình. Do đó Trịnh Kiểm đã tâu với vua Lê kêu Trấn thủ Quảng Nam lúc bấy giờ là Nguyễn Bá Quýnh về trấn thủ Nghệ An, và giao cho Nguyễn Hoàng trấn giữ luôn xứ Quảng Nam. Nên sau đó khi trở về lại Thuận Hóa, thì Đoan Quận công Nguyễn Hoàng giữ chức Tổng Trấn Thuận-Quảng. Từ Dinh Cát, vào năm 1571, Nguyễn Hoàng đi quan sát địa hình sông núi của hai xứ Thuận Quảng để hoạch định công cuộc mở mang tiếp đất Thuận-Quảng.
Trong đoàn tùy tùng của Nguyễn Hoàng vào Nam có các lái của thôn An Ba gồm các vị Nguyễn Quý công, Trần Quý công và Trương Quý công. Thuyền đi men theo bờ biển và ghé vào những nơi có cửa biển để thị sát địa hình sông núi. Khi đến vùng bờ biển thuộc dải Tiểu Trường Sa ở địa hạt huyện Phú Vinh, (tức Phú Vang ngày nay) có cửa biển với cánh rừng xanh tốt, Tổng trấn Nguyễn Hoàng liền cho thuyền ghé vào để quan sát, nên các lái thôn An Ba thấy được đây là vùng đất có cửa biển, có rừng, thuận lợi cho việc giao thông buôn bán, chài lưới, (tức vùng bờ biển của làng An Bằng ngày nay)[17], nên các ngài liền trình xin với Đoan Quận công Nguyễn Hoàng cho các ngài lập nghiệp tại đây và được Đoan Quận công Nguyễn Hoàng đồng ý[18].
Sau khi đoàn thuyền đến xứ Quảng Nam rồi trở về lại sông Ái Tử, các ngài mới trở về thôn An Ba đưa bạn bè thân thuộc vào đây để lập nghiệp, và lập nên phường xóm. Bấy giờ các ngài đặt tên phường là Phường An Đôi, có lẽ để nhớ chốn xưa là thôn An Ba.
Nhớ công lao của các ngài phò tá đánh dẹp Mĩ Lương và quan sát địa hình hai xứ Thuận-Quảng, chúa Nguyễn Hoàng cũng cho phường An Đôi tại đây được miễn trừ mọi thứ thuế má chợ đò, sai dịch. Chỉ mỗi năm đến mùa cá thì dâng lên chúa Tiên loại cá cảm (cá cơm) gọi là phẩm vật của phường. Đồng thời phường An Đôi được chúa giao cho kiểm soát vùng bờ biển từ cửa Eo (cửa cũ Thuận An, giữa hai làng Thái Dương hạ và Hòa Duân) đến Cảnh Dương (mũi Chân Mây Tây), để thu thuế nộp lên. Tuy nhiên, vùng đất nầy bấy giờ còn hoang vắng, chưa được yên ổn, nên các ngài chỉ tới lui, chứ chưa ở hẳn tại đây.

Đền tưởng niệm tại Đông Bồ xây dưng năm 2009

Ngôi đình làng An Bằng xây dựng năm 1999
Ở Nam Triều, trước tình trạng xáo trộn triều chính của nhà Lê do Trịnh Tùng tranh giành quyền lực với anh. Sau khi giết anh để chiếm lấy quyền hành, Trịnh Tùng lại thao túng triều đình, nên Nguyễn Lập Bạo đem quân của mình về hàng với họ Mạc. Đến tháng 7 năm 1572, y đem quân vượt biển vào đánh cướp xứ Thuận Hóa. Lập Bạo đóng quân ở hai làng Hồ Xá và Lãng Uyễn. Lúc bấy giờ Nguyễn Hoàng chỉ mới tổ chức ổn định được xứ nầy, về mặt binh lương và phòng thủ thì chưa có gì đáng kể, nên Lập Bạo coi thường lực lượng của Nguyễn Hoàng. Nhưng nhờ vào mưu trí, Nguyễn Hoàng đã đánh bại được Lập Bạo ở sông Ái Tử vào mùa đông năm 1572.
Sau khi trừ được Lập Bạo, nhà Mạc không có phản ứng gì, nhà Trịnh cũng lo ổn định triều chính và phải lo đối phó mặt Bắc với nhà Mạc. Xứ Thuận-Quảng nhờ thế mà được yên ổn. Chính sách ái dân của chúa Tiên được dân chúng hết sức mến mộ. Phò tá cho chúa Tiên lúc bấy giờ có: Mạc Cảnh Huống (là em Mạc Kính Điển, anh em rể với Nguyễn Hoàng, đã đem gia quyến theo Nguyễn Hoàng vào Nam), Nguyễn Ư Dĩ (cậu ruột của Nguyễn Hoàng), và Trấn vũ Thuận Hóa Luân Quận công Tống Phước Trị (trước khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ); nên khắp nơi Thuận Quảng đều được thanh bình, an lạc. Chính trong thời gian yên ổn nầy, các ngài mới đưa vợ con vào ở hẳn tại đây.
Phường An Đôi được lập danh bộ lần đầu tiên vào năm 1669 dưới thời vua Lê Huyền Tông và Dũng Quận công Nguyễn Phúc Tần ở Đàng trong. Theo bản địa bạ, các xã thần phường An Đôi tổng kê ghe chài từ cửa Eo đến Cảnh Dương gồm cả thảy là 14 chiếc, do các tướng thần xã trưởng Nguyễn Văn Học, Lê Văn Dâu đứng tên khai địa bạ. Đồng thời cũng trong năm nầy, các xã thần Nguyễn Văn Học, Lê Văn Dâu, Nguyễn Văn Ngạch, trình đơn lên đội tạo thuyền của phủ để xin phát triển nghề biển[19]. Mãi đến năm Chánh Hòa thứ 21, dưới triều vua Lê Hi Tông (tức năm 1701) và Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), mới được ông Tổng đốc Nguyễn Phê chuẩn y cho ghe chài và làm lưới dày. Từ đó nghề lưới dày được phát triển và dân làng có được đời sống sung túc hơn.
Dưới thời Ngãi Vương Nguyễn Phúc Trăn (tức Nguyễn Phúc Thái 1687- 1691) vì kỵ tên húy của mẹ là bà Tống Thị Đôi, nên phường An Đôi được đổi thành An Bằng. Cái tên phường An Bằng thuộc tổng Diêm Trường, huyện Phú Vang ra đời từ đó.
Năm Cảnh Hưng thứ 2 dưới thời vua Lê Hiển Tông (1740-1786) và Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), phường được xây dựng một ngôi chùa ở Động Bồ. Hiện nay ngôi chùa không còn, nhưng vẫn còn giữ được hai khí mảnh của chùa là bức Hoành phi “An Đức Tự” và bộ tượng 3 vị Quan Thánh.
Năm Gia Long thứ 10 (1811), phường được đổi thành làng An Bằng, đồng thời lập danh bộ xác định vị trí địa giới của làng và các phường, xã lân cận. .
Năm Gia Long thứ 13 (1814) lại lập địa bạ của làng. Lần nầy có xã trưởng Nguyễn Văn Thảo cùng các hương mục của làng cùng ký tên hoặc in dấu tay. Cũng trong năm nầy, lần đầu tiên ngôi đình làng An Bằng được kiến tạo trên một đồi cát, bằng những vật liệu tranh, tre, mặt về hướng đông nam (ở phía Tây của nhà thờ giáo xứ hiện nay). Đến năm Minh Mạng thứ 19 (1838) dân phát triển đông hơn, nên làng đã huy động đóng góp xây dựng đình làng lần thứ 2. Lần nầy làng dời đình về trên mảnh đất đình làng hiện nay, hướng mặt về tây nam, được xây dựng bằng những vật liệu kiên cố: tường gạch vữa vôi.
Đến năm Minh Mạng thứ 20 (1839), theo cuộc cải cách làng xã, làng An Bằng thuộc về tổng Kế Mĩ và bắt đầu tổng kê dân số, đất đai, ghe thuyền để thu thuế. Làng An Bằng kể từ đó bắt đầu chịu mọi sưu thuế như những làng xã khác.
Năm Thành Thái thứ 5 (1893), do lâu năm nên đình làng bị hư hỏng, dân làng lại đóng góp để xây dựng lại. Đây là lần thứ 3 xây dựng đình làng. Lần nầy các ngài Văn Công Nghị, Lê Văn Cúc, Nguyễn Văn Vụ và Lê Văn Đính ra tận các xứ Quảng Bình, Quảng Trị để tìm mua một bộ sườn cột bằng gỗ quí, để dựng lại một ngôi đình kiên cố lâu bền hơn. Tuy nhiên qua thời gian lâu dài mái ngói bị quằn và tường cũng bị rạn nứt. Sau đó ngôi đình lại bị hư hỏng một lần nữa bởi trận bom năm Mậu Thân (1968). Năm 1971 làng lại phải trùng tu. Đến năm 1998, nhờ những bà con ra sống ở hải ngoại, dân làng có được cuộc sống sung túc, đình làng được tái thiết hoàn công vào năm 1999.
Đến nay, làng đã được Sở văn hóa Thông tin Thừa Thiên-Huế công nhận là Làng Văn hóa. Một buổi lễ tiếp nhận văn bằng “Làng Văn hóa”, đã được diễn ra tại đình làng vào ngày 2 tháng 9 năm 2003 vô cùng trọng thể. Thật là một niềm vui và vinh dự cho toàn thể bà con nhân dân làng An Bằng.
Các họ khai canh, khai khẩn của làng
Theo tờ khai các hiệu thần và các ngài khai canh của làng xã vào năm Duy Tân thứ 7 (1913), thì làng An Bằng không có hiệu thần, nhưng dân làng đã lập miếu thờ 3 vị thủy tổ khai canh làm thần làng, và được các ngài bấy giờ khai như sau:
– Vị thứ nhất: Nguyễn Quý công, húy là Lĩnh. (Có mộ phần và con, cháu tại làng).
– Vị thứ hai: Trần Quý công. (Không rõ tên húy và không có mộ phần, con cháu tại làng).
– Vị Thứ ba: Hoàng Quý công. (Không rõ tên húy và không có mộ phần, con cháu tại làng).
3 vị cùng thờ chung một miếu. (am Thành Hoàng).
Theo Mục lục Hương Phổ ấp An Bằng, sau khi lập tờ khai năm Duy Tân thứ 7 (1913), các ngài được phong tặng như sau:
– Khai canh Nguyễn Đại lang, sắc phong Dực Bảo Trung Hưng Tôn Thần.
– Khai canh Trần Đại lang, sắc phong Dực Bảo Trung Hưng Tôn Thần.
(Nguyên mộ phần và con, cháu đều không lưu truyền).
– Khai canh Hoàng Đại lang, sắc phong Dực Bảo Trung Hưng Tôn Thần.
(Nguyên mộ phần và con, cháu đều không lưu truyền).
Đến năm Khải Định thứ 2 (1917), làng được phong tặng thêm một vị khai canh, vì một trong những người xin chúa Tiên cho lập nghiệp ở vùng đất này có Trương Quý công, nhưng đã không khai trong lần khai năm Duy Tân thứ 7 (1913).
Vị khai canh thứ tư và 3 vị khai khẩn là:
– Khai canh Trương Đại lang, sắc phong Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Tôn Thần.
– Khai khẩn Lê Văn Tần Đại lang, sắc phong Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Tôn Thần.
– Khai khẩn Văn Mô Đại lang, sắc phong Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Tôn Thần.
– Khai khẩn Đào Văn Chất Đại lang, sắc phong Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Tôn Thần.
(Được biết, trong hồ sơ còn thấy một số đơn xin cấp sắc bằng đề năm Duy Tân thứ 3 (1909), vì sắc bằng cũ bị mưa bão làm hư-nát.)
Kể từ những năm cuối của tiền bán thế kỷ 20 trở đi, làng An Bằng cũng gánh chịu nhiều mất mát do chiến tranh. Năm 1947, Pháp trở lại tái lập thuộc địa Đông Dương, đã đem quân lính tới đóng đồn và giết hại, hà hiếp dân làng, tàn phá những rừng cây còn sót lại trong làng, biến những ngôi làng xanh tươi trở lại thuở hoang sơ đồng không cát trắng. Vào tháng 6 năm 1968, một trận bom đã san bằng gần hết những gì còn lại trên đất làng xưa An Bằng.
Cuối tháng 4-1975, do tình hình chính trị chung, một số dân làng An Bằng theo dòng người di tản ra hải ngoại. Đến năm 1978 trở đi, vì cuộc sống ở quê nhà quá khó khăn, một số lớn dân làng tìm đường vượt biển ra làm ăn ở nước ngoài. Từ sau năm 1985, nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập, dân An Bằng ở hải ngoại có dịp tài trợ cho bà con ở quê nhà. Từ đó đời sống của dân làng thay đổi một cách rõ rệt, vật chất đầy đủ, đời sống tâm linh được chú trọng. Làng An Bằng thuộc xã Vinh An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, là một điển hình về việc dân làng đã tự đóng góp để hạ thế điện lực, cũng như xây dựng trường học và đường sá trong làng.
Để lo việc tâm linh, làng An Bằng hiện nay có Ban Cúng tế và Ban Hương Tộc. Hai ban cộng tác với nhau giữ gìn nghi thức lễ lược theo truyền thống, cũng như bảo quản các di sản của làng.
Như vậy, từ cuộc gặp gỡ Đoan Quận công Nguyễn Hoàng ở Thanh Hóa năm 1569, đã đưa đẩy tiền nhân của làng An Bằng tham gia vào việc đánh dẹp Mĩ Quận công, rồi lại tham gia trong chuyến quan sát địa hình sông núi của Tổng Trấn Đoan Quận công Nguyễn Hoàng vào năm 1571, các ngài đã xin được vùng đất này để lập nghiệp. Tính đến nay (2007) đã trải qua 436 năm, với biết bao đổi thay, dâu bể. Có được một vùng đất với cảnh quang non sông thơ mộng như thế để lập làng, hẳn các ngài đã mơ đến một ngày sẽ trở thành phồn hoa đô hội.
Nhưng rồi, thời cuộc đẩy đưa, cuộc nội chiến Trịnh-Nguyễn kéo dài gần 50 năm, và tiếp theo là những cuộc chiến tranh cùng với sự đô hộ của ngoại bang, đã làm cho cảnh quang của làng tan nát, tiêu điều. Thế nhưng, với chiều dài lịch sử và những tập quán sinh hoạt của dân làng đã tạo nên một mối tương quan mật thiết trong tinh thần làng nước. Do đó, hiện nay dù người dân làng An Bằng sống ở nơi đâu cũng luôn hướng về quê hương, làng xóm và luôn giữ lấy cội nguồn, làng nước làm gốc.” ( *1 Trích Làng Xưa Tich Cũ của Văn Đình Xuân )

Vị trí xã Vinh An trên bản đồ du lịch Thừa Thiên-Huế

II. PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO LÀNG AN BẰNG

Làng xưa trước chỉ có chừng 60 hoặc 70 hộ gia đình. Trong đó có trên 40 hộ gia đình theo Phật giáo thuần túy, đa số là dân trí thức và các nho sinh ở trong làng, cho nên các Ngài phải chịu rất nhiều gian lao khổ cực vì: Một lòng vì đạo giữ vững niềm tin, chánh tín Tam bảo, chăm lo cho đạo Pháp và quê hương nên luôn luôn bị kềm kẹp đàn áp đánh đập đến nỗi bệnh rồi chết như cụ Đặng Túy. Còn Cụ Đào Nguyên Phong, các vị Khuôn trưởng đầu tiên nầy đều là thành phần sáng lập Hội, cũng chịu không nỗi nên phải lên Huế ở tại chùa Từ Đàm với Ngài Trí Quang nay là Thượng Nhân Thích Trí Quang, nhân vật tài ba lỗi lạc của Phật giáo và nhất là vào những năm 1963 và 1966, có nhiều nhân sĩ, hào kiệt trong làng cũng đều chịu chung số phận như vậy cụ thể như gia đình cụ Đào Tàm bị chèn ép nên cụ bảo con cụ là cụ Đào Nghệ vào đạo Thiên Chúa để khỏi bị đàn áp, nhưng cụ Nghệ cương quyết không theo dù có chết cũng đành, thế rồi sự trung kiên, chịu đựng của gia đình và bản thân cụ Nghệ cũng được an toàn. Kẻ làm điều sai trái đều bị quả báo hiện tiền. Nhờ lòng từ bi và đạo đức của những vị trung kiên đó, và những người biết được việc làm sai trái, lỗi lầm để hối cải nên trong làng thời đó đều thông cảm tha thứ cho nhau, giữ mối hài hòa đoàn kết, tạo mọi bình yên trong dân làng không phân biệt, giàu nghèo, tôn giáo mà chỉ chăm lo xây dựng quê hương xứ sở, giang sơn, bảo toàn di tích lịch sử, giữ gìn bản sắc văn hóa của tiền nhân để lại, thật đáng tự hào cho quê hương biết bao.
Đến năm 1945 trở lên dân số mới có được chừng 1500 người, năm 1956 có chừng 2000 người, năm 1968 có chừng 3500 người, năm 1975 có chừng 3600 người, năm 1983 có chừng 4800 người. Và tính đến nay năm 2007 đã có chừng 8900 người và có hơn 2000 người hiện đang sinh sống ở nước ngoài vì lý do kinh tế làm ăn.
Đặc tính bản chất vốn có của người dân trong làng là: Lương thiện, thật thà, chất phát, cần cù, khiêm tốn, giản dị, biết thờ kính tổ tiên, ông bà, hiếu học, hiếu thảo, chăm chỉ làm ăn, biết tình huynh đệ, anh em họ hàng gia tộc, biết tình làng nghĩa xóm, biết thương người, biết cứu giúp nhau trong lúc ngheo đói, neo đơn, gặp rủi ro, hoạn nạn, biết xây dựng giang sơn xã tắc, biết chăm lo xây dựng tín ngưỡng của mình, biết tha thứ cho nhau, luôn mong sự bình an, hạnh phúc chung, sống ưa đạo đức tâm linh, chưảng màng chính trị, chính thể
Những đặc điểm vốn có trên đây so với người dân nơi khác không thể có đầy đủ như vậy được, đây là hạnh kiểm, nết na, vốn quí của dân làng An Bằng nếu không nhờ phước đức của giang sơn, tổ tiên ông bà để lại thì không thể có được như vậy. Đặc biệt, những ngày lễ lớn như Lễ Phật Đản, Lễ Vu Lan tất cả phật tử đều nghĩ công việc đồng án, ở nhà tham dự và rước Phật quanh làng trong ngày đại lễ như trước đây. (Trước năm 1975).
Nhờ có căn cơ từ nhiều đời trước, nhân dân làng An Bằng được tiếp nhận ánh sáng của đạo Phật rất sớm nên dân làng đều lấy giáo lý Phật Đà làm kim chỉ Nam trong việc tu học, và áp dụng vào cuộc sống đời thường, làm ăn lương thiện rồi từ đó mà tiến dần lên Nhân dân trong làng đa số theo đạo Phật, Nho giáo, Khổng giáo và thờ cúng ông bà. Từ xưa cho đến nay thế hệ nào cũng hơn 75% người dân trong làng đều theo đạo Phật, người dân theo đạo thiên Chúa thì ít hơn, tuy nhiên cả dân làng đều đoàn kết xây dựng quê hương, thương yêu giúp đở lẫn nhau, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, đây là cái vốn quí hiếm có, của các bậc tiền nhân để lại cho dân làng và đạo hửu Phật tử An Bằng từ xưa đến nay. Nhờ phát huy truyền thống của tổ tiên, cha anh ngày trước.
Ánh đạo vàng đã sớm rọi khắp trên quê hương vùng biển, đến năm 1956, mới có danh từ Phổ Phật Học An Bằng, rồi đến Khuôn Hội Phật Giáo An Bằng, GĐPT An Bằng.
Từ ngày Khuôn Hội Phật Giáo An Bằng và Gia Đình Phật Tử An Bằng thành lập cho đến nay quí đạo hửu, quí bác, quí anh chị những người đi trước đã trãi qua nhiều công lao khó nhọc, mà thành tựu được những phật sự như ngày hôm nay và cũng phải trãi qua rất nhiều gian khổ, mọi thăng trầm, thịnh suy của đạo pháp, mọi biến đổi về lịch sử, thời cuộc, kinh tế, chính trị, văn hóa v.v…
Quí bác vẫn không nao núng, sờn lòng cụ thể: như những năm 1948 – 1954 các đạo hữu các bác đều bị bắt tù đày, tra tấn tại xã Vinh Thanh (đồn Hà thanh thời Pháp thuộc) bắt buộc quí bác bỏ đạo Phật.
(Xin phép được đơn cử một vài quí cụ đã bị bắt tra tấn tại Vinh Thanh, cố cụ Đào Nguyên Phong, cố cụ Đặng Túy. Cụ bà Văn Thị Giác, và một số quí bác quí cụ trong Khuôn hội Phật giáo An bằng.. v/v…)
Đến thời pháp nạn vào năm 1963. Chế độ Ngô Đình Diệm ra lệnh triệt hạ cờ Phật giáo từ Trung Ương Giáo hội đến địa phương các Khuôn giáo hội, phải bị một cuộc đàn áp tôn giáo công khai chưa từng có trong lịch sử đất nước của Phật giáo nói chung, và nói riêng Phật giáo An Bằng đã gánh chịu không ít, một số quí bác, quí anh chị Huynh trưởng, thiếu nữ đã bị bắt tra tấn nhục hình, cưỡng bức tàn nhẫn tại đình làng An Bằng, và làng Hà Thanh xã Vinh Thanh. Cụ thể xin đơn cử một số quí bác, quí anh chị như: Mệ Giác tức là mẹ của bác Lê Bính, bác Lê Phát bị tra tấn đổ nước xà phòng vào mặt miệng để vu khống buộc khai báo, anh Nguyễn Đồ, chị Lê Thị Ngợi, chị Lê Thị Ngại, chị Lê Thị Lữ. anh Phạm Nhật, chi Văn Thị Ngợi, chị Đào Thị Ba và số chị em thiếu nữ v.v…
Đến năm 1966 chế độ Nguyễn Văn Thiệu cũng thẳng tay đàn áp Phật giáo, lần nầy không kém gì năm 1963. Toàn thể Phật giáo đồ phải thỉnh Phật xuống đường để đấu tranh đòi bình đẳng tôn giáo. Khuôn Hội Phật Giáo An Bằng cũng gánh chịu thêm một lần gian nan, khổ nhục nữa vì thực thi hưởng ứng lời kêu gọi của giáo hội mục đích là: Quyết tâm bảo vệ đạo pháp, tín ngưỡng của mình.
Quí bác, quí anh chị em đã thể hiện tấm gương các thánh tử đạo tại tỉnh nhà Thừa Thiên-Huế như: Quách Trị Trang, Nguyễn Đại Thức, Đào Thị Yến Phi, Nguyễn Thị Tuyết, Đặng Văn Công, Phan Duy Trinh, Nguyễn Thị Vân và các Thánh tử đạo nói chung.
Quí bác quí anh chị vẫn không sờn lòng đổi dạ, nếu có một lần bị chèn ép, bị bắt bớ, tù đày thì càng thêm vững chắc niềm tin, chánh tín Tam Bảo.
Phật giáo An Bằng cũng là thành phần của dân tộc sống trong lòng dân tộc, đã từng chia sẻ nỗi đau thương của dân tộc trong những ngày dài đen tối, chưa xóa tang màn u ám. thì chiến dịch Bình minh năm 1972 lại bắt đầu, chiến dịch nầy nhằm triệt tiêu Phật giáo và những thành phần bảo vệ Đạo pháp và Dân tộc, đã từng trãi qua 4000 năm văn hiến nước nhà. Các bác sau đây đã bị bắt trong chiến dịch Bình minh như bác Đại, bác Liễn. Và một số anh chị em Huynh trưởng và đoàn sinh đã bị bắt trong chiến dịch Phượng hoàng, cũng gần kề trong thời gian đó.
Đến cuối năm 1972 Phật lịch 2511, tình hình địa phương có phần ổn định. Kể từ đây quí bác đạo hửu và nhất là GĐPT đoàn thể Áo lam không thể, không cảm nghe, mống lên trong lòng mầm non và nhựa sống đang rạo rực để biến thành hoa lá cho một ngày xuân của quê
hương nói riêng và đất nước nói chung, cũng không thể không nghe vang vọng trong tâm hồn bản hòa tấu của những ngày:
“Đại hội của Khuôn hội Phật giáo An Bằng vào ngày 8 tháng 12 năm Nhâm dần. Phật lịch 2511 (1972). Từ đây Ban Đại Diện Khuôn hội kế tiếp, khi mãn nhiệm kỳ, lấy ngày tháng nầy để tổ chức Đại hội, dù cho lịch sử tình thế có đổi thay cũng tổ chức Đại hội theo tinh thần mà quí cụ, quí bác, quí anh chị tiền nhiệm ngày xưa đã cân nhắc rất kỷ càng.”

Đại Hội Bầu Ban Đại Diện Khuôn Giáo Hội Nhiệm Kỳ 1972-1975. Đại hội nầy Bác Nguyên Hạnh ĐàoTầng được bầu làm chánh Đại diện thầy
Từ Phong hồi đó được mời dự tri, đạo hửu Nguyên Phương
dẫn chương trình

Với những kỳ Đại hội như thế nầy mục đích: Tổng kết công tác phật sự trong nhiệm kỳ qua, rút ưu khuyết điểm, thuyết trình Nội quy, Nội lệ để Đại hội bổ sung sửa đổi cho phù hợp từng giai đoạn, từng thời kỳ, bàn phương hướng xây dựng Phật sự của các năm tiếp theo, bầu Ban Đại Diện và bổ sung thành viên của nhiệm kỳ kế tiếp, mãi đến nay Khuôn hội cứ duy trì là Đại hội của Khuôn hội Phật giáo An Bằng năm nào cũng nhằm vào đầu tháng 12 Âm lịch.

Một cuộc đại hội bầu ban đại diện Khuôn Hội Phật Giáo An Bằng
nhiệm 1972-1975

Hình ảnh Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Thiện Siêu và Hòa Thượng Thích Hải Ấn chụp hình lưu niệm với quý bác trong Khuôn Hội
vào năm 1977. Trước chùa An Bằng.

Về Tu học, Sinh hoạt, Xây dựng Chùa tháp và Cơ sở vật chất của Khuôn Hội Phật Giáo An Bằng Xưa & Nay trãi qua 6 giai đoạn.
Ngôi chùa tại làng An Bằng đầu tiên đã xây dựng vào những năm 1742. Do dựa theo Bức Hoành Phi của chùa có sẵn tên chữ là: Chùa An Đức “An Đức Tự ”. Mà dân làng thường gọi là Chùa làng. Chùa tọa lạc tại xứ lầm chùa thôn An Bường, Phủ Thuận Hóa. Nay là thôn An Bằng, Xã Vinh An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên-Huế, mặt hướng về Đông nam, trước có con khe nước trong mát, róc rách chảy bốn mùa không khô cạn, cổ nhân chúng ta thường gọi là khe Bùi cạnh mép con khe là am Bà chúa. Am này mang nét đặc trưng của nền văn hóa cổ xưa, qua quá trình mưa nắng đã làm phai nét kiến trúc thời cổ, hiện nay làng đã được trùng tu và bảo quản để thờ phượng cạnh một bên Am xưa nầy, mặc dù xuống cấp nhưng vẫn giữ nguyên nét cổ kính.(xem ảnh)

Chùa Làng và Giếng Chùa Xưa được Phục chế lại vao năm 2004

Giếng Bộn Ở Phường Dưới Làng An Bằng
1- GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1740-1742 ĐẾN NĂM 1955
Ngôi chùa An Đức Tự (Chùa Làng)

Chùa Làng được Xây dựng vào những năm 1742 Đời Vua Lê Hiến Tông (1740 – 1786) và Chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738 – 1765). Chùa An Đức Tự tại làng An Bằng được xây dựng cùng với thời với chùa Thánh Duyên tại núi Thánh Duyên (gọi là hòn núi Am).
Căn cứ vào bức Hoành Phi làm bằng gỗ quí mang 3 chữ “ An Đức Tự ” Cảnh Hưng năm thứ II.

Am Bà Chúa Cách Chùa Làng 80 mét

Quí vị tiền bối xưa trong làng kể lại bức hoành nầy do một Tổng Đô đốc có tên là Lê Đức Điểu cúng dường trong một dịp trùng tu chùa, theo nghiên cứu các sử liệu tất cả các chùa Làng được xây dựng đại đa số dưới thời triều Chúa Nguyễn. “Chúa Nguyễn Phúc Chu”, theo lịch sử Phật giáo đàng trong của ông Nguyễn Hiền Đức thì (chúa Minh Vương) Nguyễn Phúc Châu 1691- 1725 (còn gọi Chu), “Hiện Thiên Trung Đạo Nhân hay cư sĩ Hưng Long, sanh giờ mùi ngày 18 tháng 5 năm Ất mão 1675 là con trưởng của Chúa Phúc Tăng mẹ Ngài họ Tống”. Ở đây chúng ta bắt gặp Ấp An Đôi vì kỵ tên húy của mẹ Ngài nên Ấp An Đôi đổi tên thành ấp An Bằng như hiện nay.
Ngôi Chùa Làng còn gọi là chùa Ông Từ Me, vì ngày xưa làng mời ông Từ Me (tức Văn Me) làm Từ để bảo quản và hương khói trong Chùa, các Đền, Đài, Lăng, Am, Miếu, Vủ.
Chùa được cấp 3 sào đất Tam Bảo Quan Thổ hiện nay vẫn còn di tích đất và các giấy tờ liên quan. Như vậy chúng ta được biết chùa do công quĩ của Chúa Nguyễn xây dựng (Chùa Quốc tự), trong thời điểm nầy chưa nhắc đến đình làng. Mãi đến năm 1813, tức 71 năm sau mới xây dựng đình làng lần đầu tiên bằng vật liệu tranh tre. Trên một lô đất khác, cách Đình làng hiện nay khoản 200 mét
Đến năm 1947. Có quí cụ Đào Nguyên Phong, cụ Đặng Túy liên lạc với Tỉnh hội khởi xướng Phật Phổ Học An Bằng lúc này chỉ chừng hơn 20 đạo hữu hội viên, những năm nầy lễ lượt như Phật Đản, Lễ Vu Lan đều tổ chức tại Chùa làng.
Vào lúc nầy Phật giáo như là kẻ đối nghịch với thực dân Pháp quí cụ bị chính quyền thực dân địa phương bắt lên đồn Hà Thanh giam cầm, tra tấn lý do gán cho quý cụ quy tụ họp Việt minh. thời gian nầy Cụ Đào Nguyên Phong phải lên Huế để yên thân, Cụ Đặng Túy do bị tra tấn về nhà lâm bệnh rồi chết, quí cụ còn lại vẫn chăm lo duy trì Hội và tiếp tục phật sự. Đến năm 1956, ngôi chùa bị cát vùi lấp dần, toàn bộ vật thờ cúng còn lại Làng giao cho Khuôn hội Phật giáo An Bằng là: Ba (3) vị Quan Thánh để phụng tự tại chùa Khuôn, hiện nay chùa làng xưa đã khai quật và phục chế lại vào năm 2004, nhưng vị trí không đúng phải cách từ 7 đến 10 mét, hiện nay vẫn còn lại di tích bộ móng, vách tường của chùa làng. Tuy đã phục chế lại ngôi chùa. Nhưng đường nét cổ kính và diện tích xây dựng không bằng chùa làng xưa trước đây được.

Giếng Tau cách Am Bà Chúa 100 mét
2- GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1956 ĐẾN NĂM 1962

Khuôn Tịnh Độ được thành lập vào năm 1956. Và đây là Ban Trị Sự Khuôn Hộ Tịnh Độ An Bằng đầu tiên năm 1956.
Khuôn trưởng: Cụ Trương Tuy
Khuôn Phó : Cụ Lê Tá
Thư Ký : Cụ Văn Công Hòe
Tài Chánh : Cụ Đào Tơ
Văn Hóa : Cụ Lê Côn
Từ Thiện : Cụ Lê Phát (thân sinh của bác Lê Bính)
Ban Trị Sự Khuôn Tịnh Độ và đạo hữu chọn nhà cụ Lê Tá làm nơi tu học, tụng kinh niệm Phật, thành lập các ban ngành như: Ban nghi lễ, Ban văn hóa, Ban Từ thiện, Ban Huynh trưởng GĐPT, mặc dù nằm trong thời kỳ khó khăn nhưng sự tu học, sinh hoạt rất thuần túy, hội viên nhập hội càng ngày càng đông đảo.
Từ năm 1957 – 1958
Năm 1958 là nhiệm kỳ Ban Trị Sự Khuôn Tịnh Độ lần thứ 2. và sau đây là Ban Trị Sự.
Khuôn Trưởng : Cụ Lê Tá
Khuôn Phó : Cụ Văn Huấn
Khuôn Phó : Cụ Nguyễn Khoanh
Thư Ký : Cụ Đặng Tín
Tài Chánh : Cụ Trương Đại.
Văn Hóa : Cụ Nguyễn Dung
Từ Thiện : Cụ Huỳnh Chớ
Ban Nghi Lễ : Bác Lê Bính, Lê Vẽ, Hồ Đành.
Được biết quyển kinh Nghi Thức Tụng Niệm tại chùa An Bằng để làm lễ. Cầu An, Cầu Siêu, Sàm Hối, Tịnh Độ là do Bác Lê Bính, thỉnh từ chùa Mỹ Lợi lên vào ngày 8 tháng 2 năm Bính Thân ( 1956) trong những năm đầu tiên mới thành lập Khuôn Hội Phật Hộc đã có quyển kinh nầy.
Song song với sự phát triển Khuôn hội và Gia Đình Phật Tử An Bằng, đến năm 1956 năm 1957 đã xây dựng một ngôi Chùa cạnh đình làng đây là ngôi chùa thứ 2 về mặt pháp lý có giấy tờ của chính quyền lúc bấy giờ cụ Lê Khinh đã ký cấp đất cho Khuôn hội An Bằng để xây dựng hiện nay vẫn còn lưu giữ.
Ngôi chùa thứ II nầy do Đại Lão Hòa Thượng Thích Thiện Siêu trực tiếp làm lễ Khai sơn, động thổ và đặt đá. Chùa được xây dựng lên, thì một lễ quy y đầu tiên tại ngôi chùa nầy vị Bổn Sư truyền giới lúc bấy giờ là cố Đại lão Hòa Thượng Thích Thiện Siêu. Kể từ đây khuôn hội và GĐPT phát triển rất mạnh, đạo hữu theo Phật giáo ở thời kỳ này đã chiếm lên tới 75% dân số của làng An Bằng.
Từ năm 1958 – 1962
Phật giáo An Bằng đang trên đà phát triển, quí Cụ, qúi bác sau đây đã được bầu giữ các chức vụ trong các nhiệm kỳ này:
Khuôn Trưởng : Cụ Văn Công Huấn
Khuôn Phó : Cụ Văn Công Cánh
Thư Ký : Cụ Đào Biên
Tài Chánh : Cụ Lê Ái
Ban Văn¬ Hóa
Bác Lê Bính
Bác Lê Kiệm
Cụ Lê Mai
Ban Nghi Lễ:
Cụ Hồ Đành – Cụ Huỳnh Kiền
Cụ Lê Vẽ – Cụ Nguyễn Dẫn.
Cụ Lê Dược – Bác Văn Con
Bác Văn Công Ký
Tài Chánh:
Cụ Đào Tơ – Cụ Lê Thu
Cụ Trương Đại

Từ Thiện:

Cụ Đặng Tín, Cụ Lê Ái – Cụ Nguyễn Cà – Cụ Trương Độ Cụ Nguyễn Hãi – Cụ Nguyễn Thía.
Bộ bàn đưa đám phát suất từ đây và tiếp nôi cho đến ngày hôm nay.
Nhiệm kỳ Ban Đại Diện Khuôn Hội Phật Giáo kế tiếp Bác Văn Công Huấn Là:

Khuôn Trưởng : Cụ Văn Công Cánh
Khuôn Phó : Cụ Hồ Khoanh
Khuôn Phó : Cụ Nguyễn Đẫu
Tài Chánh : Cụ Lê Thu
Văn Hóa : Cụ Trương Đại
Nghi Lễ : Cụ Văn Bính
Từ Thiện : Cụ Huỳnh Một

Nhiệm kỳ Ban Đại Diện Khuôn Hội Phật Giáo An Bằng, kế tiếp Bác Văn Công Cánh Là:

Khuôn Trưởng : Cụ Văn Tấn Oanh
Khuôn Phó : Cụ Nguyễn Đẫu
Thư Ký : Bác Lê Phát.
Các thành viên khác được lưu nhiệm.

3 – GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1963 ĐẾN 1968

Năm 1963 – 1966. Dưới chế độ Ngô Đình Diệm một chế độ kỳ thị tôn giáo, chính quyền nầy đã đàn áp Phật giáo và tiếp theo đó là chế độ Nguyễn Văn Thiệu, một chế độ bầu cử độc diễn cũng thẳng tay đàn áp Phật giáo Việt Nam nói chung, Phật giáo An Bằng, Phật tử An bằng nói riêng đã gánh chịu những nỗi thống khổ. Đây là lần thứ 2 chính sách đàn áp tôn giáo cực kỳ nghiêm ngặt chưa từng có trong lịch sử Việt Nam, Phật giáo nước nhà đã chịu đựng và tổn thất biết bao xương máu, mồ hôi và nước mắt, để bảo tồn đạo pháp và dân tộc, trong đó có phật tử An Bằng.
“Đến đây chúng ta thành kính tưởng niệm, niệm ân quý vị tiền bối hữu công, tiền hậu công đức, đã có công đóng góp nhân lực, trí lực, tài lực, vật lực xây dưng và phát triển Phật Giáo An Bằng. Có danh sách kể từ năm 1945 đến ngày hôm nay 2009.”
Những tưởng như thế mà tiến dần từng bước trên con đường tu học, nhưng than ôi !
Năm 1968 (Mậu Thân) chiến tranh đã tàn phá trên quê hương An Bằng rất khốc liệt, vào ngày 13 tháng 6 năm này, hàng chục lượt máy bay thả (dội) bom xuống làng An Bằng, làm 318 ngôi nhà bị sụp đổ chỉ trong mấy tiếng đồng hồ, sau đó trong ngày, một số người dân lương thiện đã tử nạn trong lượt thả bom nầy. Một số quí bác, quí anh em bị bắt, rồi cũng mất tích luôn.
Ngôi chùa Khuôn hội cũng bị sụp đổ, chỉ độc nhất một ngôi tượng Phật và ngôi Đình làng còn nguyên vẹn.
Trước cảnh đau thương mất mát, cảnh nhà tan cửa nát trên quê hương, dân làng và đạo hữu đều di tản khắp nơi, tìm chỗ tạm trú để lánh thân bằng mọi hình thức.
Anh em Huynh trưởng, đoàn sinh, và thanh niên trong làng đa số lên đường làm nhiệm vụ công dân, một số chị em phải đi nơi khác kiếm kế sinh nhai.
Quí bác quí anh chị em ở lại quê nhà, bằng tinh thần lãnh đạo và hướng dẫn Phật tử An Bằng tu học, quyết tâm vận động xây dựng lại một ngôi chùa khác nữa, đó là hoài bảo lớn luôn luôn canh cánh bên lòng, trong giai đoạn khó khăn mọi mặt quí bác. Nguyên hạnh Đào Tầng vẫn là Khuôn trưởng, Nguyên vĩnh Huỳnh Chớ Khuôn phó, Trương Đại Thư Ký Kiêm Gia trưởng, quí anh Huynh trưỏng Văn Tiến Nhị, Đào Hoài, Hoàng Vinh Quang, Nguyễn Tông, Đào Duy Ý, Văn Nhân Đạo và quí chị Huỳnh Thị Hoa, Lê Thị Ngại, Lê Thị Hạnh và một số quí anh chị cựu Huynh trưởng và đoàn sinh, từng bước qui tụ đạo hữu và đoàn sinh GĐPT tiếp tục tu học, sinh hoạt, tiếp nối sự nghiệp cho đến hôm nay.

4 – GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1969 ĐẾN 1974
Được tạm ổn định trên mảnh đất mới quy tụ nầy trong lúc Khuôn hội chưa xây dựng được ngôi chùa thì nhiều gia đình đạo hữu phát tâm thờ Phật còn lại trong nhà làm nơi tụng kinh cầu nguyện của đạo hửu, tu học và sinh hoạt của GĐPT.
Để thuận tiện việc giao thông đi lại của đạo hữu và các em GĐPT, nên Ban Đại Diện Khuôn Hội đã chọn nhà bác Cố đạo hữu Nguyễn Tửa, làm nơi lễ Phật và tiếp tục sinh hoạt phật sự từ cuối năm 1969. Bác Tửa lòng rất hoan hĩ.
Đến tháng 10 năm 1971. Quý bác trong Ban Đại Diện Khuôn Hội, quí bác nguyên khuôn trưởng, gia trưởng, quí anh chị huynh trưởng, niên trưởng, toàn thể đạo hữu và đoàn sinh GĐPT tích cực vận động bằng mọi nỗ lực, tinh thần lẫn vật chất, cho nên đầu năm 1972 một ngôi chùa nữa được dựng lên, đây là ngôi chùa thứ 2 tương đối hơn lần trước, trên khu đất mới ở Nam Triều do Ban Đại Diện Khuôn mua của Cụ Văn Uýnh và một số cụ đạo hữu cúng dường.
(Tất nhiên là ngôi chùa hiện nay 2009 và toàn bộ cơ sở vật chất của Phật giáo An Bằng cũng trên phần đất nầy mà phát triển lên.)

Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Thiện Siêu gặp quý bác Phật tử trong Khuôn Hội Phật Giáo An Bằng vào năm 1977 (Nguyên Khuôn trưởng ĐàoTầng, Bác Phó khuôn trưởng Huỳnh Chớ, đạo hửu Huỳnh Hòe,
Hồ thị Viễn, Hồ thị Vện(tức Viện) và các đạo hửu có thiện duyên
nghe Ngài thuyết pháp)

Mặc dù trong những năm 1971 – 1973. Chiến tranh trên toàn khắp đất nước nói chung, nhìn lại quê hương An Bằng có phần ổn định về an ninh, Khuôn hội và GĐPT tu học và sinh hoạt phát triển rất mạnh, Mặt khác, là quí anh huynh trưởng Đào Hoài, đã liên hệ với tỉnh Giáo hội xin cử Thầy Từ Phong về để mở trường Bồ Đề dạy học; mời quí Thầy, Cô về dạy ở trong địa phương, cũng có quý anh chị Huynh trưởng đứng ra đãm trách các lớp học cụ thể Anh Văn Tiến Nhị, Nguyễn Tông, Hoàng Vinh Quang, Đào Duy Ý, những học sinh trường Bồ đề An Bằng, hiện nay các em đều thành đạt trên mọi lĩnh vực, từ trong nước đến Hải ngoại, mở Ký Nhi Viện để nuôi dạy trẻ em, mở Hội từ thiện để cấp phát thuốc cho bà con dân làng, miễn, giảm học phí cho học sinh nghèo, cứu tế tiền, gạo lúc khó khăn hoạn nạn, chính cũng nhờ vậy mà đời sống dân làng trong những năm nầy, giảm bớt khó khăn về mọi mặt.

Bác Chánh đại diện Đào Tầng dẫn đầu đạo hữu và GĐPT từ Lễ đài chính đang trên đường về chùa An Bằng vào dịp lễ Phật Đản 1972

Do vậy Phật giáo An Bằng qua một thời kỳ hưng thịnh vào những năm 1972 đến 1974, thời gian nầy quí bác, quí anh chị một số phải đi làm ăn xa, và thi hành công vụ, nhưng đều hướng về quê hương, để động viên tinh thần, vật chất xây dựng Phật sự quê nhà, quí anh chị đã gởi hiện kim về góp phần xây dựng chùa và cột cờ trước chánh điện sân chùa.
MỘT SỐ HÌNH ẢNH SINH HOẠT VÀ TU HỌC
CỦA GĐPT AN BẰNG TỪ NĂM 1968 – 1975

Đoàn Oanh Vũ Nam GĐPT An Bằng năm 1973

GĐPT An Bằng sau giờ sinh hoạt trước ngôi chùa thứ ba
nhân mùa Phật Đản PL: 2518 (1974)

Đoàn Thiếu Nữ GĐPT An Bằng 1973

Đoàn Thiếu Niên GĐPT An Bằng năm 1973

Ban Huynh Trưởng GĐPT An Bằng năm 1971 – 1973

Đoàn Oanh Vũ Nữ GĐPT An Bằng năm 1973

Buổi ban sơ vào năm 1964 hai em oanh vũ làm lễ lên đoàn tại ngôi chùa cũ bên cạnh đình làng từ trái sang phải em Văn Tiến Nhị và em Văn Hưng

Huynh trưởng Nguyên Ngộ Đào Hoài và 3 em Oanh vũ là Hoàng Ngọc Quế, Văn công Chò, Văn Công Cơ thuộc GĐPT/AB. 1972.
5 – GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1975 – 1995

Những tháng ngày của đầu mùa Xuân năm 1975 quê hương đã thật sự chấm dứt cuộc chiến tranh, hòa bình lập lại, đất nước được thống nhất, giang sơn thu về một mối, Nam Bắc cùng chung một nhà.
Nhưng hậu quả của cuộc chiến tranh dai dẵng để lại không biết bao nhiêu gian khổ, đau thương mất mát, quý bác, anh chị em đều ly tán, làm ăn xa quê huơng, cuộc sống của người dân nói chung, và dân An Bằng nói riêng rất cơ cực, thời kỳ 1979 – 1980 dân làng phải ăn xương rồng, củ éo, sắn, bo bo, để sống, chưa đủ phải kéo nhau vào phía Nam bằng mọi phương tiện đường biển, đường sông, đường bộ để cầu kiếm lương thực nuôi sống gia đình.
Đến năm 1981, bà con dân làng một số đi kinh tế mới, trên nhiều địa phương, nhiều tỉnh thành trong cả nước, đa số là vào Nam, một số tìm cách đi ra nước ngoài, để làm ăn sinh sống và đây là cao trào dân làng An bằng đi ra nước ngoài bằng phương tiện ghe thuyền đi đường biển và an toàn vượt biển tìm kế sinh nhai.
Những bác, những anh chị em còn lại cùng với địa phương từng bước khắc phục mọi khó khăn, xây dựng, ổn định đời sống gia đình, xã hội, quy tụ quí đạo hửu của Khuôn hội và huynh trưởng, đoàn sinh GĐPT, để củng cố, mở mang việc tu học và xây dụng Phật sự càng ngày càng mạnh lên, nhờ nền kinh tế nước nhà qua thời mở cửa, chủ trương đổi mới đang trên đà phát triển.
Ở quê hương có bà con, con em đi ra nước ngoài làm ăn sinh sống dành dụm để gởi tiền, hàng về giúp đỡ gia đình, theo truyền thống thương yêu đùm bọc lẫn nhau, lá lành đùm lá rách, vốn có từ muôn đời tổ tiên ông bà để lại, nên kinh tế dân làng qua thời kỳ những năm 1984 đến nay, đã vượt trội hơn một số địa phương khác trong khu vực, dấu hiệu thật đáng mừng.
Đến năm 1989 ngôi chùa thứ 3 được đại trùng tu chưa hoàn chỉnh: Thì vào mùa Hạ năm 1990 Bác Khuôn trưởng Nguyên Hạnh Đào Tầng, sau 1o năm liên tiếp, đãm trách chức vụ Khuôn trưởng do tuổi già sức yếu Bác phải ra đi về bên kia thế giới.

Ban Đại Diện Khuôn Hội Phật Giáo thời gian
nầy gồm có:
Khuôn Trưởng : Cụ Đào Tầng
Khuôn Phó : Cụ Huỳnh Chớ
Thư Ký : Cụ Trương Đại
Thư Ký : Bác Phạm Văn Vinh
Tài Chánh : Cụ Văn Chước.
Cũng trong thời gian nầy Ban Đại Diện đã nhật tu lại hồ sơ sổ sách, phổ hệ của Khuôn, lập Gia phả của GĐPT An Bằng, kiện toàn các ban ngành của Khuôn hội, cải cách làm việc theo lề lối hành chánh. Lại có một Ban Huynh trưởng được đào tạo kỷ cương qua các khóa huấn luyện huynh trưởng cọng tác với Ban Đại Diện Khuôn Hội để điều hành Phật sự là:
Hoàng Vinh Quang, Văn Tiến Nhị, Nguyễn Tông, Đào Hoài, Đào Duy Ý, Văn Nhân Đạo, Phan Văn Khá. Và các chị Hoàng Thị Hoa, Lê Thị Ngại, Lê Thị Hạnh v.v…
Sau hơn 20 năm làm Khuôn trưởng, theo luật vô thường bác ĐàoTầng (*2) đã ra đi để lại trách nhiệm nặng nề cho Khuôn hội, nên Ban Đại Diện Khuôn hội, họp đại hội bầu Bác Trương Phán làm Khuôn trưởng để ổn định tổ chức Khuôn hội. Ban Đại Diện nhiệm kỳ nầy gồm có:

Khuôn Trưởng : Cụ Trương Phán
Khuôn Phó : Bác Huỳnh Liễn
Thư Ký : Bác Đào Tuyên
Thư Ký : Bác Nguyễn Danh.
Tài Chánh : Bác Phạm Phổ
Nghi Lễ : Bác Trương Mốt

Tiếp theo là nhiệm kỳ của bác Trương Phán là Bác Huỳnh Chớ được bầu làm Khuôn trưởng. Ban Đại Diện nhiệm kỳ nầy gồm có:
Khuôn Trưởng : Cụ Huỳnh Chớ
Khuôn Phó : Cụ Văn Công Lý
Khuôn Phó : Nguyễn Thời
Thư Ký : Bác Văn Tiến Nhị
Thư Ký : Bác Lê Tây
Tài Chánh : Bác Hồ Thây
Nghi Lễ : Bác Trương Mốt

(Trước khi bác Chớ làm Khuôn trưởng bác đã dự các chức vụ nặng nề không mệt mõi trong Khuôn hội, từ ban viên đến Khuôn Phó rồi Khuôn trưởng, bác đã từng chịu mọi khó khăn, gian khổ qua các thời đại để xây dựng và phát triển phật sự tại quê nhà).
Sau khi bác Huỳnh Chớ mãn nhiệm kỳ. Do bối cảnh của Khuôn Giáo Hội có phần khó khăn về nhân sự, và việc Phật sự rất cần thiết nên Khuôn hội mời bác Trương Phán đãm trách Khuôn trưởng lại thêm một nhiệm kỳ nữa. Và Ban Đại Diện nhiệm nầy gồm có:
Khuôn Trưởng : Cụ Trương Phán
Khuôn Phó : Cụ Nguyễn Nguyện
Thư Ký : Bác Lê Tây
Thư Ký : Bác Văn Tiến Nhị
Tài Chánh : Bác Hồ Thây
Nghi Lễ : Bác Lê Phát
Từ Thiện : Bác Văn Tân
Bác Trương Phán phải đứng ra đãm nhiệm để tiếp tục xây dựng phật sự, đại trùng tu ngôi chùa lần thứ 3. Sau khi xây dựng ngôi chùa xong do tuổi già sức yếu bác Trương Phán qua đời,
Nhiệm kỳ kế tiếp bác Trương Phán là bác Văn Dinh được bầu làm Khuôn trưỏng. Ban Đại Diện nhiệm kỳ nầy gồm có:

Khuôn Trưởng : Cụ Văn Dinh
Khuôn phó : Cụ Trương Lang
Thư Ký : Bác Nguyễn Dũng Chinh
Tài Chánh : Bác Hoàng Anh
Nghi Lễ : Bác Văn Năm
Từ Thiện : Bác Lê Bòn
Ban Đại Diện Khuôn Hội nhiệm kỳ nầy đứng ra tổ chức lễ Khánh Thành, Trai đàn Chẩn tế được tổ chức vào năm Quí dậu 1993.
Tiếp theo nhiệm kỳ của bác Văn Dinh là bác Lê Phát được bầu làm Khuôn trưởng nhiệm kỳ nầy
gồm có:
Khuôn Trưởng : Bác Lê Phát
Khuôn Phó : Bác Lê Tiếp
Khuôn Phó : Bác Phạm Lồi
Thư Ký : Bác Nguyễn Quang Thành
Tài Chánh : Bác Hồ Luận
Tài Chánh : Bác Lê Nguyên

Nhiệm kỳ nầy tiếp tục Phật sự, là vào năm 1995 xây dựng tượng đài Quan Thế Âm Bồ Tát tại khuôn viên chùa, xây dựng cổng Tam quan chùa, đồng thời xây dựng nhà thờ Hậu linh rất quy mô, đạo hữu từ trong nước đến hải ngoại ai ai cũng đồng tình, ủng hộ, vui mừng, phấn khởi.

Đại Hùng Chung tại khuôn viên chùa An Bằng

Trưởng lão Hòa Thượng Thích Khả Tấn, Chùa Giác Lâm, quang lâm
Chứng Minh Lễ Khánh Thành Đại Trùng Tu chùa An Bằng 2005

6 – GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2005

Nhiệm kỳ tiếp theo của bác Lê Phát là Bác Nguyên Minh Trương Công Châu được bầu làm Khuôn trưởng và Ban Đại Diện Khuôn Hội nhiệm kỳ nầy gồm có:

Bác Trương Công Châu Khuôn trưởng phát biểu tại buổi lễ cầu an
ở chua An bằng đầu năm Đinh hợi Phật lịch 2551(2007)

Khuôn Trưởng:
Bác Trương Công Châu
Các vị Khuôn Phó:
Bác Hoàng Anh
Bác Lê Vân
Bác Văn Diệm
Bác Nguyễn Dũng Chinh
Bác Hoàng Tân
Các vị Thư Ký
Bác Nguyễn Anh Dũng
Bác Văn Tấn Năm
Bác Lê Lào
Bác Lê Dũng

Tài Chánh
Bác Hồ Luận
Bác Lê Nguyên
Bác Nguyễn Tôn
Bác Hồ Hưu

Trưởng ban Văn Hóa
Bác Văn Tiến Nhị

Các vị Trưởng ban Nghi Lễ
Bác Trương Mốt
Bác Lê Vân
Bác Văn Pháp
Bác Nguyễn Cẩn
Bác Hoàng Tân

Các vị Trưởng Ban Từ Thiện
Bác Trương Phúc
Bác Lê Giác
Để biết rằng vì sao mà Bác Trương Công Châu làm Khuôn Trưởng, có nhiều Khuôn Phó và nhiều Thư ký và các ban ngành cũng nhiều như vậy.
Bởi vì bác Châu làm Khuôn trưởng suốt 9 năm trong 3 nhiệm kỳ liên tiếp từ năm 1996 cho đến 2005. Do công tác Phật sự quan trọng nên mỗi lần đại hội. Đại hội yêu cầu bác đảm nhiệm để điều hành các công việc như: Đại trùng tu làm mới Ngôi chùa, tổ chức củng cố nhân sự, xây dựng các ban ngành đoàn thể của Khuôn hội và đề nghị Ban huynh trưởng GĐPT An Bằng nhanh chóng thành lập Ngành Thanh GĐPT An Bằng v.v… Còn quí bác thì hết một nhiệm kỳ rồi nghỉ, hoặc chưa mãn nhiệm kỳ nhưng nặng việc gia đình và hoàn cảnh xin nghỉ.…

Chùa An Bằng hiện nay 2008

Từ Năm 2006 – 2009
Sau 9 năm tức 3 nhiệm kỳ của Bác Châu. Đến cuối năm 2006
Đại hội Khuôn hội bầu bác Nguyên Nhật Hoàng Tân làm Khuôn trưởng. Ban Đại Diện nhiệm kỳ nầy gồm có:
Khuôn Trưởng : Bác Hoàng Tân
Khuôn Phó : Bác Nguyễn Cẩn
Khuôn Phó : Bác Hồ Bính
Thư Ký : Bác Văn Minh Ngôn
Thư Ký : Bác Trương Đoàn
Thư Ký : Bác Lê Châu
Tài Chánh : Bác Lê Đương.
Văn Hóa : Bác Nguyễn Anh Tuấn
Trưởng Nghi Lễ Bác Hồ Song
T. Ban Nghi Lễ : Bác Lê Phạn
T. Ban Nghi Lễ : Bác Văn Nhơn
Từ Thiện : Bác Lê Chiến
Tài chính : Bác Văn Chiểu
Đến đây Khuôn hội cũng ghi nhận công đức bác Văn công Huy (tức Chính) đã nhận lãnh trách nhiệm thủ quỹ của hai công trình lớn đó là xây dựng Ngôi Chùa Mới hiện nay và Tượng Đài Quan Thế Âm Bồ Tát tại Bãi biển làng An Bằng.
Nhiệm kỳ nầy kế thừa tiếp tục Phật sự kể từ năm 2006 cho đến hôm nay.
Quí cụ, quí bác đã và đang phục vụ trong Khuôn Hội Phật Giáo An Bằng
Từ năm 1975 đến nay 2011 quí cụ, quí bác sau đây kẻ mất người còn đã và đang giữ chức vụ Chúng Trưởng, và các Ủy viên của Khuôn hội.
Cụ Nguyễn Dân, Bác Hồ Thiết, Cụ Nguyễn Phát,
Bác Trương Thoang, Bác Huỳnh Phong,
Bác Văn Vu, Bác Hồ Quýnh,
Bác Lê Thẻo, Bác Lê Quế,
Bác Văn Thay, Bác Văn Đôn
Cụ Đặng Hưng, Bác Văn Huynh,
Bác Văn Ân
Chị Nguyễn Thị Đấu.
Chị Huỳnh Thị Gái.
Từ năm 1975 đến 2011 Quí cụ, quí bác sau đây người còn kẻ mất đã và đang giữ chức vụ các Ủy Viên.
Cụ Trương Lỗi –Bác Trần Văn Bụi.
Bác Hồ Tiếp, Bác Nguyễn Đẩu,
Bác Nguyễn Đẩu Gái
Bác Văn Dì – Bác Lại Ngọc

(*2) Điếu văn của Khuôn hội và GĐPT An Bằng

Đọc tại lễ tang của bác cố cựu Khuôn trưởng Đào Tầng. Pháp danh: Nguyên hạnh, sinh năm Kỷ Tỵ tạ thế lúc 20 giờ ngày 23 tháng 5 năm Canh ngọ (17/6/ 1990) Hưởng thọ 82 tuổi.
Kính thưa: Bác cố cựu Khuôn trưởng , húy danh Đào Tầng. Pháp danh Nguyên hạnh
Thưa bác trong lúc quê hương đang hân hoan đón mừng các ngày lễ hội truyền thống như: lễ Tam niên đáo lệ cầu ngư, Khuôn hội, Gia Đình Phật Tử cùng quí bác thiện nam, tín nữ đang chung lòng chung sức lo trùng tu Ngôi chùa quê hương phải hoàn thành trước mùa báo hiếu, mọi người dân đang an vui lao động, cỏ cây đang xanh tốt, và cũng là mùa an cư kiết hạ của Chu tăng, Ni.
Thì than ôi ! một tin đau đón truyền ra, là Bác đã
từ trần.
Thưa bác mặc dù luật vô thường lặng lẽ trôi đi, ở đờ không có gì tồn tại vĩnh cửu mà bác đã từng dạy bảo con cháu , để bình tâm trong cuộc sống, nhưng làm sao không luyến tiếc thương đau, Khi một người cha, một người thầy, một người thân thương đúc hạnh đã ra đi và ra đi vĩnh viễn không bao giờ trở lại.
Giờ đây Ban Đại Diện Khuôn Giáo Hội, toàn thể đạo hữu, toàn Ban huynh trưởng và đoàn sinh GĐPT An Bằng, bà con cô bác con cháu nội ngoại, cùng tất cả bạn bè than hữu của bác .
Chúng ta một phút mật niệm lại hình ảnh của Bác, một con người đã ra đi, ôi ! một mặt trời của quê hương đã lặn! Phút mật niệm bắt đầu…
Kính thưa thiện nam, tín nữ, bà con quê hương xa gần.
Bác cố cựu Khuôn trưởng sinh ra và lớn lên trong một gia đình Nho giáo thuộc giai cấp ngư dân, sớm được thâm nhập tư tưởng uyên thâm của Phật giáo và từ đó, lấy giao lý Phật đà làm kim chỉ nam cho cuộc đời , hướng dẫn phật tử trong trách nhiệm của mình, cùng toàn thể anh em con cháu , trau dồi đức hạnh của đạo từ bi.
Lúc thiếu thời: Bác là một Nho sinh, ảnh hưởng truyền thống tốt đẹp của gia đình, nên luôn tỏ mình một thanh niên xứng đáng, tìm tòi học hỏi, với mục đích học đạo làm người mà bác đã từng nhắc nhở chúng ta rằng: Đạo xử thế, lấy đạo đức để xử thế-người sống không có đạo đức như cây thiếu nước-sẽ chết mòn. Đạo đức như sức sống của cây xanh để nãy mầm đơm hoa kết trái.
Lớn lên: Vì mến đạo Phật, bảo vệ cho nền đạo pháp được hưởng trường tồn và hòa binh cho dân tộc qua những năm lịch sử 1953-1956 Bác đã bị chính quyền bắt giam và học tập tại Xuân thiên, huyện Phú vang.
Các năm Pháp nạn 1963-1966 Bác cũng bị bắt giam tra tấn, vì hy sinh cho đạo pháp, bảo vệ quê hương, mong hòa bình an lạc.
Qua năm Mậu thân 1968 Bác cũng bị bắt về quận giam giữ do tinh thần và tấm lòng chính nghĩa của Bác. Đó là một tư tưởng đứng đắn của con người đức hạnh, thấm nhuần giáo lý của đạo từ bi.
Đối với gia đình: Bác là người con hiếu đạo với cha mẹ , thuận thảo với anh chị em, một người chồng quí với vợ hiền, một người cha lành, người ôn kính đối với con cháu.
Bác thường dạy rằng :
Mục dục tịnh nhi phong bất đình.
Tử dục dưỡng nhi thân bất toại.
Tạm giải rằng: Cây muốn lặn, mà gió chẳng ngừng, con muốn báo hiếu nuôi dưỡng cha mẹ mà cha mẹ chẳng con sống.
Cho nên khi cha mẹ còn sống con phải ăn ở cho có hiếu đạo, anh em phải hòa thuận nhau, đừng để khi cha mẹ mất rồi hối hận muốn bao hiếu mà không còn nữa.
Về việc đời : Khi Bác đến tuổi trưởng thành vào đời Bác đã giúp việc xây dựng quê hương làng xóm, nhắc nhủ bảo ban, bày vẽ cho mọi người, việc đoàn kết việc xây dựng việc hiếu nghĩa và lẽ phải ở đời, chẳng mất lòng ai, và hầu như ai ai trong quê hương kẻ ít người nhiều cũng được sự chỉ dẫn, giúp đỡ của bác về việc đời việc đạo.
Bác thường nói:
* Thử vận hội thử tao phùng, thị nhất đường
chính nghĩa.
* Kim lao động kim vinh quang, sử lịch thời
trung hiếu.
Tạm giải

* “Dù vận hội thời cuộc nào cũng gặp gỡ tao phùng, nhưng tấm lòng đừng xa rời chính nghĩa.”
* “Tiền từ lao động làm ra là đồng tiền vinh quang, thời cuộc nào cũng lấy trung hiếu làm đầu”.
Đối với đạo : Trong trách nhiệm của mình bác đã hy sinh và xây dựng cơ sở vật chất cho đạo pháp ở quê hương, chăm lo xây dựng giáo hội vững mạnh, chăm lo đào tạo hàng ngũ huynh trưởng và các em thiếu nhi GĐPT là thế hệ mầm non của giáo hội, khuyến khích đạo hữu tu dưỡng đạo tâm. Làm khuôn trưởng Bác là người có đức vừa có tài, Bác không chuẩn bị gì về riêng tư của Bác sau khi qua đời, mà tùy tâm của khuôn hội và con cháu.
Trong những năm cuối đời của Bác, Bác đã gạt bỏ ra ngoài những tư tưởng lệch lạc, sai trái của mình để chỉnh đốn tâm hồn cho được thanh thoát, đó là việc làm chúng ta đáng học tập.
Bác thường dạy: Mạc đãi lão lai phương niệm Phật, cô phần đa thị thiếu niên nhơn “ Chớ để tuổi già rồi niệm Phật, hãy nhìn ra ngoài nghĩa địa có rất nhiều mồ mã của hàng thiếu niên.
Thưa bác, những lời dạy ấy, những từ ngữ ấy, việc làm và đức hạnh ấy, chúng tôi những người ở lại không bao giờ quyên được và đó là dư âm nhắc nhở cho cuộc sống chúng tôi mãi mãi sau nầy (*)
Hôm nay Bác đã vê nơi an nghỉ cuối cùng tại buổi lễ trang trọng nầy chúng tôi thành kính đốt nén hương lòng thắp dâng lên Bác. Để thể hện muôn lòng như một nguyện nhớ lời Bác nhắc nhở, mặc dù âm dương chia cắt hai đường, sống chết biệt ly, nhưng duyên lành nghiệp tốt cuộc luân hồi hẹn gặp gỡ kiếp sau.
Thôi giờ phút chia cách cánh sen đã rụng:
Huyễn thân đó quyện sâu vào lòng đất
Tinh anh kia bừng tỉnh giấc chiêm bao.
Cứ mỗi lần gọi đến trăng sao.
Để tiển biệt người về vô sở trú.
Xin nguyện hương linh Bác an vui nơi miền
cực lạc.
Kính vĩnh biệt Bác.

NAM MÔ ĐẠI HIẾU MỤC KIỀN LIÊN BỒ TÁT.
NAM MÔ ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT TÁT ĐẠI
CHỨNG MINH.

Đại Diện Khuôn Hội Phật An Bằng.
Đóng dấu và ký
Nguyên Vĩnh: Huỳnh Chớ

(*)Kính thưa quí bác, quí anh chị, em nếu sưu tập được các bài Điếu văn của quí bác cố cựu Khuôn trưởng, Khuôn phó, Gia trưởng trước đây để đưa vào tập sách này, xin chân thành cám ơn.
******
III. HỘI PHẬT TỬ AN BẰNG HẢI NGOẠI
SAU NĂM 1980

Năm 1975 cuộc chiến tranh giữa 2 Miền Nam Bắc đã chấm dứt, vài năm sau đó do hoàn cảnh bà con dân làng một số phải ra nước ngoài làm ăn sinh sống. Ngoài việc kế sinh nhai quí bà con còn phải lo lắng cho gia đình, quê hương, làng nước, xứ sở bằng nhiều hình thức khác nhau như là: Tiền tài, vật chất, tinh thần, xây dựng đủ mọi mặt từ năm 1994.
Đến năm 1995, để đoàn kết nhau lại trước mắt là phát triển sự tu học và muốn tu học, muốn xây dựng giúp đỡ quê hương và xứ sở phải có hội đoàn.
Quí bác, quí anh chị em nghĩ ra được đều quan trọng đó, nên đã thành lập Hội Phật Tử An Bằng Hải Ngoại (HPTAB/HN)
Ngoài Ban Điều Hành Hội Phật Tử An Bằng Hải Ngoại, còn có các ban ngành của Hội, ngành quan trọng là Đoàn thanh Thiếu Niên, và các Chi hội ở các tiểu Bang tại các nước, đồng thời cung thỉnh quí Chư tôn Thiền Đức cố vấn giáo hạnh, soạn thảo Nội Quy, quy chế và điều lệ của Hội để hành hoạt.
Mục đính chính của Hội là:
* Tạo sự liên lạc đoàn kết với nhau giữa người Phật tử An Bằng Hải Ngoại.
* Thành lập tập thể, để dễ dàng sách tấn nhau trong những vấn đề tu học
* Tạo môi trường cơ hội để lưu giữ phong tục tập quán và tiếng Việt cho thế hệ trẻ.
* Dễ dàng giúp đỡ các chùa địa phương ở Hải ngoại và Việt Nam.
* Dễ dàng thực hiện các việc từ thiện xã hội.
(Trích Nội quy của Hội Phật Tử An Bằng Hải Ngoại)
Từ ngày Đại hội kỳ I năm 1995 cho đến hôm nay là 3 nhiệm kỳ. Nhiệm kỳ I Bác Hoàng Quyên làm Hôi trưởng – Nhiệm kỳ thứ II Bác Văn Kỉnh làm Hội Trưởng – Nhiệm kỳ thứ III Bác Văn Ba làm Hội trưởng.
Kể từ đó HPTAB/HN và Khuôn Hội Phật giáo tại quê nhà có mối liên hệ đoàn kết, chặc chẽ. Cho nên trong những năm qua, quí phật tử, trong các nhiệm kỳ của Hội đã đóng góp tiền tài vật chất về quê nhà xây dựng Phật sự, từ việc nhỏ đến việc lớn như:
Ấn tống Kinh điển, đúc chuông, xây chùa, dựng tượng đã đem lại cho quê hương An bằng một công trình Phật giáo “ Nền văn hóa Phật giáo”. Rất đáng tự hào để phát triển trong tương lai.

Ngoài công việc xây dựng chùa tháp, cúng dường các chùa Tổ, Tịnh xá, Tịnh thất, còn có công tác từ thiện, cho những gia đình nghèo khó neo đơn, rủi ro tai nạn, ốm đau, các thiên tai bảo lụt lớn nhỏ trên khắp mọi miềm đất nước và Tỉnh nhà Thừa Thiên- Huế, đều được tập thể và toàn dân ca ngợi.
Nói đến đây chúng tôi xin nhường lại cho quí vị phật tử và Ban Điều Hành Hội Phật Tử An Bằng hải ngoại của các nhiệm kỳ tiếp theo.

PHẦN HAI

TỔ CHỨC
GIA ĐÌNH PHẬT TỬ
VỚI
KHUÔN HỘI PHẬT GIÁO AN BẰNG

Soạn Tập Văn Tiến Nhị

I. GIA ĐÌNH PHẬT TỬ VỚI KHUÔN HỘI PHẬT GIÁO AN BẰNG
Kính thưa quí bác, quí anh chị cùng toàn thể Lam viên thuộc Khuôn Hội Phật Giáo và GĐPT An Bằng.
Trước khi nói đến Lịch Sử Gia Đình Phật Tử An Bằng chúng ta phải hiểu sơ lược Lịch Sử của Gia Đình Phật Tử Viêt Nam, và dưới đây là sơ lược Lịch sử của GĐPT Vệt Nam.

SƠ LƯỢT LỊCH SỬ GIA ĐÌNH PHẬT TỬ VIỆT NAM

GIA ĐÌNH PHẬT HÓA PHỔ

Ngày Phật đản năm 1943, đại hội thanh thiếu niên Phật tử diễn ra tại đồi Quảng Tế (Huế). Tại đại hội này đã khai sinh tổ chức Gia Đình Phật Hóa Phổ (GĐPHP), tiền thân của Gia Đình Phật Tử Việt Nam. Những đơn vị GĐPHP đầu tiên ra đời trền nền tảng các đoàn Đồng Ấu có sẵn.
*Mục đích của Gia Đình Phật Hóa Phổ :
1 – Dạy cho các em biết sơ qua giáo lý của Đức Phật
2 – Tập cho các em sống theo đạo đức của Phật Giáo
3 – Chuẩn bị cho các em trở thành những Phật tử chân chánh để phục vụ Chánh pháp.
* Châm ngôn của Gia Đình Phật Hóa Phổ:
Hòa thuận – Tin yêu – Vui vẻ
* Khẩu hiệu của Gia Đình Phật Hóa Phổ:
Tinh tấn
* Bài ca chính thức của GĐPHP Bài:
Trầm Hương Đốt của Bửu Bác
Các đơn vị GĐPHP đầu tiên ở Huế :
1-GĐPHP Tâm Minh : do Cụ Tâm Minh Lê Đình Thám làm Phổ trưởng
2-GĐPHP Thanh Tịnh : do cụ Thanh Tịnh Tôn Thất Tùng làm Phổ trưởng
3-GĐPHP Tâm Lạc : do cụ Tâm Lạc Phạm Quang Thiện làm Phổ trưởng
4-GĐPHP Sum Đoàn : do cụ Nguyễn Hữu Tuân làm Phổ trưởng.
Bốn đơn vị trên đây do Đòan Thanh Niên Phật Học Đức Dục trực tiếp hướng dẫn. Ngòai ra, còn một số ít GĐPHP khác ở Huế, Đà Nẳng, Đà Lạt cũng được thành lập nhưng nằm ngòai tầm tay hướng dẫn của Đòan THPHĐD.
*Họat động của các GĐPHP :
– Sinh họat vào tối thứ bảy hàng tuần tại nhà của vị Phổ trưởng
-Tổ chức các buổi lễ sinh nhật cho các em
-Tổ chức các buổi đi trại chung cho các GĐPHP tại các chùa gần.
Sự phát triển của tổ chức Gia Đình Phật Hóa Phổ (1947 – 1951) :
Năm 1947, sau ngày tan vỡ của mặt trận kháng chiếnHuế, một số các đòan viên cũ của các Gia Đình Phật Hóa Phổ họp nhau tại nhà của cư sĩ Phan Cảnh Tú để tìm lại không khí đầm ấm trước chiến tranh.
Nhờ đó, tổ chức GĐPHP được tái lập.
Hai đơn vị đầu tiên là Gia đình Hướng Thiện do cư sĩ Phan Cảnh Tú làm phổ trưởng và Gia đình Gia Thiện do cư sĩ Nguyễn Văn Phiên làm phổ trưởng. Năm 1948, khi hội Việt Nam Phật Học đặt trụ sở tại ngôi nhà số 1B đường Nguyễn Hòang thì tổ chức GĐPHP cũng đặt trụ sở và mở Niệm Phật đường tại đây.
Ngày 8 tháng Chạp năm ấy, Gia Đình Phật Hóa Phổ tổ chức lễ thành lập chính thức tại chùa Từ Đàm.
Nhiều GĐPHP khác được thành lập sau Hướng
Thiện và Gia Thiện như : Chơn Trí, Hương Từ, Hương Đàm.
Ban Hướng dẫn hồi ấy gồm có các cư sĩ Võ Đình Cường, Phan Cảnh Tuân, Văn Đình Hy, Cao Chánh Hựu, Phan Xuân Sanh, Hoàng Thị Kim Cúc, Tịnh Nhân, Tống Hồ Cầm, Đặng Tống và Lê Văn Dũng. Cư sĩ Võ Đình Cường, tác giả sách Ánh Đạo Vàng là người đóng vai trò quan trọng nhất trong công trình tái lập và phát triển tổ chức GDPHP. Ông giữ chức vụ Trưởng ban hướng dẫn của tổ chức này.
Tổ chức GĐPHP phát triển rất mau chóng và lan rộng tới miền Nam và miền Bắc. Các cư sĩ Nguyễn Văn Nhã, Lê Văn Lâm, Vũ Thị Định tạo dựng các cơ sở đầu tiên cho GĐPHP tại Hà Nội và Hải Phòng. Trong Nam có cư sĩ Tống Hồ Cầm và Nguyễn Văn Thục xây dựng các đơn vị GĐPHP trong phạm vi Hội Phật học Nam Việt.
(Theo “Việt Nam Phật Giáo Sử Luận”của tác giả Nguyễn Lang
– sách do NXB Văn Học ấn hành năm 2000 tại Hà Nội)
Từ năm 1940 đến năm 1950 được xem như giai đoạn hình thành của tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt Nam với các tên gọi:
– Đoàn Thanh Niên Phật Học Đức Dục
– Đoàn Đồng Ấu
– Gia Đình Phật Hóa Phổ.
Vào các ngày 24, 25 và 26 tháng 4 năm 1951, tại chùa Từ Đàm (Huế) diễn ra đại hội Gia Đình Phật Hóa Phổ với sự tham gia của 9 tỉnh hội, chi hội Việt Nam Phật học miền Trung là : Thừa Thiên, Lâm Viên, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Đà Nẳng, Đồng Nai Thượng, Di Linh, Bình Thuận, Phan Rang và hai đại biểu miền Bắc là Hà Nội và Hải Phòng. Đại hội đã chính thức lấy danh hiệu Gia Đình Phật Tử (GĐPT) để thay thế cho tên gọi Gia Đình Phật Hóa Phổ. Ngòai ra, đại hội còn biểu quyết cho ra đời bản Nội Quy Trình của GĐPT. Tại Điều 5 Chương II bản Nội Quy ghi rõ :
“Tại Tổng trị sự hội Việt Nam Phật học có một ban Hướng dẫn Tổng hội Gia Đình Phật Tử để trông coi việc Gia Đình Phật Tử ở các tỉnh hội, Ban Hướng dẫn này họat động như các ngành khác của Tổng Trị sự, chịu trách nhiệm trước Tổng Trị sự về việc điều khiển các ban Hướng dẫn của các Tỉnh Hội”
Như vậy, đến thời điểm này, tổ chức GĐPT vẫn còn là một ngành của hội Việt Nam Phật học (miền Trung) và trên thực tế, các đơn vị GĐPT cũng chỉ xuất hiện ở các tỉnh miền Trung. Tại miền Nam, đến năm 1952 mới bắt đầu thành lập các đơn vị GĐPT trực thuộc Hội Phật Học Nam Việt do cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền làm hội trưởng. Anh Tống Hồ Cầm là một trong những sáng lập viên chủ yếu của GĐPT miền Nam.
Đến năm 1955, đại hội GĐPT lần hai được tổ chức tại Đà Lạt từ ngày 31/7/1955 đến 03/8/1055. Sau đại hội lần này, một Quyết định xếp cấp huynh trưởng đầu tiên được Ban Hướng Dẫn Tổng Hội ký ngày 10/3/1956. Các Anh, Chị được xếp cấp lần đầu gồm có:
– Cấp Dũng :
Anh Võ Đình Cường, pháp danh Nguyên Hùng
– Cấp Tấn :
1)Chị Hòang Thị Kim Cúc, pháp danh Tâm Chánh
2)Anh Nguyễn Châu, pháp danh Nguyên Tín
3)Anh Lương Hòang Chuẩn, pháp danh Nguyên Y
4)Anh Lê Văn Dũng, pháp danh Tâm Đại
5)Anh Nguyễn Xuân Quyền, pháp danh Tâm Thiệt
6)Chị Nguyễn Thị Út, pháp danh Nguyên An
7)Anh Lê Văn Vinh, pháp danh Nguyên Minh
-Cấp Tín : có 34 Anh, Chị
-Cấp Dự Tập : có 46 Anh, Chị
Năm 1961, trong hòan cảnh bị chánh quyền Ngô Đình Diệm khủng bố, đại hội lần III Gia Đình Phật Tử vẫn diễn ra tại chùa Xá Lợi – Sài Gòn. Vấn đề lớn trong đại hội lần này là tinh thần đòi hỏi thống nhất qua lời thuyết trình của Anh Tống Hồ Cầm, nguyên Trưởng Ban Hướng Dẫn Nam Việt và đạo hữu Nguyễn Đức Lợi, đại diện cho hai hệ thống GĐPT của Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt tại miền Nam và Hội Việt Nam Phật Giáo. Trong đại hội lần này có ý kiến đề nghị đổi danh hiệu Gia Đình Phật Tử thành Thanh Niên Phật Tử Việt Nam nhưng không được đại hội chấp thuận.
Đại hội huynh trưởng GĐPT Việt Nam lần thứ tư được tổ chức tại trường trung học Gia Long – Sài Gòn vào ngày 28/6/1964. Đại hội diễn ra trong không khí phấn khởi, tự hào sau những đau thương, mất mát mà đòan viên GĐPT trong cả nước đã gánh chịu trong mùa pháp nạn vừa qua. Hơn 200 đại biểu của 42 tỉnh nhóm họp trong 3 ngày. Ba ngày dài hơn ba thế kỷ. Những lời cam kết, những lời tâm sự, những lời kể lể về vinh, nhục, thăng trầm đã biểu lộ một tinh thân sắt đá, một tình thân ái vô biên, mai sau dù ai vì có thành kiến mà phủ nhận lời thề lịch sử Gia Đình Phật Tử cũng đã một lần nghe những lời tha thiêt ấy! Một Nội quy mới. Một Quy chế Huynh trưởng, một quy chế ngành nữ, đưa tới một cơ quan điều hành dân chủ và tiến bộ. Đại hội lần này còn nói lên ngày độc lập của Gia Đình Phật Tử. Thật ra, trong tinh thần Gia Đình Phật Tử vẫn độc lập từ lâu nhưng về pháp lý phải chịu ép mình trong khuôn khổ chung. Đàn chim vượt cửa lồng tung bay ra ánh sáng tự do, một vài con rã cánh vì ngợp nắng, nhưng đàn chim vẫn rộn ràng nhịp cánh theo lịch sử. Một vài tâm hồn cam chịu cảnh lầu son gác tía, gạo trắng nước trong mà quên cả khung trời bao la, phóng khoáng. Nhưng trước sau gì cảnh chim lồng cũng không phải là lý tưởng của một đoàn viên Gia Đình Phật Tử. Người ta vì thành kiến có thể trút bổ tất cả, nhưng màu Áo lam một khi đã ghi sâu vào tâm khảm thì không một màu sắc gì có thể nhuộm được cả.
Trong cuộc hội thảo Huynh trưởng Miền Khánh Hòa tại Vũng tàu. Thượng tọa Viện trưởng Viện Hóa Đạo – Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã tuyên bố: “Giáo hộikhông có Gia Đình Phật Tử là Giáo hội chết”. (Trích Người Áo Lam Sứ Mệnh GĐPT)
Ban Hướng Dẫn các phần đã tự nguyện giải tán. Đại hội IV nầy đã phản ảnh sự phát triển, sự lớn mạnh của Gia Đình Phật Tử Việt Nam. Trong đại hội lần này.Về tổ chức, cả nước. (từ vĩ tuyến 17 trở vào) được chia thành 8 Miền :
1.Vạn Hạnh (Bắc Trung nguyên Trung phần)
2.Liễu Quán (Nam Trung nguyên Trung phần)
3.Khuông Việt (Cao nguyên Trung phần)
4.Khánh Hòa ( Miền Đông Nam phần)
5.Huệ Quang (Tiền Giang Nam phần)
6.Khánh Anh (Hậu Giang Nam Phần)
7.Vĩnh Nghiêm (Phật tử Vĩnh Nghiêm)
8.Quảng Đức (Thủ đô Sài Gòn)
Đại hội GĐPT tòan quốc lần thứ năm được tổ chức tại Qui Nhơn vào ngày 01/8/1967. Đây là một đại hội phản ảnh sự trưởng thành của tổ chức GĐPT sau 3 năm thống nhất về tổ chức và ý chí của những người Áo Lam trên tòan quốc. Đại hội đã tu chỉnh Nội Quy và Quy chế huynh trưởng; đề ra chương trình học tập và huấn luyện … làm nền tảng cho họat động GĐPT về sau.
Đại hội Huynh trưởng GĐPT tòan quốc lần thứ sáu ( cũng là đại hội cuối cùng trước khi lịch sử nước Việt Nam lật qua trang mới) được tổ chức tại Đà Nẳng vào các ngày 29, 30, 31/7/1973. Tại đại hội lần này, vấn đề tương trợ huynh trưởng được chính thức đưa vào chương trình nghị sự.
Tại thời điểm này, tổ chức GĐPT VN đã thực sự lớn mạnh với hơn 200.000 đòan viên từ Quảng Trị đến Cà Mau. Đòan thể Áo Lam này đã đóng góp sức lực. mồ hôi và cả xương máu để bảo vệ Đạo Pháp.
Họ xứng đáng là đứa con hiếu hạnh của Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trong suốt chặng đường hơn 30 năm đồng hành cùng Giáo Hội và dân tộc.
Ta hãy nghe ý kiến của tác giả Nguyễn Lang viết trong sách Việt Nam Phật Giáo Sử Luận:
“ Gia Đình Phật Tử là một tổ chức giáo dục thiếu nhi quan trọng và có sắc thái độc đáo : có thể nói đó là một trong những nét đặc biệt nhất của đạo Phật tại Việt Nam. Tại các nước Phật Giáo trên thế giới, chưa có tổ chức thiếu nhi nào đông đảo và có tổ chức khéo léo như thế. Vào năm 1973, số lượng vừa huynh trưởng vừa đoàn viên của tổ chức này đã lên quá mức 200.000 người…”

Đoàn sinhGĐPT An Bằng đang ăn cơm trước hiên chùa
I. TÔ CHỨC GIA ĐÌNH PHẬT TỬ VỚI KHUÔN HỘI PHẬT GIÁO AN BẰNG.
Quí bạn trong và ngoài Gia Đình Phật Tử.
Quí bạn đã theo chúng tôi tới đây. Bạn đã biết qua những nguyên nhân nào về lịch sử xã hội, đạo giáo đã phát khởi phong trào Gia Đình Phật Tử, bạn đã biết qua đường lối hoạt động và tổ chức, bạn đã rõ bộ máy điều hành : Bạn hiểu các sứ mệnh chính yếu của Gia Đinh Phật Tử.
Làm công việc của một kẻ giới thiệu tôi tự cảm thấy khiếm khuyết vì không làm rõ hết những điều phải nói. Có bạn sẽ cho là quá nhiều, có bạn lại than là tôi chưa nói gì được cả. Nhưng xin hiểu cho một phong trào rộng lớn như Gia Đình Phật Tử không thể nào thu tóm vào văn tự được. Chứng cớ, tôi đã không đề cập hết được mọi vấn đề, không nhắc đủ các tên tuổi đáng nhớ.
Bạn hãy nhìn Gia Đình Phật Tử chúng tôi như ngắm một khu rừng vào buổi sáng. Dưới lớp sương mờ của bình minh dân tộc, chúng tôi hiển hiện như một khối, một khối màu lam, nếu không tin bạn chỉ nhìn mờ ảo, lạnh lùng. Nếu đã tin bạn hãy bước vào hàng ngũ chúng tôi. Ở đây không ai đón tiếp bạn cả. Bạn phải tự mình cảm thấy những âm thanh thánh thót của từng giọt nước dương chi tắm gội tâm hồn. Rồi bỗng cảnh tưng bừng hiện đến. Từng nụ cười trong như pha lê, những ánh mắt sáng như châu ngọc chiếu sáng từ trong lòng bạn. Đức Phật đã khơi cho bạn ánh sáng, ánh sáng của chính lòng mình. Đừng để cho tình đời ngăn đường thông cảm GIA ĐÌNH PHẬT TỬ không phải là một lâu đài. Đó chỉ là ngôi nhà tranh dịu mát, mát lòng dành riêng cho kẻ có tâm hồn. Nếu bạn đã mệt mỏi vì Đời thì hãy cứ về đây … Và nếu bạn cảm thấy chật chội, tù túng thì xin mời bạn cứ trở ra … Chúng tôi sẵn sàng tiễn đưa bạn vào đời thêm chuyến nữa !!! Người Áo Lam

Khóa học Liên trại A Dục – Lộc Uyển

1/ LỊCH SỬ GIA ĐÌNH PHẬT TỬ AN BẰNG

Gi¬a Đình Phật Tử An Bằng được thành lập vào năm 1957 cùng một lần với Khuôn Tịnh Độ. Từ ngày thành lập cho đến hôm nay GĐPT không có thời gian nào gián đoạn sinh hoạt, quí anh chị trưởng những người ở thế hệ trước tiếp nối cho đến hôm nay và chắc chắn sau nầy đều một lòng một dạ đoàn kết thương nhau, yêu mến đàn em và chăm lo xây dựng tổ chức GĐPT. “Dù gặp bao nhiêu gian khổ, dù gặp nhiều nguy khó, lý tưởng chúng con vẫn tôn thờ”
Những ngày lễ Chu niên hàng năm từ khi sinh hoạt lâm thời 1957 mãi đến năm 1970 Ban Hướng Dẫn GĐPT/ Thừa Thiên mới công nhận chính thức dù đang sinh hoạt lâm thời, cho đến lúc chính thức, năm nào cũng tổ chức lễ Chu niên. Mỗi lần tổ chức lễ, không thiếu vắng các anh chị cựu Huynh trưởng, cựu Đoàn sinh trong những ngày trọng đại này, truyền thống của GĐPT An Bằng là: “Mặt dù đi ở bất cứ nơi đâu anh chị em cũng luôn luôn nhớ và thương đến GĐPT quê nhà.”
Những cuộc du ngoạn, thám du trên đất khách, những ngày cắm trại, những buổi sinh hoạt, những lúc trò chơi lớn, nhỏ, những đêm văn nghệ ở sân chùa, trên đất lửa trại, trên diễn đàn sân khấu, khắp mọi nơi trong tỉnh, huyện nhà. Suốt 54 năm qua đều đem lại lợi lạc, an vui, hiểu biết, bổ ích cho xã hội, cho đạo pháp, cho Khuôn hội và cho tổ chức GĐPT, chưa có một lần nào sai sót lớn lao tại các diễn đàn ở các buổi văn nghệ nói trên.
Nhờ vậy uy tín của tổ chức GĐPT An Bằng mỗi ngày một phát triển lớn mạnh, vững chắc so với các GDPT trong tỉnh, huyện nhà và các vùng nơi khác, thì GĐPT An Bằng đã và đang vượt trội.
Từ ngày thành lập GĐPT An Bằng 1957 cho đến nay năm 2011. Đội ngũ Huynh trưởng đều được huấn luyện kỷ cương, qua các kỳ trại kể từ Huynh trưởng. Ban thường vụ cho đến các Đoàn, Đội, Chúng và Đàn. Huynh trưởng và đoàn sinh theo học các khóa huấn luyện: Sơ cấp Lộc Uyển, A Dục, Huyền Trang, Vạn Hạnh và các bậc học. Kiên, Trì, Định, Lực. bậc Hòa, bậc Trực, Hướng thiện, Sơ thiện, Trung thiện, Chánh thiện, bậc Mở mắt, Cánh mềm, Chân cứng và Tung bay.
Cứ như thế mà từng bước sắp xếp Huynh trưởng và đoàn sinh tham dự khóa huấn luyện, các bậc học nói trên Khuôn hội và quí ban Huynh trưởng tiền nhiệm luôn xem đây là nguồn lực của đạo, vừa điều hành GĐPT, vừa cung cấp nhân sự cho Khuôn hội khi cần.
GĐPT An Bằng đã thành lập được ngành Thanh vào tháng 12 năm 1999. Huynh trưởng và đoàn sinh GĐPT An Bằng luôn luôn tôn trọng và chấp hành Nội quy, Quy chế Huynh trưởng GĐPT Việt Nam, ngoài việc chấp hành đúng Nội quy, Quy chế Huynh trưởng.
Ban Huynh trưởng còn phải soạn thảo quy ước thông qua tập thể Huynh trưởng và Đoàn sinh được nhất quán để áp dụng riêng trong GĐPT An Bằng cho phù hợp tình hình thực tế và phong tục, tập quán của địa phương. Có như vậy ít vấp phải việc vụn vặt có thể xẩy ra trong suốt 54 năm qua. (1957 – 2011)

Hội Quán Của Khuôn Hội Còn Gọi Là Tứ Phương Vô Sự Lâu,
Mừng Xuân Di Lạc Năm Tân Mão (2011)

Khuôn Hội và Ban Huynh trưởng GĐPT A/Bằng trước trụ đá vua A Dục
tại lễ đài Chùa An Bằng PL2551

Lễ Chào cờ GĐPT An Bằng nhân trại hộ lễ Phật Đản PL Lễ 2550
a/ ĐÀO TẠO HUYNH TRƯỞNG, GĐPT AN BẰNG
TỪ NĂM 1957 ĐẾN 2011

Khuôn Hội Phật Giáo rất quan tâm đến tuổi trẻ GĐPT, luôn cho đi đào tạo các trại huấn luyện Huynh trưởng để hướng dẫn Gia Đình Phật Tử kế thừa sự nghiệp, cho nên anh chị em sẳn sàng hy sinh, chấp nhận để bước vào nghề Huynh trưởng là nghề không lương bổng, mà có lương tâm, bởi tổ chức Áo lam này không ranh giới, không phân biệt giai cấp. Vì bên cạnh ái nữ của ông quan, là con của một chị bán hàng nghèo nàn; trước mặt một sinh viên đại học, hay là những anh chàng tay búa tay đe, thảy đều trung thành với di chúc của đức Từ phụ, không có giai cấp trong giọt nước mắt cùng mặn, trong giòng máu cùng đỏ, cao đẹp thay tổ chức GĐPT.
Gia Đình Phật Tử An Bằng từ bến “ Bến mê, trầm luân”, đã quay về, nhưng chưa hết khổ cứ nối tiếp. Chuyện một đêm trong những năm 1963 chế độ Ngô Đình Diệm đàn áp, tại ngôi chùa cạnh đình làng khổ đau, chua xót hơn họ đã vu khống chứa lưỡi lê, lựu đạn trong chùa An Bằng.
Than ơi ! Vì chiến tranh, vì hạ cờ Phật giáo, vì đàn áp dã man, mà anh chị em Huynh trưởng và đoàn sinh bị bao vây ở trong chùa, chịu oan ức, chịu nhịn đói, nhịn khác, biết được tin nầy chị Đào Thị Niệm đã đem bún mì chay hiệu ông Phật, nước uống, thừa lúc vắng người canh gác, nhét vào khe cửa, anh em chia nhau từng sợi bún để ăn cho đở đói, trong GĐPT chúng ta đã có những người chị thương mến đan em như vậy.
Thế rồi: Những người con Phật không thể ngủ mê và đã tĩnh ngộ để quay về với đức Phật, về dưới Phật đài, về với chính mình, nguyện với lòng mình cho yên tỉnh, dù cuộc đời có chứa chan khổ đau, phiền lụy, nhưng tinh thần vẫn luôn luôn tinh tấn, dũng mãnh trên bước đường phụng sự lý tưởng GĐPT Áo lam.
Cũng có những anh chị và các em đã xa cách màu áo lam một thời vì cuộc chiến, vì hoàn cảnh, vì nhiệm vụ. Nay đã trở về đoàn tụ dưới mái nhà lam thân yêu, có hoa sen nở, có trầm hương nghi ngút đạo tình, để cùng nắm tay nhau và cùng hát bài ca Giây thân ái, bài ca ấy, con người ấy, các anh các chị, các em sẽ không bao giờ quên!
“Dù cách xa ngàn dặm nhưng gần, gan thép ta chia tay đừng buồn”.
Nếu không vì tình thương đối với đàn em thơ dại, không vì tinh thần và trách nhiệm, không vì lý tưởng của mình, thì quí anh chị đã quảng gánh giữa đường rồi.
Cho nên càng thông cảm hoàn cảnh khó khăn của anh chị em, chúng ta lại vô cùng cảm mến và thán phục tinh thần chịu đựng và trung kiên của anh chị em đối với phong trào Gia Đình Phật Tử An Bằng nói riêng, GĐPT Việt Nam và GĐPT trên toàn thế giới nói chung.
Nhìn xa hơn nữa, những tấm gương của các Thánh tử đạo, vẫn là động lực nung nấu tâm cang chúng ta, thúc dục chúng ta những lúc chùn bước, chùn chân, ánh mắt của những con ngưòi anh dũng ấy luôn luôn chiếu rọi vào tâm hồn chúng ta, làm chúng ta tỉnh lại mỗi lần có những tư tưỏng lệch lạc.
Hoạt động của GĐPT Áo lam không thể tách rời ra khỏi tình dân tộc, tình quê hương xứ sở mình, những đau thương mất mát của dân tộc, của quê hưong xứ sở, là nỗi đau thương mất mát của GĐPT.
Vì tổ chức GĐPT không phải chỉ đào tạo các em thành người Phật tử chơn chính, mà còn đào tạo các em thành những con người Việt Nam sống đúng với truyền thống hào hùng của dân tộc, độc lập, tự cường, không vọng ngoại, cái ý chí ấy đã bao lần góp phần cứu được quê hương tránh khỏi mọi xung đột có thể xẩy ra…
Những điều xin Thưa:
Kính thưa quí bác quí anh chị. Trong Tổ chức Gia Đình Phật Tử chúng ta cái khắc kỷ của người huynh trưởng là: Phải chịu huấn luyện. Vì vậy các huynh trưởng phải trãi qua các lớp học, các trại huấn luyện huynh trưởng từ thấp đến cao, do Gia Đình Phật Tử An bằng cử đi tham dự và Khuôn hội, động viên, hổ trợ.
Cho nên những huynh trưởng đã và đang phục vụ trong GĐPT An bằng đều phải trãi qua các trại huấn luyện nói trên, tùy theo từng khóa huấn luyện, từng cấp bậc để nhận lãnh trách nhiệm phục vụ, phụng sự đàn em. Tuy vậy có một số anh chị huynh trưởng đã kinh qua các Bậc học, các trại huấn luyện nhưng:
Vì hoàn cảnh gia đình, xã hội, công tác, học hành, và công việc kế sinh nhai chính, nên không có điều kiện trực tiếp phục vụ tổ chức mà bằng gián tiếp hướng dẫn giúp đở Gia Đình Phật Tử, về tinh thần lẫn vật chất, hoặc chuyển đi sinh hoạt Gia Đình Phật Tử các nơi khác, thì cũng vẫn nằm trong hàng ngũ huynh trưởng của GĐPT An bằng, vì rằng: “Dù đi ở bất cứ nơi đâu những huynh trưởng nầy đều do Gia Đình Phật Tử An bằng đào tạo nên cả, và nếu có dịp trở về ở lại trên quê hương cũng phục vụ GĐPT vì nghề huynh trưởng phải gánh vác suốt đời”.
Các Ban huynh trưởng tiền nhiệm, cũng như đương nhiệm chỉ quản lý, quản trị huynh trưởng bằng con người và danh sách huynh trưởng. Còn hồ sơ cá nhân huynh trưởng thì mỗi huynh trưởng tự giữ lấy.
Lại nữa: Quí bác gia trưởng, qúi anh chị huynh trưởng đã phục vụ tổ chức, từ ngày thành lập GĐPT An bằng đến nay đã 54 năm ( 1957 – 2011 ). Lẽ tất nhiên đã phục vụ qua nhiều năm, nhiều nhiệm kỳ, cũng đã giữ nhiều chức vụ trong GĐPT. Tổ chức xin ghi nhận công đức của quí bác, quí anh chị người còn kẻ mất, hồi hướng lên Tam Bảo.
Để hạn chế sự thiếu sót có thể có, nay chỉ ghi lại một chức vụ cao nhất trong GĐPT An bằng, và một chức vụ cao nhất ở trong Khuôn hội Phật giáo An bằng, nếu quí bác và quí anh chị đó có phục vụ trong Khuôn hội. Ví dụ : Bác Lê Phát là Gia Trưởng, là trưởng ban nghi lễ, là Khuôn trưởng, nay chỉ ghi vào đây là gia trưởng, Khuôn trưởng.
Để đúng với mục đích và tôn chỉ của GĐPT là giáo dục con người trở thành một phật tử chân chính góp phần xây dựng xã hội, phục vụ Giáo hội …

Nhà Hội Quán Của Khuôn Hội Xây Dựng Năm 2010

Trại sinh Vạn Hạnh viết lời trước Lễ Bế mạc Trại Vạn Hạnh IV/1997
Trại sinh 14 Trại Vạn Hạnh

Bác Tâm Ninh. Lê Phát Nguyên Gia Trưởng Đầu Tiên
Thành Phần Sáng Lập Viên GĐPT An Bằng

QUÍ BÁC QUÍ ANH CHỊ SÁNG LẬP VIÊN
Gia Đình Phật Tử An Bằng:
( Người còn kẻ mất )

A. Bác Lê Phát – Bác Lê Bính (*)- Bác Huỳnh Kiền – Chị Phạm Thị Cháu – Bác Đào Lạc – Bác Lê Dược – Chị Đào Thị Ba.
(*)Bác Lê Bính không ở trong Ban Huynh trưởng, vì lúc đó bác làm trưởng Ban nghi lễ nhưng cũng là thành phần sáng lập viên GĐPT/ An Bằng.)

B. THÀNH PHẦN HUYNH TRƯỞNG GĐPT AN BĂNG
Qúi Bác Gia Trưởng, Quí Anh Chị Huynh Trưởng Tiền Nhiệm Và Anh Chị Huynh Trưởng Đương Nhiệm Người Còn Kẻ Mất.

1. Về chức vụ Gia trưởng:
Bác Lê Phát Gia trưởng, Khuôn trưởng – Bác Trương Đại Gia trưởng, Thư ký Khuôn hội – Bác Trương Hai Gia trưởng – Bác Văn Kỉnh Gia trưởng – Bác Huỳnh Chớ Gia trưởng, Khuôn trưởng – Bác Hoàng Vinh Quang huynh trưởng Cấp Tín, Gia trưởng – Bác Nguyễn Anh Tuấn huynh trưởng Cấp Tín, Gia trưởng, trưởng ban Văn Hóa Khuôn hội – Bác Hoàng Duẫn huynh trưởng Cấp Tín, Gia trưởng – Bác Nguyễn Dũng Chinh huynh trưởng Cấp Tín, Gia trưởng, Phó Khuôn hội.
2. Chức vụ Liên Đoàn Trưởng:
Anh Huỳnh Kiền – Chị Phạm Thị Cháu – Anh Lê Dược – Chi Văn Thị Ca Ngợi – Chị Lê Thị Kim Ngợi – Chị Huỳnh Thị Hoa – Chị Lê Thị Hạnh, huynh trưởng Cấp Tập – Chị Văn Thị Vân – Chị Văn Thị Khuyến – Chị Nguyễn Thị Hoa – Trương Thị Hoa – Anh Hoàng Ngữ, huynh trưởng Cấp Tập, Thư ký Khuôn hội – Anh Đào Duy Tùng, huynh trưởng Cấp Tập – Chị Huỳnh Thị Hạnh – Anh Lê Hồng Phúc, huynh trưởng Câp Tín – Anh Lê Quyền, huynh trưởng Cấp Tín – Anh Đặng Ngọc Chung, huynh trưởng Cấp Tín – Chị Văn Thị Hiểu huynh trưởng Cấp Tín – Anh Văn Thanh An huynh trưởng Cấp Tín.

Chuyến thăm Hòa Thượng Thích Huyền Quang tại chùa Hội Phước, Tỉnh Bình Định ngày 21/2/2003(21/1/Quí mùi)

Quí Huynh trưởng tham dự và phát biểu tại lễ Khai mạc trại
3. Chức vụ Thư Ký:
Anh Đào Lạc – Anh Đặng Tuân – Anh Đào Minh Xuân – Anh Hoàng Quyên – Anh Trương Nhật – Anh Văn Tiến Nhị, huynh trưởng Cấp Tấn, Thư ký Khuôn hội – Anh Phạm Văn Vinh, Thư ký Khuôn hội – Anh Hoàng Khắc Lộc – Anh Huynh Toàn – Anh Nguyễn Thanh Phúc, huynh trươngr Cấp Tín – Anh Trương Thanh Lai, huynh trưởng Cấp Tập – Anh Đào Minh Truyền, huynh trưởng Cấp Tập – Anh Trương Ánh, huynh trưởng Cấp Tín – Anh Văn Minh Quân, huynh trưởng Cấp Tín – Anh Nguyễn Chiến huynh trưởng Cấp Tín – Anh Văn Công Minh Hoàng huynh trưởng Cấp Tín
3. Chức vụ Thủ quỷ:
Chị Trương Thị Chiểu – Chị Huỳnh Thị Loan, huynh trưởng Cấp Tín – Chị Văn Thị Nhung – Chị nguyễn Thị Mến – Chị Trương Thị Lý, huynh trưởng Cấp Tập.
4. Chức vụ ban Bảo trợ:
AnhNguyễn Dẫn – Chị Đặng Thị Qua – Anh Nguyễn Kỉnh – Anh Văn Tiệm – Chị Văn Thị Lọt – Chị Đào Thị Niệm – Anh Nguyễn Ngọc Danh – Anh Lê Tây – Chị Trương Thị Tố – Chị Lê Thị Ngại – Chị Đặng Thị Gái – Anh Hồ Hưu – Anh Lê Dũng.
5. Chức vụ Đoàn Trưởng:
Anh Đặng Tuân – Chị Đào Thị Ba – Anh Văn Công Giai – Chị Trương Thị Luân – Anh Nguyễn Đồ – Anh Văn Thưởng – Anh Trần Quốc Phòng – Anh Nguyễn Tông, huynh trưởng Cấp Tín – Chị Văn Thị Dâm – Văn Thị Ca Ngợi – Chị Đào Thị An – Anh Văn Pháp – Anh Văn Ba, huynh trưởng Cấp Tập – Anh Hồ Thây – Anh Lê Minh Khương, huynh trưởng Cấp Tín – Chị Lê Thị Bay – Chị Lê Thị Hường – Anh Huỳnh Đức Thương, huynh trưỏng Cấp Tín – Chị Lê Thị Úy, huynh trưởng Cấp Tín – Anh Văn Công Huân, huynh trưởng Cấp Tập – Chị Huỳnh Thị Loan, huynh trưởng Cấp Tín – Anh Lê Cường, huynh trưởng Cấp Tín – Anh Nguyễn Bá, huynh trưởng Cấp Tập – Anh Hoàng Nguyên – Anh Lê Minh Đã, huynh trương Cấp Tín – Anh Hồ Phú, huynh trương Cấp Tín – Anh Lại Thanh Quang – Chị Huỳnh Thị Thảo, huynh trưởng Cấp Tập – Chị Đào Thị Thôi – Chị Trương Thị Thúy – Anh Đào Minh Xưng.
6. Chức vụ Đoàn Phó và Thư ký của cấp Đoàn:
Anh Nguyễn Khôi – Anh Đặng Hưng (tức Huých) – Anh Văn Đình Tâm (tức Tha)- Chị Văn Thị Khương – Chị Lê Thị Vỷ – Anh Đào Duy Ý – Anh Văn Nhân Đạo – Anh Văn Công Chí – Anh Phan Văn Khá – Anh Trương Lệnh – Anh Phạm Hưởng – Anh Nguyễn Cẩn, Khuôn Phó Khuôn hội – Anh Hoàng Tân, Khuôn trưởng Khuôn hội – Anh Nguyễn Thanh Minh – Anh Nguyễn Bính – Anh Văn Năm, huynh trưởng Cấp Tập – Anh Nguyễn Ban – Anh Lê Minh Hòa – Chị Lê Thị Hóa – Anh Văn Thơm – Anh Hồ Khán – Chị Đào Thị Bé (sáu) – Chị Đào Thị Chí – Chị Văn Thị Nga – Chị Trương Thị Bông ( Hồng) – Chị Nguyễn Thị Hiên ( Gái ) huynh trưởng cấp Tín – Anh Trương Đàm huynh trưởng Cấp Tín – Anh Lê Văn Điệp huynh trưởng Cấp Tín – Anh Văn Thành huynh trưởng Cấp Tín – Trương Minh Đa huynh trưởng Cấp Tín – Anh Nguyễn Khẩn huynh trưởng Cấp Tập – Anh Lê Minh Cường xuất gia – Chị Nguyễn Thị Năm huynh trưởng Cấp Tập – Anh Phạm Hùng huynh trưởng Cấp Tín – Chị Lê thị Yên – Anh Hồ Anh Quốc – Anh Hồ Anh Tuấn – Chị Phạm Thị Vân – Chị Lê Thị Bông – Anh Nguyễn Hoàng ( Đoàn) – Anh Trương Công Bình – Anh Nguyễn Quyền – Anh Trương Minh Toàn – Chị Lê Thị Chanh – Chị Nguyễn Thị Năm – Chị Trần Thị Tuyết – Chị Văn Thị Tuyết – Chị Văn Thị Thúy – Chị Lê Thị Truyền – Anh Trương Hùng huynh trưởng Cấp Tín – Anh Huỳnh Tấn Dũng – Anh Văn Công Ngà – Anh Nguyễn Toàn – Anh Nguyễn Quốc Việt – Anh Lê Thanh Toàn – Anh Lê Thanh Tạo – Anh Phan Thanh – Anh Lê Thanh Minh – Chị Nguyễn Thị Liên – Chị Nguyễn Thị Hiệp – Chị Đặng Thị Ngọc – Chị Văn Thị Huệ – Anh Trương Long (Láo) huynh trưởng Cấp Tín – Anh Hồ Tuấn – Chị Lê Thị Lài – Anh Nguyễn Toàn – Anh Phạm Văn Tính – Anh Ngyễn Hà – Anh Nguyễn Hoàng huynh trưởng Cấp Tín – Anh Văn Minh Bình – Anh Văn Tiến Khai – Chị Văn Thị Mỹ Quý – Anh Nguyễn Mỹ – Anh Lê Văn Công – Chị Văn Thị Châu huynh trưởng Cấp Tập – Chị Hoàng Thị Hạnh huynh trương Cấp Tập – Chị Trương Thị Lành – Chị Trần Thị Thu Hằng huynh trưởng Cấp Tập – Chị Văn Thị Nguyệt huynh trưởng Cấp Tập – Chị Lê Thị Xuê – Chị Văn Thị Chi huynh trưởng Cấp Tập – Chị Văn Thị Loan huynh trưởng Cấp Tập – Chị Phạm Thi Kim Phụng huynh trưởng Cấp Tập
7. Nhữmg Huynh trưởng đã qua các trại Huấn luyện và đã thọ các Cấp bậc trong GĐPT An bằng nhưng:
Đang phục vụ Tại Ban Hướng Dẫn Tỉnh và Ban Đại Diện Quận Phú Vang.
Hoặc chưa phân công phụ trách, hoặc vì hoàn cảnh gia đình, xã hội, công tác, học hành, và công việc kế sinh nhai chính, nên không có điều kiện trực tiếp phục vụ tổ chức mà bằng gián tiếp hướng dẫn giúp đở Gia Đình Phật Tử, bằng tinh thần lẫn vật chất, hoặc chuyển đi sinh hoạt Gia Đình Phật Tử các nơi khác, thì cũng vẫn nằm trong hàng ngũ huynh trưởng của GĐPT An bằng.
Anh Đào Hoài huynh trưởng Cấp Tín – Anh Văn Hưng huynh trưởng Cấp Tín – Chị Hồ Thị Liên huynh trưởng Cấp Tín – Chị Lê Thị Yến huynh trưởng Cấp Tín.

Một đội mạnh của Đoàn Thanh nam GĐPT/AB

Bác gia trưởngNguyên Ái Hoàng Duẫn gắn phù hiệu trại cho

C. Huynh Trưởng Và Đoàn Sinh GĐPT An Bằng
Hiện Đang Sinh Hoạt. Năm 2011. Phật lịch 2555

Tổng Số Huynh Trưởng và Đoàn GĐPT An Bằng : 597
Trong đó:
Huynh Trưởng 61
Đoàn sinh 536
Trong đó:
Đoàn Thanh Nam: 80
Đoàn Thanh Nữ: 130
Đoàn Thiếu Nam: 56
Đoàn Thiếu Nữ: 60
Đoàn Oanh Nam: 80 Đoàn OanhNữ: 130

1. Đoàn Sinh Đã Tham Dự Các Trại: 55
Trong Đó:
Đội, Chúng trưởng, Chúng phó. 35
Đầu, Thứ đàn, Đàn trưởng, Đàn phó: 25

2. Huynh trưởng tham dụ trại: 46
Trong đó:
Trại Lộc Uyển. A Dục: 29
Trại Huyền Trang: 16
Trại Vạn Hạnh: 01

3. Huynh trưởng đã thọ các cấp bậc: 32
Trong đó:
Cấp Tập: 22
Cấp Tín: 9
Cấp Tấn: 01

4. HT. Đã và đang tham dự các Bậc học: 399
Trong đó:
Bậc Kiên – Trì – Định – Lực: 61
Đoàn sinh đã và đang tham dự bậc học:
Bậc Hòa. Bậc Trực: 210
Bậc Hướng Thiện: 26
Bậc Sơ Thiện: 32
Bậc Trung Thiện: 21
Bậc Chánh Thiện: 4
Bậc Mở Mắt: 45
Bậc Cánh Mềm: 40
Bậc Chân Cứng: 35
Bậc Trung Bay: 15

(Đây là con số được thống kê năm 2009. Từ năm 2010 đến 2011 chưa thống kê được. Nhưng các Huynh trưởng tham dự các Bậc học, các trại huấn luyện Huynh trưởng, Thọ các Cấp Bậc đã có đủ trong danh sách trên đây rồi…)

Lễ bế mạc trại
ĐỂ CHỨNG MINH RẰNG:

“Kế hoạch đào tạo Huynh trưởng kế thừa sự nghiệp của Ban Đại Diện Khuôn Hội Phật Giáo và Ban Huynh trưởng GĐPT An Bằng đáng được phát huy, truyền thừa.
GĐPT An Bằng suốt trong 45 năm qua hành hoạt mặc dù về phưong diện hình thức có một vài thay đổi để phù hợp với hoàn cảnh xã hội, của các thời đại, nhưng về nội dung và tinh thần GĐPT An Bằng luôn sáng vững trong lòng Đạo pháp, Dân tộc và trên quê hương, xứ sở mình, chính nhờ những tinh thần cao quí của châm ngôn BI – TRÍ – DŨNG đã được Lịch Đại Tổ Sư, chư Thầy, Cô. Cố vấn giáo hạnh trao truyền, và các bậc đàn Anh, đàn Chị không ngừng thể hiện và thực hiện đã tạo dựng nên những truyền thống, cao đẹp tuyệt vời trong ý thức tuân thủ Nội quy và Quy chế, Huynh trưởng, trong ý chí giữ vững gia phong, kỷ cương và nề nếp của Tổ chức, cũng như trong quyết tâm bảo vệ tính thống nhất của GĐPT bởi tình thương yêu chân thành, sự hiểu biết sáng suốt trong cảm thông hòa hợp và đoàn kết thực sự của tập thể Anh Chị Em Áo Lam qua tâm nguyện trung kiên với Giáo hội, hiếu hạnh với Khuôn hội, để đi trọn con đường Hoa Sen Trắng để cùng nhau làm đẹp vai trò “Làm đẹp đời, Thơm đạo” của Tổ chức hầu sớm hoàn thành mục đích và Sứ mệnh của Gia Đình Phật Tử Việt Nam nói chung, GĐPT An Bằng nói riêng…
« Mục đích tối hậu của Gia Đình Phật Tử là xiển dương Chánh pháp giải thoát vô lượng chúng sinh, đó cũng là ý muốn của ba đời mười phương Phật.
Vậy giúp đỡ Gia Đình Phật Tử mọi mặt, chính là cứu độ chúng sanh. Với dũng tâm huệ lực, quí vị hiền hữu đóng góp vào công cuộc xây dựng Gia Đình Phật Tử nói chung và GĐPT An Bằng nói riêng, là cả một công đức vô lượng.
Trân trọng cám ơn quí hiền hữu ».

Ban Hướng Dẫn Thừa Thiên Chụp Hình Lưu Niệm Với Ban Huynh Trưởng GĐPT An Bằng Đàu Nam Canh Dần (2010) Tại Đoàn Quán

ĐỀ TÀI HỘI THẢO
NHIỆM VỤ LIÊN ĐOÀN TRƯỞNG.

Huynh trưởng Văn Tiến Nhị thuyết trình.
Tại khóa hội thảo Huynh trưởng Gia trưởng Liên đoàn trưởng và Thư ký Gia Đình Phật Tử cơ sở trong toàn tỉnh Thừa Thiên vào ngày 21 tháng 11 năm 2010 (ngày 16 tháng 10 năm Canh dần). Tại chùa Bảo Quang-Huế. Phật lịch 2544.

I – VỊ TRÍ LIÊN ĐOÀN TRƯỞNG.
II – QUYỀN HẠN – NHIỆM VỤ – BỔN PHẬN CỦA LĐT.
III – TƯ CÁCH LIÊN ĐOÀN TRƯỞNG.
IV – NGƯỜI LĐT QUA KINH NGHIỆM PHỤC VỤ VÀ HƯỚNG DẪN.
V – KẾT LUẬN.

Nhiệm Vụ Của Liên Đoàn Trưởng
Lời mở dầu.
Kính thưa: Anh Trưởng Ban Hướng Dẫn, quí anh chị ban viên Ban Hướng Dẫn, ban Điều Hành Khóa Hội Thảo.
Kính thưa quí bác Gia trưởng, quí anh chị Liên Đoàn Trưởng, quí anh chị Thư ký của các đơn vị GĐPT đang sinh hoạt trong Ban Hướng Dẫn GĐPT-TT.
Kính thưa quí bác quí anh chị. Hội thảo Gia Trưởng, Liên Đoàn Trưởng và Thư Ký GĐPT thuộc đơn vị cơ sở của tỉnh nhà đã có truyền thống từ lâu. Nghĩa là từ trước năm 1975, cứ một năm, hoặc hai năm tổ chức một lần, chắc rằng ở đây cũng có quí anh chị đã từng tham dự các khóa hội thảo đó.
Sau năm 1975 GĐPT. Từ cơ sở đến Trung Ương nói chung, và GĐPT cơ sở đến Ban Hướng Dẫn Tỉnh Thừa Thiên nói riêng, có rất nhiều biến động nầy đến biến động khác, có lúc chúng ta một cổ mà hai ba tòng, mặc dù chúng ta không có tội tình gì với các giáo hội cả, những biến động xẩy ra chính hàng ngũ Huynh trưởng chúng ta không lường được.
Trước khi chưa có sự biến động, phân hóa trong Giáo Hội và Gia Đình Phật Tử Việt Nam . Quí anh chị trong Ban Hướng Dẫn thao thức làm thế nào mở khóa hội thảo Gia trưởng Liên đoàn trưởng và Thư ký gia đình, để cùng nhau trao đổi kinh nghiệm phục vụ GĐPT cơ sở được tốt hơn. Những anh chị thao thức đó hiện nay đang phục vụ trong Ban Hướng Dẫn GĐPT/TT, và quyết định mở khóa hội thảo nầy.
Vậy quí bác quí anh chị xem đây là khóa Hội thảo, trao đổi kinh nghiệm để cùng nhau đoàn kết thăng tiến tổ chức GĐPT.

DẪN NHẬP
Liên Đoàn là một tổ chức hoàn hảo, cơ bản và xuyên suốt của GĐPT.
Dù Liên Đoàn Nam hay Nữ, cũng thu hút mọi lứa tuổi, trình độ, thành phần xã hội.
Do đó Liên Đoàn Trưởng đòi hỏi tư cách, đạo đức, trình độ, khả năng “LÃNH ĐẠO”
I. VỊ TRÍ CỦA LIÊN ĐOÀN TRƯỞNG
Trên nguyên tắc, đứng đầu một GĐPT là Gia Trưởng. Trên thực tế, Gia Trưởng chỉ đóng vai trò tổng quát đối ngoại. (Trừ Gia Trưởng là Huynh Trưởng có cấp của GĐPT). Còn về điều hành, đối nội thì Liên Đoàn Trưởng phải quán xuyến mọi việc. Do đó Liên Đoàn Trưởng phải thông suốt rành rẽ về trách nhiệm, quyền hạn, bổn phận của mình. Trách nhiệm Liên đoàn Trưởng là chịu sự thịnh suy của một đơn vị GĐPT.
Theo Quy Chế Huynh Trưởng: Phải trúng cách trại Huyền Trang mới được làm Liên Đoàn Trưởng, thực thụ và được đề nghị xếp vào cấp “tín”. Chính cái vị trí này bắt buộc Liên Đoàn Trưởng phải thấu đáo trọn vẹn tổ chức về cơ cấu, liên hệ ngang dọc, mục đích và phương pháp giáo dục.
Chỉ có sự thấu đáo toàn triệt bằng cách dự các trại huấn luyện Huynh Trưởng từ dưới lên trên và sống đúng với Nội Quy- Quy Chế Huynh Trưởng.
II. QUYỀN HẠN – NHIỆM VỤ- BỔN PHẬN CỦA L.Đ.T
Trong Quy Chế Huynh Trưởng, Chương thứ hai, Mục VII-Cấp Tín
Điều 20- Bổn phận và nhiệm vụ
* Làm Liên Đoàn Trưởng, Trại Trưởng trại Lộc Uyển và Huấn Luyện Viên Trại A Dục.
* Có trách nhiệm về sự thịnh suy của một Gia Đình
Điều 21 – Quyền hạn
* Có tất cả quyền hạn của cấp Tập.
* Được đại diện GĐPT cấp Tỉnh để biểu quyết trong các cuộc họp do BHDTrung Ương triệu tập.
* Có quyền biểu quyết trong các phiên họp, Đại hội Huynh Trưởng Cấp Tỉnh.
* Ứng cử vào Ban Hướng Dẫn Tỉnh.
Trong Nội Quy GĐPT Việt nam, Chương thứ hai điều 7: Nhiệm vụ và liên lạc.
Mục V: Cấp Gia Đình
Khoản 2: Liên Đoàn Trưởng
* Điều động Ban Huynh Trưởng
* Thi hành chỉ thị của BHD Tỉnh
* Tổ chức các khóa huấn luyện Đội Chúng Trưởng trong Gia Đình để chuẩn bị dự các khóa huấn luyện do BHD Tỉnh hay Thị xã tổ chức.
* Tổ chức các cuộc Lễ – Trại – Triển lãm, văn nghệ và công tác xã hội thuộc phạm vi Gia đình có sự đồng ý của BHD Tỉnh, Thị xã.
* Báo cáo hàng tháng cho BHD Tỉnh hay Thị Xã.
Ngoài các nhiệm vụ, bổn phận, trách nhiệm ghi rõ trong Nội Quy – Quy Chế Huynh Trưởng, Liên Đoàn Trưởng còn quán xuyến:
* Soạn thảo chương trình sinh hoạt thường niên cho ban Huynh Trưởng Gia Đình.
* Tổ chức thi vượt bậc thường niên cho Gia Đình (Riêng Trung và Chánh Thiện do BHD tổ chức)
* Thấu đáo Tổ Chức, Nội Quy, Quy Chế Huynh Trưởng, chương trình tu học Huynh Trưởng và Đoàn Sinh.
* Liên hệ hàng ngang với cấp Liên Đoàn trong
Gia Đình.
* Liên hệ hàng dọc lên Đạo hữu Gia Trưởng, BHD Tỉnh (Thông qua Đại diện BHD tại Quận, Huyện)
III. TƯ CÁCH LIÊN ĐOÀN TRƯỞNG
Mục đích thứ hai của GĐPT là cải tạo xã hội theo tinh thần Phật Giáo.
* Cải tạo xã hội trước hết cải tạo con người (Con người không thể tách rời xã hội)
* Một Huynh Trưởng với Tứ Nhiếp Pháp tất yếu không rời xã hội
* Ở trong xã hội mà giữ được tư cách của mình để nhiếp hóa các Huynh Trưởng cấp dưới và các em Đoàn sinh
* Tư cách là cái nhân cách cá nhân. Cái phong độ phát triển nơi ý nghĩ, lời nói, việc làm, làm cho người khác phát lòng kính mến để mà noi theo.
* Tư cách của Liên Đoàn Trưởng, trước hết là tư cách Huynh Trưởng nói chung và tư cách của một Liên Đoàn Trưởng nói riêng.
* Tư cách sâu đậm hơn “Tư cách lãnh đạo”
Tóm lại, vì trách nhiệm, bổn phận của một Liên Đoàn Trưởng đối với tổ
chức GĐPT, đối với Đạo, đòi hỏi Liên Đoàn Trưởng có tư cách xứng đáng.
* Tư cách được phát hiện trên toàn diện con người
* Từ hình thức bên ngoài, ăn mặc, đi đứng, nằm ngồi, hành
động trong cuộc sống hàng ngày.
* Tinh thần bên trong: Tư tưởng, tâm hồn (khẩu ý)
Phổ quát, Liên Đoàn Trưởng không đóng khung trong GĐPT mà còn thể hiện ngay tại gia đình riêng, trong mọi sinh hoạt xã hội, cha con, vợ chồng, thầy trò, bạn bè v.v.. điển hình Phật dạy ở kinh Thiện Sinh.
IV. ĐÀO LUYỆN TƯ CÁCH
Tư cách không phải tự nhiên mà có. Tư cách phải đào luyện với ý chí nhẫn nại và thường xuyên sống với tư cách. Phương pháp rèn luyện nhân cách, đức Phật đã cho chúng ta trong Chương thứ I kinh Thiện Sinh:
* Khái quát về nhân cách
* Hoán cải tâm lý
* Hoán cải hành động
* Hoán cải sự giao du
Tâm lý, hành động (thân, khẩu, ý), giao du là 3 yếu tố xác định tư cách. Một sự hoán cải theo chiều hướng thiện huân tập máu vào tim, vào ánh mắt, nụ cười để hướng ý nghĩ, hành động, lời nói của chúng ta đúng với tư cách thánh thiện. Để góp phần vào nhiệm vụ của LĐT, tôi có những kinh nghiệm sau đây:
Nhiệm vụ của Liên Đoàn Trưởng (LĐT) qua kinh nghiệm phục vụ và hướng dẫn
Kính thưa quí Bác quí anh chị theo sự hiểu biết của tôi, ngoài chương trình huấn luyện trại huấn luyện Huyền Trang để đào tạo LĐT
Đã trãi qua kinh nghiệm hướng dẫn và phục vụ trong một đơn vị Gia đình với vai trò LĐT .
Trong công tác cụ thể. Đó là vấn đề kỷ thuật.
Công việc có thực hiện đạt hiệu quả hay không, dĩ nhiên tùy thuộc rất nhiều ở đức độ và khả năng của người LĐT, tuy nhiên các việc làm cụ thể, các kỷ thuật chính yếu vẫn không hề thể thiếu được.
Từ kỷ thuật làm việc, kỷ thuật hội họp, kỷ thuật phân công giao tế, giảng dạy v.v…Tựu trung trong chức năng LĐT, các công việc sau đây chúng ta cần đặc biệt quan tâm, vì chính nó tác nhơn cho sự hòa hợp, cho tinh thần hăng hái nhiệt tình, cho từ thuận lợi cho mọi hoạt động và cả cho từ tiến bộ của chính mình, cần có mục tiêu chính yếu sau đây:
Thứ I. Phân Công.
Thật khó tưởng tượng với hình ảnh một anh chị LĐT ôm đồm, bù đầu, tóc rối, loay hoay , vừa dạy phật pháp, xong nơi nầy, phụ trách Gút mocse đầu kia, vừa viết văn thư, vừa ghi biên bản, vừa cầm còi tập họp, vừa lo nước uống cho Đoàn sinh, vừa chủ lễ, vừa đóng cửa chùa, lại bao nhiêu công việc phải điều hành nữa.
Một LĐT đa năng, đa hiệu hay … đa đoan. Chúng ta không phủ nhận nhiệt tình, nhưng chúng ta không chấp nhận độc quyền cống hiến.
Nếu chúng ta quá chú ý đến những công việc chi tiết, chúng ta sẽ không có thì giờ để có cái nhìn đại thể, cái nhìn tổng quang.
Vã lại công việc chính của LĐT là điều hành chứ đâu phải làm thay. Trách nhiệm của mỗi người trong việc chung đều quan trọng, cần biết và nặng nề như nhau. Không ai có quyền thối thoát, bỏ mặc và cũng không có ai có quyền dành lấy một mình.
Công việc lãnh đạo không phải công việc của một người mà của nhóm người, nhóm người nầy được hiểu nghĩa là một cơ cấu tổ chức của toàn BHT trong đó một sinh lực dân chủ ngự trị. Trong đó mọi HT đều có ý thức tham gia tích cực và đầy đủ tinh thần trách nhiệm. Tinh thần phải được dấy lên từ chính ngọn lửa trong tim của chính chúng ta.
LĐT phải phân chia công việc cho mọi người; Nhưng chia như thế nào ? Đó là vấn đề tổ chức, cơ cấu, chia và trao trách nhiệm cho ai để anh chị biết đâu là phần trách nhiệm, phân công việc của mình chính xác rõ ràng và có giới hạn rõ rệt. Công việc đó toàn BHT phải biết rõ, nó liên hệ đến chương trình kế hoạch chung của toàn Gia đình như thế nào – việc nầy cần thiết vô cùng – vì chính nó nâng cao tinh thần anh chị em, khi biết rằng, công việc xem ra đơn giản, nhưng phân công giao việc phải đúng khả năng người nhận, để quí HT thích thú thực hiện, thành công và phát triển năng khiếu khả năng của mình, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp chung.
Thứ 2. Tác Động.
Mục đích công việc quyết định nhiệt tình cống hiến, hãy làm rõ mục đích khi bắt tay vào việc.
Đoàn thể chúng ta là đoàn thể có mục đích rõ ràng, lý tưởng cao quí. Đó là phương tiện tác động vô cùng có hiệu qủa. Anh chị em khi khoác vào minh chiếc áo Lam đương nhiên là đã theo đuổi một lý tưởng rồi. Từ yếu tố lý tưởng đó tạo ra nhân cách mình một gương mẫu phục vụ lý tưởng và tác động anh chị em phục vụ cống hiến cho sứ mạng GĐPT như mình, qua tình cảm như danh dự, tình Lam, hộ trì Tam bảo, hoằng dương Chánh pháp.v.v…
Chúng ta phải luôn luôn duy trì cái lý tưởng đó trong anh chị em chúng ta qua các khung cảnh, các nghi lễ trang nghiêm, đôi khi linh thiêng của GĐPT. Việc mặc đồng phục, hiệu kỳ, đoàn ca riêng, luật oanh , luật thiếu…Lễ gia đình, Lễ Đoàn của chúng ta cũng cốt để tạo ra một không khí lý tưởng đó. Những hình thức này phải thực hiện một cách nghiêm túc để luôn luôn duy trì không khí lý tưởng GĐPT.
Có lúc chúng ta không được xử dụng đồng phục, hiệu kỳ v.v… là một trở ngại lớn trong công tác giáo dục của chúng ta. Hình như anh chị em HT chúng ta đều cảm nhận điều nầy.
Luôn luôn có mặt: Sự có mặt của LĐT mọi lúc, mọi nơi trong sinh hoạt là nguồn động viên lớn cho tinh thần mọi người.
Sự hiện diện của anh chị là cổ vũ động viên… Không hề là một câu nói suông, đầu môi chóp lưỡi trong anh em. Quả tình anh chị em rất cần sự hiện diện của “người lãnh đạo”, người có đủ thẩm quyền, người chiệu trách nhiệm…vì lẽ dễ hiểu anh chị em rất cần để chia sẻ sự thành công, cần nương tựa khi khó khăn, cần được hướng dẫn tự tin hơn, vui hơn, phấn chấn hơn khi có anh chị LĐT bên cạnh … ít nhất cũng là người có thẩm quyền đánh gia sự lớn mạnh của mỗi HT, của mỗi Đoàn, của từng em đoàn sinh.
Thứ 3. Hướng Dẫn.
Phải yêu cầu mọi người luôn luôn học hỏi để tiến bộ trong phương thức điều khiển Đoàn, trong phương pháp dạy Trẻ, trong kế hoạch thực hiện bất cứ công tác nào.
Anh chị em trong BHT phải tự cải tiến, bằng cách báo cáo thường xuyên các kinh nghiệm, từ đó anh chị em chúng ta suy nghĩ và trao đổi kinh nghiệm của nhau.
Không thể giao khoán công việc cho người nào mà không kèm theo sự chỉ đạo cụ thể có tính chiến lược, hoặc gợi ý về phương thức, phương thực hiện, cũng như quy trình, quy phạm rõ ràng. Hiểu biết mập mờ về mục đích, lúng túng trong phương pháp cọng với lòng nhiệt tình của anh chị em dễ dẫn tới sa đà trong công tác đưa đến thất bại vì những lý do không đâu vào đâu.
Nếu mọi người hiểu đầy đủ mình phải làm gì ? làm thế nào, làm khi nào, làm với ai và làm ra sao, thì có lẽ, chẳng cần “sinh ra” LĐT làm gì .
Khi không có người để tổ chức thực hiện một công tác khó khăn, thì thà rằng tạm dừng gác các công việc lại để Huấn luyện người còn hơn là duy trì công việc để đưa đến thất bại.( cần chất hơn cần lượng ).
Trong các tài liệu Huấn luyện, thường khuyên chúng ta khi lập Gia Đình Phật Tử mới, Đoàn mới, phải đào tạo cán bộ trước khi thu nhận đoàn sinh là không ngoài ý nầy…
Thứ 4. Thông Tin.
Liên Đoàn Trưởng phải tự mình luôn luôn biết rõ tình hình sinh hoạt ở các Đoàn, các Bậc học, các hoạt động chuyên môn.
Nhờ biết rõ tình hình chung. LĐT sẽ không lúng túng trước sự cố bất thường ngoài dự liệu.
Nhiều khi chúng ta có khuynh hướng tự ý bỏ quên một vài việc vì nó khó khăn, vì chán nãn. Chúng ta phải nhìn thẳng vào công việc để đối phó. Sự hiểu biết tình hình gồm tình hình công việc, tình hình đoàn kết, nhiệt tâm của mọi người, tâm lý nguyện vọng và phản ứng của tất cả anh chị em. Nếu ai hỏi tình hình Gia đình, đừng có câu trả lời. “ Tôi không biết” về một trình trạng nào đó bê bối trong Gia đình, thì chứng tỏ một điều: Vô trách nhiệm, hoặc không nhận sự tin cậy đặc biệt của anh chị em.
Thứ 5. Phối Hợp.
Phối hợp từ sự tiến triển sinh hoạt của Đoàn, các bậc học, các công việc bằng cách có các Đoàn, các HT phụ trách, các bộ phận khác được thông báo tình hình chung, gắng sức thực hiện nhiệm vụ của mình để góp phần vào thành tựu chung của tổ chức.
Mỗi Đoàn có quyền biết tình hình sinh hoạt của Đoàn khác như thế nào, sự việc xẩy ra? Thành công hay thất bại, buồn hay vui, và cũng có thể giải thích cho anh chị em biết việc đó ảnh hưởng đến Đoàn mình như thế nào ?
Hỏi ý kiến của mọi người để cải thiện giải quyết và quyết định lề lối làm việc chung.
Việc phối hợp trên đưa đến việc tranh đua, làm tốt hơn hoặc rút kinh nghiệm cho đoàn mình, hoặc bổ khuyết những điều thiếu sót, hoặc dư thừa gây mất cân đối ảnh hưởng đến hiệu quả chung.
Việc phối hợp thông tin trên đây được thực hiện nhờ ở các buổi họp định kỳ, hằng tuần, hằng tháng – Các báo cáo tờ trình – Những cuộc tiếp xúc riêng từng HT mà LĐT phải có nhiệm vụ quan tâm.
Tất cả những công việc trên đây nhằm bảo đảm cho một kế hoạch, một quyết định của chúng ta có cơ sở, khả thi và có thể bảo đảm để thực hiện.
Mặt khác anh chị em rất vui vẽ nhiệt tình thực hiện một kế hoạch, một chương trình khi đã quyết định đó là một tác của toàn BHT một quyết mà mọi người đều tham gia luận bàn, biểu quyết sau một buổi họp, tuy làm như vậy thật mất thì giờ nhưng bảo đảm thực hiện và thực hiện có hiệu quả.
Nói đến các cuộc họp, chỉ có kết quả thực sự khi nó phản ảnh được ý kiến mọi người. Không ai cho phép chúng ta dự thảo ra một quyết nghị rồi nói của hội nghị. Không ai cho phép chúng ta nói rằng ý kiến của chúng ta là hay nhất, thâm thúy nhất, cao cả nhất. Không ai cho phép sau buổi họp chúng ta vẫn giữ khư khư toàn bộ ý kiến của riêng mình.
Đừng sợ tranh luận. Không khí tranh luận cởi mở trong các buổi họp ảnh hưởng khá lớn đến chất lượng của các quyết nghị – Sự bất đồng ý kiến không phải là điều xấu – vì lẽ, nó sẽ giúp chúng ta nhận ra nhiều cách giải quyết giống nhau. Điều đáng trách là sự khích bác, sự thờ ơ, ngủ gục để trở thành “ cái máy gật đầu”. Rèn luyện nghệ thuật điều khiển một buổi họp là điều không thể thiếu của một LĐT giỏi.
Việc họp hành là tốt. Nhưng nên nhớ đó là giai đoạn kế hoạch. Khi thực hiện kế hoạch đừng quên LĐT là người có thẩm quyền quyết định-không thể mỗi chút mỗi họp, mỗi việc mỗi bàn-giá trị người LĐT được xác định ở đây: Quyết đoán thông minh và tỏ ra là người có thẩm quyền.
Thứ 6. Kế Hoạch:
Nói đến điều hành là đã hàm ý đến kế hoạch.
LĐT chúng ta ai cũng từng qua ít nhất một hai lần cảm thấy rối rắm “chẳng biết làm gì”- Bốn, năm Đoàn, năm, sáu Bậc học. Công việc lễ lạc chồng chéo, dẫm chân. Chúng ta càng thấm thía 2 chữ kế hoạch.
Phương pháp lập kế hoạch dài hạn, ngắn hạn, chi tiết …Chúng ta đã nói nhiều qua trại huấn luyện, hội học và chính kinh nghiệm bản thân.
Ở đây chúng ta thử xem xét trong khi lập, kế hoạch những yếu tố nào cần quan tâm.
a) Mục tiêu:
Chỉ có kế hoạch cho một công tác, khi nào biết mình nằm vào mục tiêu nào-Lễ Vu Lan năm nay ngoài mục đích chung báo hiếu, còn có những mục tiêu riêng: Gây sự quan tâm cho phụ huynh đoàn sinh, cổ động phong trào GĐPT đánh tan một sự hiểu lầm về phong trào. v.v…Trại Liên đoàn kỳ nầy có mục tiêu khác với trại Liên đoàn năm ngoái.
Cần phân biệt mục đích nào là chính yếu, mục tiêu nào là thứ yếu. Khi cần có thể hy sinh mục tiêu thứ yếu để bảo đảm mục tiêu chính yếu. Một cuộc trại, có thể bỏ chương trình hội thảo hay một buổi văn nghệ, nếu cần, để đạt đến mục tiêu khác quan trọng hơn như: Làm tăng trưởng mối tình Lam, với gia đình bạn. Bãi bỏ cuộc du ngoạn để nằm trong công tác xã hội, đây là mục tiêu chính.
b) Nắm vững phương tiện hoàn cảnh giúp đạt được mục tiêu đó về vật chất lẫn tinh thần.
c) Kế hoạch chương trình: Phải có chương trình tổng quát, chương trình chi tiết, kế hoạch phân công, qui trình, lịch làm việc được ấn định cụ thể cho từng thời điểm.
d) Tất nhiên, nên quan tâm về vấn đề tài chính “ có thực mới vực được đạo” mà!.
e) Cuối cùng là tính thực tế của kế hoạch, đảm bảo có thể thực hiện được:
Có nhiều kế hoạch rất hay, song mỗi hoàn cảnh, chỉ có một kế hoạch thật hay, thật đúng. Kế hoạch ấy có thể là kế hoạch tầm thường nhất, không làm cho ta nổi tiếng, không đạt toàn bộ ý muốn của chúng ta- nhưng là kế hoạch duy nhất có thể thực hiện được. Người LĐT có trách nhiệm quyết đoán, phải có khả năng lựa chọn trúng kế hoạch ấy.
Thứ 7. Đôn Đốc.
Việc đôn đốc, đối với LĐT, là việc làm thường xuyên.
Dầu rằng anh em Huynh trưởng tham gia với tinh thần tự nguyện, hy sinh, nhưng biện pháp đôn đốc vẫn đưa đến hiệu quả tốt nhất.
Trong việc đôn đốc, việc biểu dương, hay kiểm điểm giữ vai trò quan trọng trong GĐPT, kiểm điểm không có tính răng đe, trừng trị mà chỉ có tác dụng nhắc nhở.
LĐT khi biểu dương, kiểm điểm phải nhân danh lý tưởng, nhân danh tập thể, không bao giờ nhân danh mình. Khen thưởng phải công minh và công khai. Khiển trách có thể kín đáo, hoặc công khai sau khi người bị khiển trách biện hộ.
Những sự biểu dương kiểm điểm có mục đích duy trì kỷ luật tập thể phải xẩy ra lúc công việc đang tiến hành chứ không phải sau khi công viẹc đã hoàn tất.
Dù biểu dương hay kiểm điểm LĐT phải duy trì không khí vui vẽ, hiểu biết và đối xử một cách công bình, vô tư và ân cần, thắm đậm tìmh Lam. Nên nhớ rằng động cơ thúc đẩy vẫn là Từ Bi.
Trước khi khiển trách, chúng ta tự hỏi: Trong lỗi lầm nầy chúng ta, LĐ, có bao nhiêu phần trách nhiệm? và trả lời thỏa đáng: Việc xấu hay người xấu?
Và nên nhớ: “Thưởng phạt” trên đây là một biện pháp đôn đốc công việc. một tràn pháo tay, một lời trách móc nhẹ nhàng đều có tác động thưởng phạt, (biểu dương hay khiển trách).
Khác với thi hành Kỷ luật, bằng một hội đồng kỷ luật theo Quy chế là một biện pháp chỉ xẩy ra khi sự việc đã đến lúc “chẳng đặng đừng,” Mà thực tế trong tổ chức chúng ta việc nầy cũng hiếm khi.
Thứ 8. Báo Cáo.
Một nhiệm vụ của LĐT là Báo cáo lên Ban Hướng Dẫn cấp trên.
Ngoài nhiệm vụ thông tin, khi lập báo cáo chúng ta phải tự xem rằng: Đây là một dịp chúng ta nhìn lại chính mình với cái nhìn toàn diện. Nhìn lại thành tích, nhìn lại thiếu sót của mình cũng như những kinh nghiệm, đôi khi đau xót, chúng ta rút ra được.
Đương nhiên, với ý nghĩa “nhìn lại” đó, “việc làm báo cáo hay” là không thể chấp nhận được, báo cáo phải trung thực “ Nên nhớ rằng LĐT là một Ban Hướng Dẫn thu hẹp”. Dối với người còn có thể tha thứ được, chứ lừa dối chính mình thì …e quá!!.
Nói đến báo cáo không thể không nhớ đến tổng kết rút kinh nghiệm sau mỗi công việc, giải quyết mâu thuẩn trong anh chị em sau một quá trình công tác, điều nầy không thể tránh khỏi. Phải làm ngay, đừng, “để lâu cức trâu thành bùn” , đừng để mâu thuẩn nhỏ trong anh em trở thành ung nhọt. Bệnh nào cũng có thể gây biến chứng nếu không chữa ngay. Biến chứng nào cũng nguy hiễm hết. Chúng ta có thể biện hộ bằng từ ngữ “bao dung”, nhưng coi chừng có thể chúng ta đã “bao che”.
Tổng kết rút kinh nghiệm được xem như một báo cáo trung thực cho chính chúng ta. Do đó, quyền được tự hào về thành quả công việc cũng như quyền được nói lên những tâm tư, thắc mắc, uất ức của anh chị em phải được xem là một nhu cầu chính đáng.
Công việc của Liên Đoàn Trưởng quả là đa sự, khó khăn nhưng là việc đáng làm!. ..

KẾT LUẬN.

Kính thưa Anh Trưởng Ban quí anh chị trong BHD/TT.Quí Anh chị trong ban điều hành tổ chức khóa Hội thảo hôm nay.
Kính thua quí Bác Gia trưởng, quí anh chị Liên Đoàn Trưởng, Quí anh chị Thư ký
“Chúng ta không có tham vọng trở thành một LĐT xứng đáng, nhưng chúng ta đã từng cố gắng để xứng đáng với chức vụ đã mang. Chúng ta qủa thật còn lâu mới trở thành một LĐT xứng đáng”. Những nguyên tắc, những suy nghĩ trên đây đâu có bắt buộc chúng ta sẽ làm được hết- Biết là một việc, làm được mới thiên nan vạn nan.
Giả dụ, có những HT nào đã điều hành Gia đình theo đúng những điều đã đề nghị trong bài thuyết trình tham luận nầy. Theo tôi nghĩ , thì Anh chị LĐT ấy qủa thật tốt đẹp-Tốt đẹp đến độ khó có thể tin được.
Điều quan trọng chúng ta phải nhớ là, chúng ta đã được chọn lựa, để chu toàn nhiệm vụ nầy vì chúng ta được anh chị em tín nhiệm.
Không thể coi đó là một gánh nặng, những người trao phó cho chúng ta trách nhiệm nặng nề không phải đòi hỏi chúng ta phải là một con người tuyệt luân. Nhưng anh chị em tin rằng chúng ta đã có một số yếu tố, một số điều kiện và khả năng hướng dẫn, có thể xử dụng hữu hiệu, vượt qua mọi chướng ngại, đưa chúng ta hoàn thành trách nhiệm một cách tốt đẹp nhất với sự cọng tác của toàn BHT. Anh em ước mong chúng ta hãy đem hết khả năng của mình, cùng với sự giúp đỡ của BHT, chúng ta có đựơc những kinh nghiệm cần thiết. Chúng ta sẽ đóng góp thật sự có hiệu quả trong công tác giáo dục đoàn sinh, nếu chúng ta nhận lãnh trách nhiệm với lòng tha thiết, mong muốn một LĐT giỏi, luôn nỗ lực tìm kiếm những phương thức tốt đẹp cho công tác giáo dục khó khăn kia.
Chúng ta cần nhận thức rằng mọi công tác không trôi chảy một cách đều đặn. Có đôi lúc chúng ta thấy mãn nguyện, và cũng có khi chúng ta cảm thấy chán nản và tự hỏi. “Làm sao mà ta đã đừng dám nghĩ rằng mình sẽ là một LĐT giỏi?.
Có những lúc chúng ta cảm thấy mình hình như không đạt một tiến bộ cỏn con nào. Nhưng có lẽ chúng ta đừng lo lắng. Chính lúc mọi sự đều có vẽ trôi chảy là nguy hiễm đang tới dần, bởi vì sự hài lòng có thể dẫn đến tự mãn, tự kêu “ Làm việc đừng mong không gặp khó khăn, vì không gặp khó khăn thì kêu xa nổi dậy” .
Có lẽ chúng ta cũng đừng thắc mắc nhiều về thành quả thấy được trong công tác giáo dục- vì nó lâu dài- Và thực ra chúng ta đâu có mong cầu thành bại, lợi hại, thắng thua. Nếu không chúng ta đã làm chính trị, đã làm kinh doanh, hay làm nhà quân sự. Chúng ta chỉ có một chọn lựa. “ Việc nên làm hay việc không nên làm”.
Chúng ta cần mẫn như người gieo hạt- gieo chủng tử tốt cho đàn em chúng ta, chúng ta cứ tiếp tục cần mẫn gieo hạt, đời sẽ gặt hái thành quả.
Đức Phật sẽ gia hộ cho chúng ta, hạt được gieo vào đất tốt.
Đừng cầu mong một phần thưởng nào hết, dù chúng ta đã xuất sắc trong nhiệm vụ. Nhưng thử tưởng tượng xem, một ngày nào đó, chúng ta có thể ngẫn mặt tự hào: “ Em đó ngày nay đã khá hơn vì đã có thời gian làm đoàn sinh của tôi…” Còn phần thưởng nào lớn hơn chăng.
Nhiệm vụ LĐT là nhiệm vụ khó khăn nặng nề chẳng có gì là “dễ ăn” cả, nhưng chúng ta làm một công việc rất đáng làm. Thưa quí bác, qúi anh chị em. Trong các nghề nghiệp, nghề nào cũng có lương bổng cả, chỉ có cái nghề không có “ lương bổng” mà lại có “lương tâm”. Đó là nghề Huynh trưởng:
Lông kê hữu thực thang oa cận, dạ hạt vô lương thiên địa khang.
Tạm giải rằng: Con gà nhốt ở trong lồng, tuy có người hằng ngày chu cấp lương thức nước uống, đầy đủ nhưng : Nồi nước sôi và cây dao bén để kề bên cái cổ.
Con chim hạt bay ngoài đồng nội, không có ai chu cấp lương thực, nhưng không chết, mà vẫn thấy trời đất rộng thênh thang ….
Cuối cùng kết thúc đề tài chúc anh chị hoàn thành nhiệm vụ LĐT, và mong sự tham gia thảo luận góp ý để rút kinh nghiệm phục vụ tổ chức tốt hơn …
Liên Đoàn Trưởng đóng vai trò quan trọng, được liệt vào hàng lãnh đạo GĐPT. Để hoàn thành nhiệm vụ này, người Liên Đoàn Trưởng phải được đào luyện qua các trại huấn luyện. Ngoài ra không ngừng cầu tiến học hỏi, nghiên cứu và áp dụng vào cuộc sống hằng ngày một cách nhuần nhuyễn. Có như thế mới xứng đáng đứng vào hàng lãnh đạo Phật tử, là một đầu tàu kiên dũng đưa Liên Đoàn và Gia Đình dũng tiến.

Khóa Hội thảo Gia Trưởng, Liên đoàn trưởng, Thư ký GĐPT cơ sở
toàn tỉnh Thừa Thiên
Vào ngày 16 tháng 11 năm 2010 – Tại chùa Bảo Quang – Huế

CHƯƠNG TRÌNH HUẤN LUỆN TRONG GĐPT

I. Trại huấn luyện Đầu, Thứ Đàn (Tuyết Sơn)
II. Trại huấn luyện Đội, Chúng trưởng
III. Trại huấn luyện Huynh trưởng
1- Sơ Cấp
2- Cấp I
3- Cấp II
4- Cấp III

CHƯƠNG TRÌNH TRẠI HUẤN LUYỆN TUYẾT SƠN
(ĐẦU THỨ ĐÀN NGÀNH OANH)

A – PHẬT PHÁP: 1. Quy y Tam bảo
2. Niệm Phật
3. Ăn chay

B – TỔNG QUÁT:
1. Châm ngôn của Đoàn
2. Nhiệm vụ của Đầu Thứ Đàn
3. Tư cách Đầu Đàn
4. Bổn phận đối với gia đình, học đường, đồng đội và mọi người
5. Đàn và Đàn kiểu mẫu.
6. Sổ sinh hoạt
7. Sổ điểm danh của Đàn
8. Sổ tay Đầu Đàn

C. HOẠT ĐỘNG.
1. Trò chơi của Đàn
2. Hình thức và hiệu lệnh tập họp Đàn.
3. Truyền tin
4. Gút
5. Cấp cứu
6. Đấu đi đường

I. CHƯONG TRÌNH HUẤN LUYỆN ĐỘI CHÚNG TRƯỞNG

* Nghề Đội Chúng
* Tâm lý đội sinh
* Tinh thần đồng đội
* Hiểu mình, hiểu bạn
* Kỷ luật đội chúng
* Góc đội chúng
* Họp đội chúng
* Trò chơi đội chúng
* Cách điều khiển một trò chơi nhỏ
* Cách tập một bài hát
*Bài ca đội chúng, Lễ lược đội chúng, sổ tay đội chúng
* Đội chúng tự trị
* Báo chí đội chúng
* Hoạt động xã hội của đội chúng.

II. CHƯƠNG TRÌNH TRẠI HUẤN LUYỆN HUYNH TRƯỞNG LỘC UYỂN
(10 ngày đêm liên tục)

1/ PHẦN TỔNG QUÁT
1. Vấn đề huấn luyện HT/GĐPT/VN
2. Trại Lộc Uyển
3. Huynh trưởng GĐPT
4. Tâm lý trẻ

2/ PHẬT PHÁP
1. Những đặt tính của Phật Pháp
2. Đức Phật với thanh niên
3. Đức tin của Huynh Trưởng
4. Đạo Pháp và Dân tộc
5. Ứng dụng Phật Pháp vào sinh hoạt GĐPT

3/ THẤU ĐÁO VỀ GA ĐÌNH PHẬT TỬ
1. Lịch sử GĐPT
2. Nội Quy và Quy Chế Huynh trưởng
3. Các ngành trong GĐPT
4. Huân tập trong giáo dục GĐPT
5. Các bộ môn tu học tinh thần và ứng dụng
6. Hình thức GĐPT
7. Chào Kỉnh
8. Những Huynh trưởng và đoàn sinh hy sinh cho Đạo Pháp va dân tộc

4/ THẤU ĐÁO VỀ TỔ CHỨC MỘT ĐOÀN
1. Người Đoàn phó
2. Tổ chức và quản trị 1 đoàn
3. Hình thức tập họp – hiệu lệnh
4. Sinh hoạt Đoàn
5. Lễ lược Đoàn
6. Đội, Chúng, Đàn

III. CHƯƠNG TRÌNHTRẠI HUẤN LUYỆN
HUYNH TRƯƠNG A-DỤC
7 ngày đêm sau Lộc Uyển 2 năm

I/ PHẦN TỔNG QUÁT
1. Tinh thần huấn luyện trại A-Dục
2. Lý tưởng của người huynh trưởn
3. Người Đoàn trưởng
4. Mục đích và phương pháp giáo dục trong GĐPT
5. A-Dục
6. Các vị cư sĩ: Tâm Minh, Chánh Trí

II/ PHẬT PHÁP
1. Tứ Nhiếp Pháp với Đoàn trưởng
2. Tứ Diệu Đế
3. Đức Phật Thích Ca với V/đ giáo dục
4. Lục Hòa

III/ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
1. Phong trào chấn hưng Phật giáo tại Việt Nam
(đại cương)
2. Các Hội Phật giáo trước năm 1963 (đại cương)

IV/ THẤU ĐÁO VỀ NGÀNH
1. Ý nghĩa chia ngành
2. Tâm lý ngành
3. Hiểu trẻ và biết nhu câu của trẻ
4. Khung cảnh
5. Những trẻ khó tính
6. Kỷ luật
V/ CẦM ĐOÀN
1. Vạch chương trình sinh hoạt
2. Hoạt động của Đoàn
3. Huấn luyện Đội Chúng Đàn
4. Hàng Đội tự trị
5. Trại
6. Lửa trại
7. Trò chơi
8. Văn Nghệ GĐPT
9. Báo Đoàn
10. Thi vượt bậc
11. Công tác xã hội

IV. CHƯƠNG TRÌNH TRẠI HUẤN LUYÊN HUYÊN TRANG
5 ngày đêm sau A-Dục 3 năm

I/ PHẦN TỔNG QUÁT
1. Tinh thần HL trại Huyền Trang
2. Huynh trưởng với quê hương
3. Liên Đoàn trưởng
4. Sự liên hệ ngành ngang, ngành dọc
5. Phê bình kiểm thảo

II/ PHẬT PHÁP
1. Bát Chánh Đạo
2. Tám trai giới
3. Huyền Trang Pháp Sư với Đại thừa Phật giáo

III/ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
1. Cuộc vận động củagiáo năm 1963 đến 1966
2. Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất
3. Đức cố Đại lão Hòa Thượng Tăng Thống Thích Tịnh Khiết
4. Cố Thượng Tọa Viện trưởng Thích Thiện Hoa

IV/ ĐIỀU ĐỘNG GIA ĐÌNH PHẬT TỬ
1. Quản trị gia đình
2. Lễ lược gia đình
3. Công tác thường niên BHT/GĐ
4. Sinh hoạt riêng biệt Nam Nữ
5. Trại hè
6. Trại công tác
7. Trại du khảo cho BHT
8. Tủ sách gia đinh
9. Báo gia đình
10. Triển lãm
11. Một buổi trình diễn văn nghệ Gia đình

V. CHƯƠNG TRÌNH HUẤN LUYỆN TRẠI VẠN HẠNH
5 ngày sau 5 năm Trại Huyền Trang

I/ PHẦN TỔNG QUÁT
1. Tinh thần Huấn luyện Trại Vạn Hạnh
2. Sứ mệnh Huynh trưởng
3. Người lãnh đạo
4. Các tổ chưc thanh niên trong và ngoài nước

II/ PHẬT PHÁP
1. Đạo Phật trong đời sống thanh niên
2. Tri hành trong đạo Phật
3. Nhân sinh quan, vũ trụ quan Phật giáo
4. Vạn Hạnh Thiền Sư
III/ PHÁT HUY GIA ĐÌNH PHẬT TỬ
1. Tâm lý quần chúng
2. Phật Pháp trong đời sống xã hội
3. Hiện trạng thanh niên Việt Nam
4. Họp bạn
5. Trại trưởng
6. Trại huấn luyện
7. Văn nghệ GĐPT
8. Các vấn đề liên quan đến tổ chức và sinh hoạt GĐPT Việt Nam

VI. PHẦN TỰ NGHIÊN CỨU

Kinh giáo – Lăng Nghiêm – Pháp Hoa – Pháp Bảo Đàn – Duy Ma Cật – Kim Cang – Bát Nhã – Thắng Mang, sau kỳ Trại này là Trại Bổ túc Huynh trưởng cao cấp Trần Nhân Tông.
Nhưng từ năm 1975 đến nay tuy có mở các Trại huấn luyện, các bậc học như thế, nhưng không có điều kiện, thời gian để học tập đầy đủ như trước đây (trước năm 1975).
Nhìn vào hàng ngũ Huynh trưởng của GĐPT An Bằng từ ngày thành lập 1957 cho đến nay đầu năm 2010. Chúng ta phải công nhận rằng, những anh chị Niên trưởng đi trước đã có những cân não, tuyển chọn con người đào tạo Huynh trưởng, để truyền trao sứ mạng phục vụ cho GĐPT và chắc rằng trong tương lai, chúng ta thấy những Huynh trưởng đã phục vụ qua từng thời kỳ kế tiếp đều được huấn luyện kỷ cương, có tâm huyết, nhiệt tình, đầy đủ tài năng đạo đức để phụ vụ xây dựng và lãnh đạo phát triển lý tưởng GĐPT làm cho tổ chức nầy càng ngày càng vững mạnh, tiến lên…

CÁC LỄ NGHI TRUYỀN THỐNG
CỦA KHUÔN HỘI VÀ GĐPT AN BĂNG

Phật Giáo An Bằng có nhiều căn cơ, phước báu với Mười Phương Chư Phật, từ nhiều đời, nhiều kiếp, trong đó có thế hệ GĐPT, hôm nay quê hương chúng ta đạo Phật phát triển được lớn mạnh, đã có hàng chục gia đình có con đi xuất gia làm sứ giả của Như Lai trên khắp mọi miền đất nước và thế giới trên 40 Tăng, Ni, qua nhiều pháp môn tu học, đến nay có vị lên hàng Đại Đức, Thượng Tọa, Sư Cô, tương lai có khả năng tiến lên hơn nữa, đã và đang lo hành hóa, phụng sự chúng sanh, góp phần xây dựng đạo pháp tại quê nhà. Tăng, Ni thuộc Khuôn hội Phật giáo An Bằng đi xuất gia, đa số đều xuất phát từ GĐPT An Bằng, hoặc con cái của quí Huynh trưởng mà ra.
Những Lễ nghi truyền thống và sinh hoạt của Khuôn Hội Phật Giáo và GĐPT An Bằng từ xưa cho đến nay, đều mang nét đặc trưng, đặc sắc văn hóa truyền thống, tốt đẹp của Đạo Pháp và dân tộc, mang tính giáo dục đạo đức Phật Giáo hướng đến Chân-Thiện Mỹ trong quần chúng nhân dân và tín đồ Phật Giáo, cụ thể những lễ nghi sinh hoạt sau đây không thể bỏ qua được.
Về Khuôn Hội tối 30 Tết tổ chức lễ Sám hối, Ban Đại Diện phân công trực đón Giao thừa, ra Tết khai kinh đăng đàn Dược Sư đến ngày rằm (15) tháng giêng lễ Cầu An đầu năm cho toàn thể dân làng và đạo hữu từ trong nước đến hải ngoại, có Ban Hương Tộc, Bô Lão Làng, Phường, Xóm và 43 họ tộc tham dự. Lễ Hiệp kỵ của Khuôn Hội vào ngày mồng 1 tháng 11 hằng năm, lễ Phật Đản, lễ Vu Lan những ngày đại lễ nầy Khuôn Hội đều kết hợp với GĐPT để tổ chức. Nội quy của Khuôn Hội, điều 18 qui định ngày mồng 1 hàng tháng là lễ cầu an chung của toàn phật tử, ngày rằm (15 là lễ cầu siêu ký tự )
Về GĐPT Lễ Chu Niên, lễ hái hoa Mừng Xuân Di Lạc vào sáng mồng một Tết Nguyên Đán, có muôn vàng, màu sắc rực rỡ , những câu kinh Pháp Cú, những câu truyện Kiều, câu đối Tết, những lời chúc Tết, Mừng Xuân, đều nằm sẵn trong các gói hàng chỉ chờ bắt số may mắn, đây là một truyền thống đặc trưng hiếm có từ xưa đến nay. Ngoài ra còn có, các trại hộ lễ trong những ngày đại lễ Phật Đản, Vu Lan, Thành Đạo, những ngày lễ vía Phật và Bồ Tát.
Từ khi thành lập đến nay GĐPT An Bằng, luôn sinh hoạt vào các ngày chủ nhật. Ngành Thanh sinh hoạt vào các ngày mồng 1 và 15 Âm lịch.
Khuôn Hội hiện nay kể từ năm 2009 đến nay đã có Đạo tràng Tinh Độ, Đạo tràng Pháp Hoa thường lễ tụng kinh tại chùa, vào những buổi chiều về mùa hè quí phật tử lễ Phật tại Tượng Đài Quan Thế Âm ở bãi biển.
Nhìn vào sự nghiệp phát triển và xây dựng Phật sự của Khuôn Hội và GĐPT An Bằng chúng ta đáng phấn khởi và tự hào. Phật giáo An Bằng đang thăng tiến cùng với phát triển của thời đại, trên đất nước nói chung, trên quê hương xứ sở nói riêng.

ĐÓN XUÂN
Chúa Xuân ơi, lòng người quá rộng !
Trãi niềm vui, vạn vật đất trời.
Khắp nơi nơi, lòng người hớn hở,
Đón Xuân về, rực rỡ cờ hoa.
Niêu đã dựng, trước nhà dâng lễ,
Cúng tất niên, đón rước ông bà.
Ba mươi Tết, cũ qua mới lại,
Phút giao thừa, huyền diệu thiêng liêng,
Cầu chúc ai, hỷ lạc hiện tiền.
Tâm giải thoát, bình yên tự tại.
Xuân Tân Mão ( 2011)
Nguyên Ngộ Đào Hoài.

ĐÓN TẾT QUÊ NHÀ
Trời cuối đông, từng cơn gió nhẹ.
Bên bếp hông, cứ tưởng nắng Xuân.
Cành mai vàng, đợi sẵn ngoài sân,
Chờ giây phút, chào Xuân năm mới,
Đêm giao thừa, thiêng liêng quá đổi
Từng sát na, cũ mới giao thoa,
Mùi hương quyện, pháo hoa dòn dã,
Cùng trúng chiêng, vang dội một hồi,
Rồi sau đó trời, người yên lặng,
Giữ nghiêm mình, tịnh mặc đón Xuân,
Mong ngày mai, tất cả thông dung,
Xuân mới mẽ, an khang thịnh vượng,
Xuân thanh bình, hạnh phúc yên vui,
Càu chúc cho, hết thảy mọi loài,
Đều được hưởng, mùa Xuân như ý.
Xuân Tân Mão (2011)

LỄ CHU NIÊN LẦN THỨ 24 GĐPT AN BẰNG
diễn văn chào mừng đại biểu.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính cung bạch Thượng Tọa trưởng ban hoằng pháp Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Thừa
Thiên Huế.
Kính thưa ban hướng dẫn GĐPT Thừa Thiên.
Ban bảo trợ GĐPT Thừa Thiên
Quý vị trong lãnh đạo chính quyền UBND,
UBMT Tổ Quốc Việt Nam xã Vinh An
Đại diện BHD/GĐPT/Thừa Thỉên tại huyện Phú Vang và các huyện trong tỉnh Thừa Thiên- Huế
Ban Niệm Phật đường An Bằng, Hà úc.
Quý Bác cựu khuôn trưởng, gia trưởng, huynh trưởng, cựu đoàn sinh.
Quý ban huynh trưởng của các đơn vị GĐPT trong các huyện
Quý anh chị em huynh trưởng Phật Tử Việt Kiều.
Quý Bác, quý anh chị em thiện tín và ân nhân của GĐPT An Bằng.

Kính Bạch Thượng Toạ
Kính thưa liệt quí vị

Diễn hành lễ Chu Niên

Hôm nay ngày 19 tháng 02 năm Ất hợi Phật lịch 2538. Cũng là ngày cách đây 24 năm GĐPT An Bằng được BHD/GĐPT – Thừa Thiên công nhận chính thức hoá, và trước đó ba năm được phép sinh hoạt lâm thời.
Quý bác quý anh đã khai sinh ra GĐPT An Bằng và người làm gia trưởng đầu tiên là Bác Tâm Ninh Lê Phát, hiện nay nguyên Khuôn trưởng, Trưởng ban niệm Phật Đường An Bằng, Từ đó cho đến nay đã 8 đời gia trưởng.

Liên Đoàn Trưởng báo cáo tổng kêt Lễ Chu Niên GĐPT An Bằng

Ban Huynh trường và một đội mạnh ngành Thanh GĐPT An Bằng

Do điều kiện lịch sử chiến tranh nên chưa có dịp tổ chức lễ ra mắt, để họp mặt anh em và cung đón quý thầy. BHD/Thừa Thiên trao cờ chính thức, chỉ có hàng năm tổ chức trong phạm vi nội bộ gia đình.

Đoàn Quán GĐPT An Bằng

Hôm nay được Ban đại diện Phật giáo huyện Phú Vang – Ban hướng dẫn GĐPT/Thừa Thiên Huế – Ban Niệm Phật Đường An Bằng cho phép tổ chức lễ ra mắt nhân dịp Chu niên lần thứ 24.

Chào mừng quang khách tham dự lễ Chu niên
GĐPT An Bằng lần thứ 37 (2008)

Tại buổi lễ nầy thay mặt GĐPT/An bằng ở trong nước và Hải Ngoại xin cung kính:
Chào mừng Thượng Tọa
Ban hướng dẫn GĐPT/TT – Ban bảo trợ.
Quý cấp lãnh đạo chính quyền UBND, UBMT Tổ Quốc Việt Nam xã Vinh An.
Đại diện BHD/TT tại các huyện
Ban Niệm Phật đường An Bằng, Hà úc.
Quý ban huynh trưởng các gia đình các huyện.
Quý bác cựu huynh trưởng,cựu đoàn sinh, gia trưởng, huynh trưởng, quý đạo hữu, ân nhân của GĐPT/An Bằng, đã hoan hỷ quan tâm tham dự.
Sự hiện diện đông đủ của quý vị là một vinh dự lớn lao, một khích lệ quí báu cho tổ chức GĐPT chúng tôi.

Quí bác và anh chị em tham dụ Lễ Chu niên lần thứ 37GĐPT An Bằng (chúng em đáng trân trọng)

Kính thưa liệt quý vị.
Như chúng ta đã biết tổ chức của GĐPT đã có với thời gian 50 năm, một chặng đường suốt nửa thế kỷ đi qua, không phải đi qua trong thầm lặng mà nó uyển chuyển đi qua trong thăng trầm của lịch sử xã hội, không một ai có tâm thành có chí hướng mà lại có thể nhìn GĐPT như một lớp phù hoa, hay một công cụ của giai đoạn được.
Nó trách rời ý niệm chính trị, để hoà nhập vào trong thể đạo, vào đời qua kỷ cương của tổ chức để đào tạo thanh thiếu đồng niên sống đúng chân tình cao quý của Phật giáo, với ước vọng làm sáng tỏa vĩnh viễn ánh đạo vàng muôn thuở của đức từ phụ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.

Tạo cho đời những công dân hữu ích sống đúng Chân Thiện Mỹ và xứng đáng làm người con Phật. GĐPT An Bằng xuất thân trong từ đó, một GĐPT ở nông thôn vùng biển. Huynh trưởng và đoàn sinh quanh năm suốt tháng làm kế sinh nhai trên biển cả ba đào, lấy đất cát làm gối êm nệm ấm, lấy màn trời làm chăn chiếu, lấy gió sương làm tăng thêm niềm sức khoẻ.
Huynh trưởng nữ và đoàn sinh nữ đòn gánh đè vai một nắng hai sương bước đi trong đêm thầm lặng, băng đồng vượt phá để buôn chín bán mười, kiếm tiền sinh sống gia đình nuôi con cái, phụng dưỡng cha mẹ già.
Nhưng vẫn biết và xem các GĐPT ở chốn thành thị cố đô như anh em ruột thịt một nhà. Qua thời gian có phần lắng xuống nhưng tâm đạo bỗng sôi, lúc nào cũng sinh hoạt tu học theo đúng Nội quy và Quy chế huynh trưởng GĐPT/ Việt Nam.
Trong 24 năm qua GĐPT / An Bằng chưa tìm thấy một khoảng thời gian nào gián đoạn.
Nói đến đây chúng con được xin phép quý thầy quí vị đại biểu cho chúng con một phút im lặng trong giây lác dành lại để:
Tưởng nhớ đến quí bác cố cựu khuôn trưởng, trong ban đại diện, cố gia trưởng, huynh trưởng và đoàn sinh GĐPT An Bằng đã mất trong mọi hoàn cảnh.
Và cũng không quên quí bác quí anh chị đang còn hưởng dương đã và đang dày công vun trồng xây dựng GĐPT cho đến ngày hôm nay.
Qua nhiều phật sự sinh hoạt khác nhau, kiểm nhìn lại những vị gia trưởng, những anh chị huynh trưởng, những đoàn sinh đã vì lý tưởng áo lam hy sinh quá nhiều cho tổ chức GĐPT.
GĐPT An Bằng vui mừng nhưng cũng lắn lòng nghĩ đến quí bác, quý anh chị em đã vì qúa nhiều hoàn cảnh không thể tiếp tục sinh hoạt tại quê nhà, nên phải đi làm ăn sinh sống trên đất khách quê người, hoặc không hiện diện nơi đây và hôm nay không phải là điều chủ ý, mà do hoàn cảnh mọi mặt đưa đến.
GĐPT An Bằng nhờ vào thiện duyên chịu khó khắc phục vượt qua mọi thử thách, chướng ngại, nhờ quí ôn, quí thầy dìu dắt, Ban Hướng Dẫn Thừa Thiên. Ban Đại Diện huyện Phú Vang và Khuôn giáo hội An Bằng chỉ đạo, quí bác cựu khuôn trưởng, gia trưởng các đại biểu thập phương thiện tín, các bậc phụ huynh đều đưa đến niềm tin tu học thuận lợi.
Trong hơn 24 năm qua GĐPT An Bằng, vẫn là GĐPT/Việt Nam.
Kính Bạch Quí Thầy
Kính thưa quí vị anh chị
Kính thưa quí vị đại biểu
Trong hoàn cảnh qúa khứ cũng như hiện tại và chắc chắn cả tương lai GĐPT An Bằng sẽ phát huy hơn nữa tu học và sinh hoạt từng bước tiến lên… Không bao giờ buôn tay dừng lại trên dốc đá của cuộc đời.
Xin hãy đến với GĐPT An Bằng, bằng những niềm tin yêu và hy vọng, xin hãy đến với GĐPT An Bằng, bằng ánh sáng cảm thông vì ở đây hận thù không có, tình thương sẽ được lan tỏa chắp cánh bay cao trên khung trời xanh ngào ngạt của hương từ bi.
Xin hãy đến với GĐPT An Bằng để bước vào con đường DŨNG cánh cửa đã và đang rộng mở, để cùng nhau khởi sự tiếp nối cuộc hành trình… Mùa xuân mới với sự chuyển mình của đất nước, của cây, của lá, của hoa và của vạn vật.
Thay mặt GĐPT An Bằng ở trong nước và Hải Ngoại, kính gởi đến quí ôn, quí thầy, quí cô, Ban Hướng Dẫn Thừa Thiên, chư quí vị đại biểu, quí bác cùng toàn thể anh chị em lời chào cung kính, đoàn kết tin yêu, bằng niềm tin son sắt ở khả năng và sáng tạo, xây dựng trường cửu của con người áo lam đối với phong trào GĐPT/ Việt Nam. đối với đạo pháp. đối với Dân tộc.
Kính chúc quí ôn, quí thầy pháp thể khinh an chúng sanh dị độ.
Trân trọng kính chào mừng…
Nam mô thường tinh tấn bồ tát ma ha tát.
Ngày 19 tháng 2 năm Ất Hợi (1995)
TM/GĐPT An Bằng

DIỄN TỪ

CHÀO MỪNG LỄ KHÁNH THÀNH CHÙA AN BẰNG
PHẬT LỊCH 2549
Ngày 11 và 12 tháng 6 năm 2005
(5 và 6 tháng 5 năm Ất Dậu).

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Trước hết chúng con xin thành kính đảnh lễ chào mừng Chư Tôn Giáo Phẩm – Chư Thượng Tọa – Đại Đức Tăng, Ni – Ban Trị Sự Tỉnh Giáo Hội Thừa Thiên- Huế.- Ban Đại Diện huyện Phú Vang.
Kính chào mừng quí đại biểu đại diện UBND- UBMT/TQ- Ban Tôn giáo và các ban ngành liên quan cấp tỉnh TT/Huế.
Kính chào mừng đại biểu đại diện huyện Ủy- UBND- UBMT/TQ huyện Phú Vang và các ban ngành liên quan cấp huyện.
Kính chào mừng đại biểu đại diện Cấp ủy- UBND- UBMT/TQ xã Vinh An và các đại biểu đại diện quí cơ quan các cấp đang công tác trên địa bàn xã Vinh An.
Kính chào mừng Quí vị Bô lão làng – Hội Đồng Hương Tộc làng An Bằng – đại diện đại biểu Hội Đồng Giáo Xứ An bằng, Hà úc – đại diện quí đại tôn họ Khai canh – Khai khẩn và Thập Nhị Tôn Phái của 43 họ tộc thuộc làng An Bằng.
Kính chào mừng quí đại biểu đại diện các Niệm Phật Đường- Ban Hướng Dẫn GĐPT/TT và ban huynh trưởng GĐPT thuộc phạm vi trên.
Kính chào mừng đại biểu đại diện các toán thợ nề, kép, thợ mộc, thợ đúc Tượng, đúc chuông, thợ điện, thợ trang trí nội thất trong chùa.
Kính chào mừng quí vị quan khách, ân nhân của Khuôn hội Phật giáo An bằng.
Kính chào mừng HPTAB/HN và toàn thể phật Tử thuộc KHPG/ An bằng ở trong nước, ngoài nước đã không quản ngại đường sá xa xuôi cách trở đều có mặt hôm nay để chung lo và chia sẻ niềm vui trong ngày lễ trọng đại nầy.
Xin thành kính đảnh lễ và nhiệt liệt chào mừng quí vị đại biểu hiện diện hôm nay.
Kính bạch Chư tôn Thiền đức.
Kính thưa liệt quí vị.
Nói đến Phật giáo An Bằng chúng con xin nghiên mình đảnh lễ tưởng niệm đến quí vị tiền bối hửu công qua các Triều đại đã và sáng lập ra Ngôi chùa đầu tiên tại Độn bồ “ hay nói một cách khác là Độn Bồ đề ” nằm về phía Bắc làng của An Bằng thì đạo Phật bắt nguồn từ đó..
Mãi đến hàng trăm năm sau khi Phật giáo tỉnh nhà TT/Huế có chủ trương lập Hội, thì Hội An Nam Phật Học An Bằng có từ năm 1947, Do các phật tử tiền bối trong làng thời bấy giờ đứng ra sáng lập và lảnh đạo, rồi từ đó mà tiến dần lên, đến trước năm 1975, tức là trước ngày đất nước thống nhất, trong khoản thời gian ấy quí vị tiền bối của chúng con, không ít người chịu gian lao, khổ cực, áp bức bắt bớ, giam cầm tra trấn, vô tù ra tội nhiều lần, nhiều giai đoạn trong các thời kỳ lịch sử của đất nước, của quê hương.

Hội phật tử An Bằng ở Hải ngoại đọc lời chào mừng tại lễ Khánh Thành chùa

Nhưng quí bác không bao giờ nãn chí sờn lòng, một mực trung kiên với đạo và lo bảo vệ tín ngưỡng của mình, tinh thần đó mà ngày nay các thế hệ tiếp nối đi sau đều phải noi gương học tâp.
Nói đến KHPG/AB Chúng con thành kính đảnh lễ Cố Đại lão Hòa Thượng Thích Thiện Siêu ngài đã khai sơn đặt đá ngôi Chùa An Bằng, Ngài đã chỉ giáo, dạy dỗ đại đa số phật tử An Bằng từ thế hệ nầy sang thế hệ khác cho đến ngày hôm nay.
Được sự chứng minh của Chư Tôn Thiền Đức toàn thể phật tủ An Bằng chúng con ở trong nước, ngoài nước xin một phút để nghiên mình mặc niệm đến chư vị tiền bối hữu công, chư thiện nam tín nữ phật tử An Bằng ở trong nước, ngoài nước đã nằm xuống dưới lòng đất mẹ, đất khách, vẫn thấm hút hạt giống Bồ đề cho quê hương nầy được nở rộ những đóa hoa mà hôm nay chúng con thấy thắm tươi nhất … (một phút mặc niệm).

Những lản hoa chúc mừng Đai lễ Khánh thành chùa

Kính cung bạch:
Kính thưa chư liệt quí vị: Có được những giờ phút huy hoàng hôm nay, tất nhiên không thể quên đi những thời gian rực rỡ trong quá khứ, tiền nhân đã nói “ Vô cổ bất thành kim”. Như vậy xin khái quát vài nét chính qua phật sự tại quê nhà để gọi “ Ôn cố tri tân ”. Hẳn nhiên lịch sử Phật giáo Việt Nam trên 20 thế kỷ nói chung. Ánh sáng của đạo từ bi chắc rằng đã rọi đến quê hương nầy có chung từ đó. Ngôi chùa làng qua nghiên cứu sử liệu chưa chính xác được chùa xây dựng từ năm nào? Mãi đến thời kỳ Hậu Lê vào những thập niên 1700. Có thể chùa được trùng tu lại nên mới có một bức Hoành Phi do ngài Lê Đức Trí tín cúng.

Ngôi chùa An Bằng hiện nay năm 2009

Ngôi chùa Làng xưa đã có từ những năm 1740-1742. Đến nay cả hàng trăm năm, do vật đổi, sao dời cát đã vùi lấp sâu 7mét. Mãi đến năm 1954 chỉ còn lại bộ chuông mõ, 3 vị Quan Thánh, một bức Hoành Phi đề 3 chữ “AN ĐỨC TỰ”. Lạc khoản bên phải đề: Cảnh Hưng Tuế Thứ Quý Dậu Niên Trường Long Nguyệt Cúc Đáng; bên trái đề: Giác Vương Nội Viện Phấn Nhiên Đạo Nhân Đề; phía dưới ghi Lê Đức Trí. Pháp danh Hải bảo tín cúng, chùa có 3 sào đất Tam Bảo Quan Thổ có trích lục xưa để lại, nói cách khác là trong Phủ biên Tạp lục có nói đến 3 sào đất này cấp cho chùa, khi chùa bị cát vùi lấp các vị tiền bối trong làng thời bấy giờ đã lập văn bản chuyển giao cổ vật còn lại trong chùa như nói trên và 3 sào đất Tam bảo Quan thổ, cho Khuôn Hội Phật Giáo lúc bấy giờ để tùy nghi Phụng tự. Ngôi chùa làng nầy hiện nay vào đầu năm 2004 đã được dân làng khai quật phục chế lại, nên Khuôn hội An Bằng đã lập văn bản bằng giao các cổ vật nói trên cho Bô lão làng An Bằng để phụng tự tại chùa.
Sau khi ngôi chùa làng bị vùi lấp. Từ tư gia bác cố cựu Lê Tá để làm nơi lễ Phật cũng là vị khuôn trưởng đầu tiên từ năm 1954. Song song với sự phát triển của tổ chức GĐPT cũng từ đó mà tiến dần lên, nhân dân địa phương càng ngày càng hướng về đạo Phật nên phải vận dụng từ công sức đến tài vật để xây dựng một ngôi chùa cạnh Đình làng, với cây cột, tranh lá đơn sơ.

Lễ Trai Tăng tại chùa, nhân dịp Lễ Khánh thành chùa mới 2005

Một lễ quy y đầu tiên được tổ chức tại An Bằng vị Bổn sư truyền giới lúc bấy giờ là cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Thiện Siêu, chúng con tin chắc rằng Ngài cũng đang chứng minh trong buổi lễ hôm nay.
Những tưởng như thế mà tiến dần từng bước trên con đường tu học, nhưng than ôi ! Năm 1968 Mậu thân chiến tranh đã làm phân tán, chùa chiền sụp đổ, nhà cửa tiêu tan, nhân dân di tản.
Tuy thế nhưng tinh thần mộ đạo vẫn không phai mờ, phật tử An Bằng quyết tâm xây dựng lại một ngôi chùa khác nữa đó là một hoài bảo rất lớn luôn luôn canh cánh bên lòng. Được tạm ổn định trên mảnh đất mới quy tụ. Phải nhờ tư gia bác cố Nguyễn Tữa làm nơi lễ Phật và tiếp tục sinh hoạt phật sự, từ cuối năm 1969 đến tháng 10 năm 1972, một ngôi chùa nữa lại được dựng lên, tương đối lớn hơn hai lần trước, kiến thiết thêm một số công trình nhỏ chung quanh để đáp ứng với phật sự ngày càng lớn mạnh, đến năm 1989 các phật sự trên đã hoàn mãn, nhân dân có phần ổn định đời sống đang trên đà phát triển, toàn xã hội đang đổi mới và đi lên, tín hửu thì quá đông, tiện nghi vẫn lại chật hẹp, phật tử tha phương đang hướng về ngôi chùa.
Thế là Khuôn hội phải chuẩn bị tái thiết lần thứ tư với quy mô lớn hơn. Tất nhiên phải gặp rất nhiều khó khăn về thủ tục, lại không ít bàn ra tán vào và khả năng hiện kim có hạn. Với quyết tâm mạnh và nhờ uy đức đạo phong của cố Đại Lão Hòa Thượng đã liên tiếp chứng minh các lễ đặt đá từ ngôi chùa tranh lá thứ nhất đến ngôi chùa thứ tư, sau đó một năm tiến hành xây dựng Tượng Đài Quan Âm Cát trong khuôn viên chùa.
Mãi đến năm 1999 trận lụt lịch sử tại TT/Huế, thì ngôi chùa bị rạn nức, muốn tách rời tiền đàn và hậu trẫm, cứ mỗi lần mưa bảo tiếp theo thì bị dột nước, nhưng vẫn cố gắng bảo quản và giữ gìn. Đến đầu năm 2000 quí phật tử Hải ngoại về thăm và đi lễ thấy được ngôi chùa không bảo đảm về lâu về dài, nên đã nhiều lần đề nghị với Khuôn hội bàn kế hoạch đại trùng tu. Từ đây qua nhiều phiên họp của toàn thể phật tử từ trong nước, ngoài nước đều nhất trí làm lại ngôi chùa cho bảo đảm, kiên cố và rộng lớn hơn.

GĐPT An Bằng múa lân mừng lễ Khánh thành chùa

Khuôn hội An Bằng, Hội Phật Tử An Bằng Hải Ngoại thể theo nguyện vọng trên, nên Khuôn hội đã làm đơn giải trình xin phép từ cấp xã đến Huyện, Tỉnh theo hệ thống ngành ngang, từ Ban Đại Diện huyện đến Ban Trị Sự Tỉnh TT/Huế theo hệ thống ngành dọc.
Đến ngày 11 tháng 10 năm 2002. UBND Tỉnh xét đơn và chấp thuận, chuyển qua Sở xây dựng và Khuôn hội tại công văn số 2177/UB/XD cho phép Khuôn hội An bằng Đại Trùng Tu ngôi chùa, đến ngày 16 tháng 11 năm 2002 nhận được giấy phép của Sở Xây dựng số: 218/GP.XD.

Đón nhận hoa của các cơ quan và quan khách mừng
lễ Khánh Thành chùa An bằng 2005

Sau khi nhận giấy phép của UBND Tỉnh và Sở Xây dựng Khuôn hội chúng tôi có nhiều thuận duyên lớn phải nói là “Thiên thời địa lợi nhân hòa”. Nên 7 tháng sau quí thầy thuộc Khuôn hội An Bằng và phật tử chúng tôi tiến hành Lễ đặt đá vào ngày 15 tháng năm Qúi mùi (tức là ngày 14 / 6 /2003), cho đến ngày hôm nay là vừa tròn 2 năm. Vào ngày 19 tháng 5 năm 2005 chúng tôi đã mời Công ty thiết kế sở Xây dựng TT/Huế về nghiệm thu giải nhiệm công trình và đưa vào xử dụng trước Đại lễ Phật Đản 2549.
Qua đánh giá hạng mục công trình hội đồng nhất trí là: Bảo đảm chất lượng công trình tốt, kỹ, mỹ thuật tô đẹp cho cảnh quang quê nhà- Hội đồng nghiệm thu nhất trí đưa vào xử dụng.

Quý bác tham dự lễ Phật Đản

Chúng tôi xin nói thêm rằng Phật giáo An Bằng khi có chủ trương lập Hội từ năm 1947 đến nay có 13 đời Khuôn trưởng sau đây: Các cụ cố; Đào Nguyên Phong; Đặng Túy; Trương Tuy; Lê Tá; Văn Oanh; Văn Huấn; Văn Cánh; Đào Tầng; Trương Phán; Huỳnh Chớ; Văn Dinh; quí cụ đã lần lượt ra đi tìm về cõi Phật ở bên kia thế giới. Chỉ còn lại bác Lê Phát nguyên Khuôn trưởng đang nằm trong ban cố vấn xây dựng ngôi chùa nầy, bác Trương Công Châu đương kim Khuôn trưởng, trưởng Niệm Phật Đường đang đảm đương công trình xây dựng hôm nay, Còn quí bác được bầu làm phó Hội trưởng, phó Khuôn trưởng và các Ủy viên từ trước cho đến nay người còn kẻ mất, chúng con xin tán thán và ghi nhận công đức của quí bác hồi hướng lên Tam Bảo.
Trong các nhiệm kỳ trên có bác phục vụ 3 năm, có bác 9-10 năm liên tiếp trong 2 đến 3 nhiệm kỳ, có bác đang đương kim phải đứng ra lảnh trách nhiệm lớn trong việc tái thiết xây dựng chùa, xây dựng tượng đài và cơ sở vật chất trên quê hương và xứ sở mình.
Hiện nay phật tử An Bằng ở hải ngoại cũng thành lập HPTAB/HN với mục đích:

Quý vị Bô lão làmh An bằng và quan khách tham dự lễ Phật Đản
* Tạo sự liên lạc gần gũi giữa những người phật tử An bằng Hải ngoại
* Thành lập tập thể, để dễ dàng sách tấn nhau trong những vấn đề tu học
* Tạo môi trường cơ hội để lưu giữ phong tục tập quán và tiếng Việt cho thế hệ trẻ.
* Dễ dàng giúp đỡ yểm trợ các chùa địa phương ở Hải ngoại và Việt Nam.
* Dễ dàng thực hiện các việc từ thiện Xã hội v.v…
Khuôn hội An Bằng được một vinh dự là đã có hàng chục tăng ni ở trong nước và Hải ngoại nguyện làm sứ giả của Như Lai đang trên bước đường học đạo, hành hóa quản độ quần sanh, thêm một vinh dự lớn nữa là sau khi ngôi chùa làm xong, trên chuyến về thăm chùa Thánh Duyên của Thiền Sư Nhất Hạnh ngài có đến thăm chùa An Bằng và đảnh lễ Tam Bảo.
Kính cung bạch, kính thưa chư liệt quí vị. Chúng tôi chưa dám tự mãn với hiện tại, chẳng được tự hào trong tương lai, phật sự gặp thiện duyên thì có ảnh hưởng, thể hiện được gì có lợi lạc cho nhân sinh, âu đó cũng một phần giúp sức với đàn hậu tấn. Được thành tựu phật sự trong quá trình và hiện tại lẫn tuơng lai, chúng tôi luôn luôn ghi nhận và thành thật tán thán tri ân các cấp lảnh đạo chính quyền đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi góp phần phụng sự đạo pháp và dân tộc, góp phần đổi mới làm sáng đẹp cho quê hương đất nước.

Kính cung bạch, kính thưa quí vị, dù hôm nay đứng trước ngôi chùa mới trang nghiên tráng lệ, nhưng phật tử An bằng chúng con, dù đi ở bất cứ nơi đâu vẫn luôn luôn nghĩ đến mái chùa xưa như là:
“Chùa đứng hiền lành tự thuở xưa
Hồn thiêng gởi gắm tự bao giờ
Tổ tiên bồi đắp qua năm tháng
Nối tiếp không ngừng lớp tuổi thơ”.
(Huyền Không ngày vui dân tộc)
Những phật tử An Bằng chúng con, xem mái chùa là trượng trưng cho tất cả thắm tình, chất chứa trong trái tim, tình yêu quê hương gắn liền với tình yêu đạo pháp và xem Chùa là gia đình – Chùa là quê mẹ – Chùa là tình thương – Chùa là quốc gia dân tộc.
Và yêu mến mái chùa thật đúng như lời thơ đạo Huyền không “Mái chùa che chở hồn dân tộc – Nếp sống muôn đời của tổ tông.”
Kính cung bạch kính thưa liệt quí vị. Giờ đây toàn thể Phật giáo đồ cũng như thiện tín, sinh trưởng tại An Bằng ở trong và ngoài nước, sinh hoạt qua cọng đồng người Việt xin nhất tâm kính cúng dường công đức nầy lên Tam Bảo gọi chút báo đền tứ trọng ân, và xin hồi hướng tất cả để nguyện cầu Quốc thái dân an, Đạo pháp trường tồn, Chúng sanh an lạc, cho kế hoạch xóa đói giảm nghèo, tiến tới dân giàu nước mạnh, cho những người quá cố được siêu thăng, cho lớp lớp người còn được an cư lạc nghiệp.

Kính cung bạch Chư Tôn Thiền Đức, Chư Thượng Tọa Đại Đức Tăng, Ni.
Kính thưa liệt quí vị hiện diện hôm nay. Cho phép ban tổ chức chúng tôi tuyên bố khai mạc Lễ Khánh Thành ngôi chùa Phật giáo An Bằng trên quê hương yêu dấu của chúng tôi. Thành kính đảnh lễ – Trân trọng Kính chào mừng.

NAM MÔ THƯỜNG HOAN HỶ BỒ TÁT MA HA TÁT.
Ban tổ chức

LỄ VU LAN

TẠI KHUÔN HỘI PHẬT GIÁO AN BẰNG.

Theo Truyền thống dân tộc Việt Nam nói chung và Khuôn Hội Phật Giáo An bằng nói riêng, từ xưa đến nay xem ngày rằm tháng bảy ngày xá tội vong nhân, ngày báo hiếu cho cha mẹ bảy đời của con nhà Phật, nhưng tại sao không bàn về chữ hiếu hơn, là hiếu tiêu biểu trong đạo Phật.
Như chúng ta đều biết luân lý nước nhà chịu ảnh hưởng hai nền văn minh, có chỗ đồng mà cũng có chỗ dị, nhưng cả hai đều do sự đô hộ của Trung hoa, một là văn hóa của Nho giáo, hai là văn hóa của Phật giáo, cũng truyền sang nước ta gần như trong một thời kỳ đầu thế kỷ thứ 2, hay thế kỷ thứ 3 sau Tây lịch nghĩa cách đây 1700 – 1800 năm, nền văn hóa ấy có lúc tranh nhau, có lúc hòa nhau gây một ảnh hưởng sâu xa và hỗn hợp song đến nỗi khó phân giới hạn giữa luân lý Nho giáo và luân lý Phật giáo.
Bài luận hôm nay chỉ là một cố gắng cỏn con để phân biệt sự sai khác nhau giữa giáo lý của Đức Thánh Khổng Tử và Đức Phật Thích Ca như đã nói trên. Về phương diện con cái đối với cha mẹ.
Bây giờ xin nói trước hai chữ hiếu đễ của Nho giáo, Khổng giáo cũng dạy thực hành đạo nhân mà gốc đạo nhân là Ái, Kính, vì vậy trong sự giáo hóa Khổng Tử lấy hiếu đễ làm trọng, người có hiếu trước hết phải nuôi cha mẹ, nuôi thì phải kính, không kính thì không phải hiếu, ý nầy thấy trong lời nói của Đức Khổng với môn đệ là Tử Dung “Kim chi hiếu giả thị vi năng dưỡng, chí phần mã năng. Giai năng hiếu dưỡng bất kính hạ dĩ biệt hồ”. Đời bấy giờ cho việc nuôi dưỡng cha mẹ là hiếu, vậy chứ đối với chó, ngựa không nuôi sao? Nếu nuôi cha mẹ không kính thì lấy gì phân biệt với thú kia. Vậy nuôi cha mẹ cốt ở sự thành kính dẫu có phải ăn gạo xấu uống nước lả mà làm cho cha mẹ biết được cái vui lòng ấy gọi là hiếu.
Lấy lễ mà thờ cha mẹ, không phải cha mẹ làm gì trái đạo cũng theo Khổng tử nói “Thờ cha mẹ thì khi cha mẹ làm điều gì lầm lỗi con phải tìm cách êm đềm dịu dàng mà can ngăn, thấy cha mẹ không nghe thì lại kính mà không trái lễ, dẫu có nhiều đau đớn khó nhọc cũng không oán giận. Khi cha mẹ còn không nên làm điều gì để cho cha mẹ lo buồn bởi vậy không nên đi đâu xa, hay có đi phải nói cho cha mẹ biết chỗ đi. “Phụ mẫu tại, bất viễn du, du tất hữu phương ”, chẳng những kính cha mẹ mà phải kính luôn người cha mẹ tôn trọng yêu những người cha mẹ đã yêu.
Nhưng vì Khổng giáo chủ trương đạo hiếu trung nên dạy thêm, không nên nhắm mắt theo những điều trái đạo của cha mẹ. Trong trường hợp cha mẹ làm điều gì lầm lỗi phải tìm cách êm đềm dịu dàng khuyên can, ngăn, cha mẹ không nghe thì kính mà không trái lễ.
Để giải rõ điểm nầy Đức Khổng nói: Cha có con can ngăn thì không hẳn làm điều vô lễ, kẻ sĩ có bạn can ngăn thì không phải làm điều bất nghĩa, cho nên con theo mệnh lệnh của cha há đã là hiếu, tôi theo mệnh lệnh của vua há đã là trung, chỉ có biết xét cái đáng theo thì theo mới là hiếu, là trung vậy.
Nhưng Đức Khổng không chịu cho con đi tố cáo cha. Một hôm Khổng Du bảo Khổng Tử rằng: xóm chúng tôi có người cứ lấy cái chẳng mà khiến mình, cha đi ăn trộm dê mà con đi lậm giống, Khổng Tử đáp người ngay thẳng xóm chúng tôi cư xữ khác, cha che chở cho con, con che chở cho cha cái tật ở trong đó vậy. Trái lại người có hiếu khéo nối được cái chí của cha mẹ, khéo nối được việc làm của cha mẹ, khéo là cái khéo biết phân biệt cái chí của cha mẹ, cái công việc của cha mẹ đã làm để xem cái gì hay thì theo, cái gì dỡ thì bỏ chứ không phải gặp thế nào cũng nhắm mắt làm theo, từ trước tới nay thì nói về đạo hiếu cha mẹ còn sanh tiền. Đối với cái chết của đấng sinh thành Đức Khổng dạy: “Sanh sự chi dĩ lễ, tử táng chi dĩ lễ, tế chi dĩ lễ”. Nghĩa là sống thì lấy lễ mà thờ, chết thì lấy lễ để mà táng, lấy lễ mà tế là hợp nghĩa lý, là vừa phải chứ không thái quá hay bất cập nghĩa là: vừa sức nhà giàu nghèo. Có chỗ Khổng Tử lại nói lễ dĩ kỵ xê giả dĩ, phụ tại quan kỳ chí, phụ tử quan kỳ hạnh, tam niên vô cãi ư phụ chi đạo, khi vị hiếu hỷ “Cha còn phải xem cái chí của cha, cha mất phải xem việc làm của cha, ba năm không lỗi cái đạo của cha há gọi là hiếu vậy”.
Trong Trần Trọng Kim, phải hiểu câu ấy như thế nầy lúc cha còn phải xem cái chí của cha để có điều gì phải thì theo, và có điều gì trái thì can. Việc cha đã làm mà có nên thay đổi thì đợi hết 3 năm cư tang chế rồi mới thay đổi, trước là để tỏ lòng bất nhẫn của người hiếu tử, sau là khi làm việc thay đổi như vậy cần phải kính cẩn thận trọng. Tóm lại mà nói Khổng giáo dạy về chữ hiếu có mấy điểm sau đây:
Khi cha còn sinh tiền thì thì phải hết lòng thương yêu là ái và phải hết sức phụng dưỡng một tấm lòng kính trọng đừng để cha mẹ lo buồn vì mình, phải yêu kính tôn trọng những người, những vật được cha mẹ yêu quý, phái khéo nối cái chí của cha mẹ, khéo nối được việc làm của cha mẹ, gặp khi cha mẹ lầm lỗi phải êm dịu can ngăn, nhưng không nên thẳng tố cáo cha mẹ vì làm như thế thì trái sự ôn hòa và Lễ “Trung Dung”.
Điều thứ hai: Khi cha mẹ chết phải lấy lễ để mà táng, lấy lễ để mà tế tùy gia kiệm ướt chớ nên thái quá, cử cha trong 3 năm tang khó. phải giữ gìn cái chí của cha không nên thay đổi làm buồn lòng người qua cố như thế thật là chi tiết, thật là rõ ràng, làm người phải giữ như thế là hoàn thành đạo hạnh nhân thường của nhà Phật.
Nhưng Đạo Phật đâu phải chỉ dạy làm người, đạo Phật hoài bảo hơn cao hơn, đạo Phật tự đặt cho mình cái mục đích đưa loài người đến bậc siêu phàm, vì căn bản của loài người là siêu phàm, vì cái hoài bảo, cái mục đích nầy cả hai đều xây dựng trên sự thật tuyệt đối, chứ không phải trên sự thật tương đối của thế gian. Nên Phật giáo hình như ít chú trọng đến vấn đề luân lý nói chung và vấn đề hiếu đễ nói riêng.
Tuy vậy Phật giáo không phải quên hẳn việc đời và đạo hiếu. Kinh Thiện Sinh đức Phật có dạy những bổn phận của cha mẹ đối với con, của con đối với cha mẹ, bổn phận của thầy trò, của vợ chồng, của anh em bạn bè, của chủ tớ.
Con đối cha mẹ Kinh dạy: Dữ dĩ lễ sớm cùng khuya có việc gì phải làm đỡ, phải thương nhớ đức cù lao, khi yếu đau phải chạy chữa trăm chức sự yên lòng dạ, chỉ vắng tắc như thế thôi nhưng bao hàm nhiều ý nghĩa giữ đủ lễ là Kính, phải thương nhớ là Ai, phải giúp đở lo thuốc men là Dưỡng, chăm non chức sự cho yên lòng cha mẹ, trách những lo buồn cho cha mẹ.
Đối chiếu với nền luân lý đạo Nho thì thấy bao nhiêu đó cũng đủ rồi và hai bên có rất nhiều chỗ đồng một việc phụng thờ cha mẹ trong lúc sanh tiền.
Trái lại đạo Phật không nói đến bổn phận của người con với cái tử và táng, hoặc có đề cập đến lại nói rất ít. Đây là điểm bất đồng căn bản của hai giáo lý, đạo Nho đặc biệt chú trọng đến việc tang chế vì đạo Nho cho cái chết là còn, nên có chỗ dạy sự tử như sự sinh thờ kính cha mẹ chết như lúc còn sinh tiền, rồi phải tế lễ kể như cha mẹ còn tại thế mỗi bửa phải dâng cơm cúng nước.
Đạo Phật lại khác, quả quyết rằng: Các vong linh sau 49 ngày là phải tùy nghiệp lực dắt dẫn mà phải chịu sự quả báo, hoặc lành, dữ trong sáu nẻo luân hồi, chứ không tự do quanh quẩn theo con cháu trong cõi vô hình được, mà đầu trong khoản 49 ngày đi nữa đã ra người thiên cổ cởi bỏ cái xác thịt thì cái khí dục cụ dùng để tiếp xúc với đời thì lấy gì để mà hưỏng những vật phẩm mà tế lễ mà dâng cúng, dùng tiền bạc mà sắm đồ tế là một lảng phí vô ý thức, giết trâu mổ lợn mà tế là phạm tội đại bất hiếu vì tạo nghiệp ác để vong linh cha mẹ chịu trách nhiệm lấy. Kinh Địa Tạng nói ở đời ai khéo tạo nghiệp dữ, mỗi những cái nghiệp không hay của cha mẹ tạo trong lúc còn sống đã quá nặng rồi, nở nào làm cho nghiệp ấy nặng thêm bằng những việc sát hại thú vật để tế lễ, thế chẳng khác chi người đi đường mang vác hành lý quá nhiều rồi, mà mình còn bắt mang thêm nhiều vật khác, vì vậy Kinh Địa Tạng dạy: Muốn báo hiếu khi cha mẹ chết thì nên đem tâm thanh tịnh đọc kinh cầu nguyện xuất tiền làm việc bố thí việc thiện để cho hương linh trong 10 phần hưởng được một công đức thiện nghiệp.
Người phật tử có thể hối tiếc một việc là cha mẹ không sống thật lâu như ý mong ước để tỏ lòng phụng dưỡng cho thỏa mãn, thỏa lòng, cây muốn lặn mà gió chẳng ngừng “Con mong muốn cha mẹ sống để báo hiếu, nhưng cha mẹ không còn nữa”. Dầu là tiếng than thở não nùng của người con hiếu thảo, phải đạo, muốn sớm khuya hầu hạ mãi mãi mà luật vô thường lạnh lẻo không chịu. Nói tóm lại người phật tử tự thấy mình có nhiều bổn phận đối với song thân quá cố, nhưng lại cái bổn phận đối với thiêng liêng bất diệt của tâm linh chứ không phải đời sống vật chất mà người đời lầm tưởng còn tiếp tục trong cõi sống của hương hồn.

Cần phải nhận thức rõ ràng điểm nầy, nếu muốn xây dựng đúng với tinh thần Phật giáo. Trước hết cần phải thêm mấy lời: Người phật tử chân chính phải đừng câu nệ tiếng thị phi, khen, chê của bàng quan mà phải giám sống trung thành với giáo lý của Đức Bổn Sư, chống lại với thành kiến sai lầm hay phong tục hủ bại, đừng sợ người đời chỉ trích những hiếu sự nghịch đời của mình, chỉ cái chính nghịch đời ấy là cái hợp đạo, nghĩ đến cái nghịch đời ấy là cái hợp đạo, mà cũng đừng có ý muốn mua chuột tiếng phong tặng của đời – Đời mà khen là trái với đạo đó, hiếu theo đạo Phật mới chánh hiếu. Chỉ có những người thông suốt chân lý mới giữ được, hành được vì nó ăn về bề sâu, thấu đến chỗ u uất nhất của tâm hồn. Những cái hiếu khác là cái hiếu bề ngoài, ai làm cũng được và cũng có thể mướn người khác thay mình mà làm. Cái tâm niệm của người phật tử hiếu thảo là vô giá, không thể mua chuột được, coi thường như không có gì là trọng, là lớn cả mà nó nặng vô cùng và bao la không bờ bến. Không như cái hiếu tế lễ thờ cúng dầu có đồ sộ đến đâu vẫn phải có chừng mực, ranh giới vì thuộc phạm vi hữu hình …

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Đoàn thiếu nử GĐPT Văn nghệ mừng lễ Chu niên

Tượng đài Quan Thế Âm Bồ Tát tại bãi biển An Bằng
SỰ HÌNH THÀNH NGÔI TƯỢNG ĐÀI

QUAN THÊ ÂM BỒ TÁT TRÊN KHU ĐẤT THÁNH ĐỊA TẠI
BÃI BIỂN LÀNG AN BẰNG XÃ VINH AN HUYỆN PHÚ VANG TỈNH TT-HUẾ

Với tâm nguyện hoài bảo của nhân dân và bà con phật tử làng An bằng từ hàng chục năm qua, nghĩa là kể từ năm 1945. Khi quân lính Pháp chiếm vùng đất nầy để đóng đồn quân sự, thì ngôi Am Bà Thủy bị đập phá. Nhân dân An Bằng ai ai cũng đồng tâm và lo lắng, nhất là giới phật tử.
Người dân sinh sống ở trong làng đều lấy nghề biển làm kế sinh nhai chính, nên tín ngưỡng, niềm tin của họ là tuyệt đối. Từ ngàn xưa cho đến ngày nay, việc làm ăn sinh sống lúc ra khơi, khi vào lộng, mong
cầu mưa thuận gió hòa trên biển cả đại dương, là điều tất yếu không thể không có được.

Phiên họp thống nhất bản thiết kế xây dựng tượng đài lần cuối cùng
Sau năm 1975 đất nước được thống nhất. Ban Đại diện Khuôn hội Phật giáo An Bằng, dân làng và đồng bào phật tử hoài bảo mong muốn làm sao để có một ngôi tượng đài Quan Thế Âm Bồ Tát làm nơi chiêm bái, cầu nguyện cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, quê hương thanh bình, an lạc, nhưng chưa có thuận duyên thể hiện nguyện vọng của mình.

Cuộc họp bàn về việc xây dựng tượng đài QTA Bồ Tát

Đến năm 1977- 1978 Nhà nước phát động phong trào xây dựng tuyến phòng thủ, quân sự dọc theo miền Duyên hải để chống giặc ngoại xâm. Nhưng nhờ linh ứng, khu đất Am Bà Thủy và Trụ cột mốc thờ bát nhang, của Thảo am nầy được tránh khỏi, nên Khuôn hội Phật giáo An Bằng tiếp tục trồng cây lâm nghiệp “dương liểu” để bảo tồn khu đất và hàng năm có thu hoạch hương khói tại nơi nầy và cứ tiếp tục mãi như thế.
Đến năm 2001 Khuôn hội muốn xây dựng tượng đài Quan Thế Âm Bồ Tát nhưng chưa được phép của chính quyền các cấp, và cứ bảo quản duy trì. Năm 2004 Khuôn hội, Ban Hộ Tự Niệm Phật Đường dựng 4 trụ để làm mốc giới, thì chính quyền chưa đồng ý nên phải tháo gỡ.
Kể từ đây Khuôn hội – Niệm Phật Đường, tiếp tục làm đơn xin quí cấp chính quyền, quí cấp giáo hội, tạo điều kiện cho Khuôn hội, Niệm Phật Đường An Bằng xây dụng tượng đài theo tâm nguyện nêu trên.
1) Đơn xin phép xây dựng tượng đài Quan Thế Âm Bồ Tát lộ thiên gởi quí cấp chính quyền từ Xã đến cấp Huyện, Tỉnh Thừa Thiên – Huế đề ngày 13 tháng 7 năm 2006, nhưng chưa được cho phép.
2) Đơn xin cứu xét thứ hai đề ngày 10 tháng 9 năm 2006, vẫn chưa được cấp giấy phép xây dựng.
3) Đơn xin cứu xét lần thứ ba, đề ngày 20 tháng 3 năm 2007, vẫn chưa được chính quyền cấp giấy. Nhưng UBND tỉnh có công văn hướng dẫn số 2176 ngày 28 tháng 3 năm 2007. Về việc… Hướng dẫn Niệm Phật Đường An Bằng bổ túc hồ sơ xin xây dựng tượng Quán Thế Âm Bồ Tát.
4) Đơn xin cứu xét về việc xây dựng tượng đài Quán Thế Âm Bồ Tát lần thứ tư đề ngày 27 tháng 8 năm 2007. Qua đơn này chính quyền, và quí cơ quan các cấp, từ Xã đến Huyện và Tỉnh. Xét thấy tâm tư và nguyện vọng của đại đa số bà con dân làng và toàn thể phật tử An Bằng ở trong và ngoài nước, xin phục chế xây dựng ngôi Am Bà Thủy (Phật Bà Quan Âm) là rất thiết thật, chính đáng, thể theo nguyện vọng và nhu cầu ở trên, xét mối tương quan chung, phù hợp với lòng dân đang mong muốn, từ hàng chục năm qua.
Chính quyền các cấp đã cho phép Khuôn hội – Niệm Phật Đường An Bằng được xây dựng ngôi tượng đài Quan Thế Âm Bồ Tát, tại bãi biển thôn An trung, làng An Bằng, xã Vinh an, huyện Phú vang, tỉnh Thừa Thiên-Huế theo Quyết định chính thức số: 133/QĐ-UBND. Ngày 17 tháng 1 năm 2008 của UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế.
Giấy phép số: 01 / GPXD. Ngày 23 tháng 1 năm 2008 của Sở Xây Dựng, tỉnh Thừa Thiên-Huế.
Và được cấp giấy quyền sử dụng đất vĩnh viễn lâu dài của UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế. Số T. 01063 (Thẻ đỏ) Ngày 14 tháng 3 Năm 2008.

Cung thỉnh Chư Tôn Thiền Đức và quý vị Quan khách về tham dự lễ Đặt đá tượng đài Quan Thế Âm vào ngày 19 tháng 2 Mậu Tý 2008.
Giấy phép Xây Dựng bổ sung số 10/ GPXD Ngày 28 tháng 4 Năm 2008 của Sở Xây Dựng tỉnh Thừa Thiên-Huế, về việc điều chỉnh thiết kế xây dựng tượng đài.
Như vậy Khuôn hội, Ban Hộ Tự Niệm Phật Đường An Bằng đã hoàn tất đầy đủ hồ sơ, pháp lý về xây dựng.

Lễ khởi công xây dựng tượng đài ngày 26/03/2008(19/02/Mậu Tý)

Lễ đặt đá và khởi công xây dựng nhằm vào ngày Đản sanh của Ngài 19 tháng 2 năm Mậu tý, Tức là ngày 26 tháng 3 năm 2008.
Dưới sự chứng minh của Chư Tôn Thiền Đức và tham dự của quí cấp Chính quyền, quí cấp Giáo hội, quí Bô lão, Hội đồng hương tộc làng Văn hóa An Bằng, đại diện của 43 họ tộc, các tôn giáo bạn, đại diện Hội Phật Tử An Bằng Hải ngoại, quí ban Hộ Tự các Niệm Phật Đường trong tỉnh Thùa Thiên Huế, dân làng và toàn thể phật tử các giới, thuộc Khuôn hội Phật giáo An Bằng từ trong nước đến hải ngoại đều hân hoan vui mừng và cử thành phần về tham dự lễ.
Qua diễn văn Khai mạc lễ đặt đá khởi công của Ban Tổ chức, Ban xây dựng, phát biểu ý kiến của đại diện các cấp Chính quyền, các cấp Giáo hội, đạo từ của Ban Trị Sự Phật giáo tỉnh Thừa Thiên – Huế.
Toàn thể đại biểu đều hân hoan nhiệt liệt chào mừng ngày hội lớn lễ khởi công xây dựng tượng đài Đức Quán Thế Âm Bồ Tát.
Một ngày sau khi lễ khởi công xây dựng; Phim, hình ảnh truyền hình, tin tức, được loan ra khắp thế giới và trong nước, ai ai cũng phấn khởi, vui mừng và đồng tình ủng hộ theo bản thiết kế, sơ đồ đã được chính quyền phê duyệt.
Kế hoạch tiến hành xây dựng: Dân làng và Phật tử cùng toàn thể thập phương thiện tín xa gần, các hội đoàn, đoàn thể đều hướng về quê hương làng An Bằng, xã Vinh an, huyện Phú vang, tỉnh Thừa Thiên-Huế, để theo dõi, phát tâm cúng dường bằng tinh thần, tịnh tài, vật chất với tâm nguyện, cầu mong ngôi tượng đài sớm được hoàn thành.
Khuôn hội, Niệm Phật Đường, Hội Phật Tử An Bằng Hải Ngoại, tích cực điều hành, động viên, đôn đúc các Chúng, các Chi hội và phật tử, thập phương, thiện tín xa gần. Quí bác, quí Niên trưởng, Huynh trưởng những thành phần đứng đằng sau hậu trường mặc dù, không nằm ở trong ban điều hành Khuôn hội, Hội Phật Tử An Bằng Hải Ngoại, Ban Xây dựng, đã đem hết tâm huyết, hướng về quê hương với niềm tin kính Tam Bảo hợp duyên, tạo điều kiện thuận lợi, để ngôi tưọng đài sớm được thành tựu viên mãn.
Sự lo lắng của Khuôn hội, Hội phật tử An Bằng Hải Ngoại và Ban xây dựng, Ban vận động, ngoài việc cúng dường bằng tinh thần, tịnh tài, vật chất của dân làng, phật tử quê hương từ trong nước đến hải ngoại, thập phương thiện tín xa gần là công đức vô lượng, lại thêm đạo tâm và lòng hâm mộ, tín kính của các giới phật tử ở quê nhà đáng được trân quí.
Cho nên trong thời gian khởi công xây dựng, tín đồ phật giáo, từ già đến trẻ, nam phụ, lão ấu đều hăng hái tham gia thường trực, thường xuyên trên công trình, mỗi hộ từ hai đến năm, mười ngày công. Trong hơn 750 hộ phật giáo, hiện có trên quê nhà không thiếu sót một hộ nào, cứ theo sự phân công và điều hành của Ban xây dựng và các Chúng phật giáo thuộc các thôn An Thượng, An Trung, An Định và An Mỹ. Mỗi lần đến phiên trực là đều chăm lo thợ thầy, điện nước, bảo quản vật liệu, vật tư xây dựng, trọn trong một ngày rồi bàng giao cho Ban xây dựng, phân công phiên người trực lại cho ngày hôm sau, và cứ tiếp tục như thế 100% trong các ngày, kể cả những ngày mưa bảo thợ thầy đều nghỉ, nhưng những hộ gia đình đạo hữu tới phiên trực của mình thì không bỏ sót, không nại khó than phiền. Mỗi hộ gia đình Phật tử sẽ trực từ 4 đến 5 ngày cho đến khi ngôi tượng hoàn thành viên mãn “Ôi! Mầu nhiệm của Đấng cứu khổ” Đây là tinh thần vô úy thí, đáng ghi nhận, tinh thần nầy, “của đồng, công lượng” xin hồi hướng lên Tam bảo.
Dự kiến nếu đầy đủ thiện duyên từ nhiều phía, mưa thuận gió hòa, thì ngôi tượng đài sẽ hoàn thành vào cuối năm Kỷ sửu (2009).
Lại thêm một niềm vui vừa phát hiện được là: Trong lúc tiến hành đổ trần đế tượng vào ngày 20 tháng 10 năm Mậu tý (17/11/2008), thì lại phát hiện được một di tích lịch sử từ lâu đời bên cạnh ngôi Tượng Đài cách 5mét về phía Nam và xác nhận đây là đền thờ Am Bà Thủy, Khuôn hội, Niệm Phật Đường An Bằng đang tìm cách mời nhà khảo cổ về nghiên cứu, xát định niên đại của di tích để phục chế và bảo tồn di sản quí báu nầy.
Kết luận Thân tượng từ Bình Dương Thành phố HCM trên đường Quốc Lộ 1A khởi hành ngày 6 tháng 12 năm Mậu tý thẳng ra Huế bằng 3 xe cơ giới hạn nặng, nhưng khi về đến xã Vinh An vào ngày 9 tháng 12 Mậu tý chỉ có 2 xe vì đi lạt một xe do không hiểu tiếng Bình Dương TP HCM và Tiếng An Bằng Huế trên điện thoại đã hướng dẫn bị lạt đường, rốt cuộc sáng ngày 9 tháng 12 Mậu tý cả 3 xe đã gặp một địa điểm tại thôn Hà Úc, xã Vinh an.
Quý bác và anh chị em Huynh trưởng trúc trực điều hành suốt cả đêm để đưa toàn thân tượng ra tại biển An Bằng nơi tôn tri Ngài là đúng vào lúc 2giờ sáng ngày 10/12/Mậu tý tức ngày 5/1/ năm 2009.
Toàn thân tượng gồm 9 thớt, mỗi thớt nặng bình quân 15 tấn trên 2 tảng đá được phân như sau:

1 Đài sen úp 2 tảng.
2 Đài sen ngã 2 tảng.
3 Bàn chân vạt y 2 tảng.
4 Đầu gối vạt y 2 tảng.
5 Vế mông 2 tảng
6 Thân vạt y 2 tảng.
7 Bụng thân 2 tảng.
8 Ngực y 2 tảng.
9 Cổ 2 tảng.
10 Thượng thủ (Đầu) 1 tảng.
Và cánh tay bắt Ấn Cam lộ nặng 3 tạ.
Như vậy tổng cọng 20 tảng đá gồm 9 thớt, mỗi thớt nặng 15 tấn. cao 1m,35. Tổng thể đá ngôi tượng khi chưa điêu khắc nặng 220 tấn, điêu khắc xong tượng nặng 156 tấn cao 12 mét già phân.
Ấn thân, Phân thân, Hóa thân, Hiện thân chia làm 4 khoảnh khắc như sau:
Từ Bình Dương TP/HCM là Ấn thân. Trên đường ra Huế là Phân thân, đến tại địa điểm tập kết thôn Hà úc là Hóa thân, ra đến bãi biển làng An Bằng nơi tôn trí xong tượng lên trên vùng đất Thánh địa là Hiện thân.
Ngôi tượng được tôn trí hoàn nguyện vào lúc 11giờ 50 phút trưa ngày 14 tháng 12 năm Mậu tý tức là ngày 9 tháng 1 năm 2009.
Làm rung cảm Chư thiên, vạn loại chúng sanh trong pháp giới, và nhất là con dân và phật tử An Bằng từ trong nước đến Hải ngoại, ai ai cũng đều hân hoan, thỏa lòng, thỏa dạ việc cúng dường tượng Ngài.
Lễ đạt đá khởi công xây dựng vào ngày 19 tháng 2 năm Mậu tý tức là ngày 26 thang 3 năm 2008.
Lễ Thượng tượng vào ngày 10 tháng 12 Mậu tý tức là ngày 5 tháng 1 năm 2009. Hòa thượngThích Hải Ấn chứng minh chú nguyện lễ Thượng tượng có sự tham dự của huyện Giáo hội Phú vang Thượng tọa Thích Trí Đạo; Khuôn hội, Ban xây dựng, toàn thể phật tử ở trong và ngoài nước, quý Khuôn hội bạn cũng được có dịp tham dự.
Hiện thân, hoàn nguyện toàn thân Ngài vào lúc 11giờ 50 phút ngày 14 tháng 12 năm Mậu tý; tức là ngày 9 tháng 1 năm 2009. Trước sự hân hoan mừng vui của Khuôn hội và ban xây dựng cùng toàn thể phật tử.
Công trình vẫn tiến hành từ đài sen trở xuống, dự kiến hoàn thành viên mãn ngôi tượng đài vào cuối năm 2009.
Dưới chân tượng đài sẽ làm Bia ký khắc trên mẫu đá của tượng Ngài để ghi lại các ngày lịch sử như sau: Ngày đặt đá khởi công xây dựng, ngày Lễ tôn trí tượng Ngài.
Ngày hoàn nguyện tượng Ngài (Hiện thân).
Ngày An vị, Khánh thành sẽ trở vùng Thánh tích Thờ phượng, Chiêm bái, Cầu nguyện của vạn loại chúng sanh, cũng là nơi hành hương chiêm bái cầu nguyện của thập phương thiện tín xa gần từ nay và mãi mãi sau nầy.
Với lòng chí thành cầu nguyện của toàn thể Tăng, Ni và phật tử An Bằng ở trong nước và Hải ngoại từ mấy chục năm qua, sự hổ trợ của thập phương thiện tín, và mọi khó khăn gian khổ phải vượt qua để hôm nay có được thành quả này là nhiệm kỳ của Ban Đai Diện Khuôn Hội, Niệm Phật Đường do bác Trương Công Châu làm khuôn trưởng. Kế tiếp phần xây dựng là nhiệm kỳ của Ban Đại Diện Niệm Phật Đường do bác Hoàng Tân làm Khuôn trưởng.

“Tử Trúc Lâm Trung Quan Tự Tại.
Bạch Liên Thai Thượng Hiện Như Lai”

GỞI BẠN MỘT NIỀM TIN VUI.
27/01/2008, Nguyên Sơn Văn Đinh Hưng

Nam Mô Đại Từ Bi Phụ Linh Cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.

Có một tin vui, báo cho anh đây, từ đầu giây điện thoại tôi nghe giọng nói trầm ấm mà thiết tha của Văn Nhân Đạo, tượng đài Mẹ Quán Thế Âm đã đuợc cấp giấy phép rồi anh ơi. Tôi thở phào nhẹ nhõm và đáp lời ngay, anh xin nghiên mình ngã nón chào Văn Nhân Đạo và những người bạn quí mến An Bằng đứng sau hậu trường đã góp phần quan trọng, để giấy phép xây dựng đài Quan Thế Âm Bồ Tát trở thành hiện thực.
Nầy bạn ơi! Chúng ta hãy tự hào và hãnh diện, quê hương An Bằng, người dân đã ngạo nghễ nỗi bật lên như một biểu tượng khác vọng, của một thôn xóm đã vượt qua bao nhiêu gian nan, khốn khổ để tồn tại mà vương lên cùng với các tỉnh, thị khác trên dãy đất miền Duyên hải.
Giờ đây quê hương An bằng nói chung và riêng người phật tử, đã khao khác gần một thập niên qua, muốn nhìn thấy hình ảnh tượng đài Mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát sừng sững đứng trước bãi biển làng An Bằng, những chướng ngại đã vượt qua, niềm khao khác đó đã đến, rồi niềm vui của người Phật tử An Bằng góp phần phát huy Phật giáo và xây dựng quê nhà cũng đã và đang được hòa nhịp với lòng mong đợi của mỗi người trong chúng ta.
Hởi các bạn ở Hải ngoại, xin hãy cùng nhau thắp sáng ngọn đuốc tâm linh, và xin hãy đang chặt bàn tay lại với nhau để cùng tô điễm và hình thành một tượng đài Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát tại quê hương An Bằng của chúng ta được viên mãn.
Có như thế để rồi mai đây, những thế hệ tiếp nối, ngồi bên tượng đài nhìn ra biển đông, với không gian bình an với một tâm hồn thanh thoát để nghe tiếng Hải triều âm vang dậy, lúc đó chúng ta được nhắc đến như bậc tiền nhân. Xin hãy góp sức để bậc tiền nhân mai hậu không bị mai một.
Một lần nữa cám ơn, những anh chị đã kiên trì trong nhiều năm để dự án được hình thành, đặc biệt cám ơn Văn Nhân Đạo với tấm lòng của người con Phật tử lo cho Đạo giáo, cho Quê hương An Bằng không biết mệt mỏi. Và chắc chắn rằng những ngày kế tiếp sẽ cần nhiều anh chị góp phần không biết mệt mỏi đó, để công trình xây dựng tượng đài được hoàn mãn.

Tượng đài Quan Thế Âm Bồ Tát tại bãi biển An Bằng được tôn trí
vào lúc 11gìơ50 trưa ngày 14 tháng 12 năm Mậu Tý (09/01/2009)
Caûm taùc
Ngày 14 tháng 12 Mậu Tý (09/01/2009)
Ñaát
Baèng
Vang
Voïng
Haûi
Trieàu
AÂm Muoân
Chim
Calaêng
Hoùt
Baùo
Tin
Möøng
Khaùch
Traàn
Daâng
Leã
Töø
Bi
Nguyeän Bieån
Khôi
Caù
Loäi
Laéng
Nghe
Kinh
Caûm taùc
Khen
Ai
Kheùo
Taïc
Töôïng
Quaùn
AÂm Trus
Daï
Luïc
Thôøi
Nam
Haûi
Nguyện Vaên
Thanh
Quaùn
Saéc
Töø
Bi
Caûm Tuøy
Duyeân
ÖÙng
Hieän
Cöùu
Quaàn
Sanh

Tặng thợ Hữu kỹ sư giám đốc công ty TNHH ĐƯƠNG ĐẠI
Bình Dương TP. Hồ Chí Minh
Người khắc tượng Ngài Quán Thế Âm

MỘT SỐ HÌNH ẢNH ĐƯỢC GHI LẠI NHÂN NGÀY AN VỊ NGÔI TƯỢNG ĐÀI VÀO NGÀY 18 THÁNG 6 NĂM CANH DẦN
NHẰM NGÀY 29 THÁNG 7 NĂM 2010 – PHẬT LỊCH 2554

Quí Phật tử chuẩn bị cung thỉnh Chư tôn Thiền Đức Chứng minh
Lễ An vị Tượng Đài

Hàng ngàn ngọn nến dược kết thành chữ Vạn và Hoa Sen
nhân ngày Lễ An vị Tượng Đài

Cung thỉnh Chư Tôn Thiền Đức Chứng minh Lễ An vị
Ngôi Tượng Đài Quan Thế Âm Bồ Tát tịa bãi biển An Bằng
vào ngày 19 tháng 12 năm Canh dần (29/7/2010) Phật lịch 2554

Lễ An vị Ngôi Tượng Đài Quan Thế Âm Bồ Tát tại bãi biển làng An Bằng vào ngày 18 Thánh 6 Năm Canh dần Phật lịch 2334 (29/7/2010)

Hòa thượng Thích Chơn Tế và Ban Đại diện Phật giao huyện Phú Vang Chứng minh lễ An Vị Tượng Đài

Hàng ngàn phật tử nhiểu quanh Tượng Đài và đồng niệm
NAM MÔ ĐẠI TỪ ĐẠI BI QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT

Phật tử nhiểu Quanh Tượng Đài

Hòa thượng Chứng minh Lễ An Vị Tượng Đài

Ban Đại Diện Khuôn Hội Phật Giáo An Bằng Tác bạch cung thỉnh
Hòa thượng và Chư Tăng Chứng minh Lễ An vị

Hàng ngàn Phật Tử thuộc Khuôn hội An bằng và các Vùng phụ Cận
tham dự Lễ An vị Ngôi Tượng Đài Quan Thế Âm Bồ Tát

Hàng ngàn Phật tử quì lạy xuống cùng với ,hàng ngàn ngọn nến được thắp lên kết thành Chữ Vạn và Hoa Sen trước Tượngng đài Lễ An Vị.

Hòa Thượng Thích Chơn Tế và Bác Trương Công Châu, Bác Lê Tiếp Nguyên Khuôn Trưởng, Phó Khuôn Trưởng chớp hình lưu niệm
dưới bên trong Tượng Đài
NHỮNG DÒNG TÂM TƯ
GỬI ĐẾN QUÝ BÁC GIA TRƯỞNG.

Chắc Bác cũng đã nhiều lần suy nghĩ. Suy nghĩ về Đạo-pháp và dân-tộc. Chắc Bác cũng đã hơn một lần lo âu. Lo âu cho viễn ảnh không mấy sáng sủa vì con em chúng ta càng ngày càng đi xa dần với tình tự dân tộc, với nếp sống tốt đẹp Đông phương. Những gì xảy ra hàng ngày ngay trước mặt quý Bác, những mẩu tin đăng tải trên báo chí, những lời kêu cứu về tình trạng thiếu nhi phạm pháp từ trụ sở Liên-hiệp-quốc làm cho chúng ta giật mình.
Thêm vào đó, những biến thiên của thời cuộc; những manh tâm, những lừa đảo, những phản bội trên mọi lãnh vực hoạt động xã hội của các bậc đàn anh thiếu lương tâm; những hy-sinh xương máu không-biết-cho-ai đã là những bình dầu đổ thêm vào ngọn lửa tàn phá lớp tuổi trong trắng của con em chúng ta.
Niềm đau ấy là niềm đau chung của dân tộc. Và niềm đau ấy chính là một trong những động lực thúc đẩy những bậc hữu tâm thiết tha với tiền đồ dân tộc và đạo pháp tìm phương tiện thích hợp lôi kéo con em ra khỏi cảnh nhà lửa (1) trước đấy hơn 25 năm (1940): Gia-đình Phật-hóa phổ ra đời, tiền thân của Gia-đình Phật-tử hiện tại.
Kẻ viết những giòng này cũng tin mãnh liệt rằng sự lo âu chính đáng ấy đã thúc đẩy Bác đến với Gia-đình Phật-tử trong cương vị “GIA TRƯỞNG”. Xin chào mừng Bác và chúc Bác “gặp được” nhiều khó khăn trở ngại. Những chông gai hiểm trở ấy là những hạt kim cương mà Bác sẽ hãnh diện khi dâng lên đức Từ-phụ lời nguyền: “Thước ca-la tâm vô động chuyển”. Và thưa Bác, còn có lễ vật nào cao đẹp hơn là lấy sự chinh phục các khó khăn ấy để cúng dường và báo ơn chư Phật như ngài Anan đã phát nguyện: “Tương thử thâm tâm phụng trần sát, thị tắc danh vi báo Phật ân”?
Với tất cả những ý niệm ấy, bây giờ Bác không còn đóng vai trò bàng quan; cũng không còn lưỡng lự đứng ở ngưỡng cửa mà Bác đã nhập cuộc, đã xông pha vào không khí Gia-đình và các em đang hò reo vui mừng, hoan hô Bác. Bây giờ Bác là rường cột, là chủ nhà, là Gia-trưởng. Bác không phải một mình tay chèo tay lái đâu. Phụ họa với Bác còn có các chú em: những Huynh trưởng, mỗi người một lãnh vực mỗi người một trách nhiệm riêng nhưng cùng đi tới một đích. Bác thử hô lên một tiếng: tất cả sẽ răm rắp trước mặt Bác, hàng nào ngũ ấy ngay thẳng chỉnh tề. Những đôi mắt long lanh tươi sáng linh động nhìn lên Bác; những nụ cười chúm chím hy-vọng gởi đến Bác; những đôi tay đôi chân ngoan ngoãn và sẵn sàng tuân lệnh Bác, và từ trên cao thềm nhà nhìn xuống, Bác sẽ hài lòng hoan hỷ.
Nhưng thưa Bác Gia-trưởng, muốn được thế, phải giáo dục chúng – nói theo từ ngữ Phật-giáo – phải giúp cho chúng chuyển nghiệp. Cái khó là ở đó và Bác sẽ bắt đầu đi vào những cái bực mình.
Thưa Bác Gia-trưởng,
Cái bực mình căn bản nhất là sự khác biệt của hai lớp tuổi: tuổi của Bác thì trầm lặng ưa tĩnh mịch mà tuổi của các em thì chao ôi, như con vượn trên cành, như con ngựa không cương, Nó ồn ào náo nhiệt, đôi khi hung hãn sao sao ấy! Thiệt là bực mình. Với 40 tuổi đầu, đã từng lăn lóc trong các hoạt động giáo-dục thanh thiếu nhi quá nửa số năm ấy mà đã có lần tôi phát ngán huống gì Bác? Chính những lúc đang bực mình thì là lúc tôi giật mình và tự trách: sao mình lại nhìn các em như những “cụ non”? Sao mình không nhớ lại cái thuở thơ ấu của mình và đặt mình vào trạng thái tâm lý, sinh lý của tuổi ấy? Thế rồi, cả một quãng đời qua lại hiện về trong trí tôi, một quãng đời chỉ biết đến “cười”, đến “ăn”, đến “vật lộn”, một quãng đời với những ước muốn, những tâm tình, những ý nghĩ mà người lớn không dễ gì hiểu nổi; một quãng đời “trẻ con” mà không muốn đối xử như trẻ con, muốn làm lấy những gì mình muốn dù làm thì hư hỏng luôn tay. Cái tuổi con nít ấy có cái hùng khí của nó, thà chịu la, chịu mắng, chịu đánh đập hành hạ bởi những người lớn không chịu hiểu nó hơn là phản lại cái đời sống chân thực của nó.
Từ giật mình, tôi lại bị dày vò bởi hối hận: sao ta lại bắt nó sống một đời sống giả-dối và ta lại hài lòng với cái đạo-đức-giả của nó? Nếu giáo dục theo quan niệm Phật-giáo, là chuyển nghiệp, chuyển nghiệp xấu thành tốt, cốt để cho chúng “chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành” thì sao ta lại bắt nó đóng kịch đạo-đức trước mặt ta? Sao ta lại không đánh thức dậy những tính tốt đang ngủ mê trong những tật xấu? Sao ta lại không “tương kế tựu kế”, không “dĩ độc trị độc”, không lấy cái hiếu động thiện thay thế cho cái hiếu động ác?
Sao lại không như thế được, thưa Bác? Nghĩ thế rồi, Bác sẽ như tôi, chúng ta “hiểu” các em hơn, “thương” các em hơn và “chịu đựng” các em hơn. Chịu đựng không phải để cho các em lăng loàn mà để “thấy rõ” những cái xấu xa cần phải bới tận gốc, đào tận rể, huân tập những chủng tử thiện cho chúng có dịp hiện hành.
Xin thưa rằng công việc này không phải hoàn toàn công việc của Bác. Đó là công việc chính yếu của các Đoàn trưởng và Đoàn phó đã được huấn luyện các phương pháp giáo-dục; nhưng vì là Gia-trưởng có trách nhiệm toàn diện, sự hiểu biết thêm của Bác sẽ giúp nhiều ý kiến hay cho các Huynh-trưởng phụ trách Đoàn.
Chắc Bác ngại ngùng vài phương pháp diễn đạt qua các thành ngữ “tương kế tựu kế”, “dĩ độc trị độc” có vẻ “bá đạo” chăng?
Trong kinh Pháp-hoa, phẩm thí dụ, đức Phật đã tả cảnh nhà của một vị trưởng-giả đang cháy mạnh. Mà bầy con của vị trưởng-giả thì cứ nhởn nhơ vui cười trong ngôi nhà đang sụp đổ ấy không ý thức được “gì là lửa? gì là nhà? thế nào là hại? chỉ cứ đông tây chạy giỡn nhìn cha mà thôi”. Còn người cha thì mặc sức kêu gọi, giải thích, nài nĩ, van lơn nhưng vô hiệu. Cuối cùng vị trưởng-giả phải đánh lá bài “tương kế tựu kế”: chúng ham chơi thì ta lấy đồ chơi để dụ dỗ. Các thứ xe dê, xe hươu, xe trâu đẹp đẽ, lộng lẫy chưa từng có được nêu ra để khích động lòng hiếu kỳ và động lòng ưa đắm của chúng. Khi dụ chúng thoát khỏi nhà lửa rồi, vị trưởng-giả cho các con đồng một thứ xe lớn – xe trâu – tượng trưng cho năng lực tế độ của đại thừa. Muốn khơi sáng về tính chất dụng phương tiện ấy, đức Phật hỏi ông Xá-lợi-phất:
– “Ý của Ông nghĩ sao? Ông trưởng giả đó đồng đem xe trâu báu lớn cho các người con, có lỗi hư vọng chăng?”
Xá-lợi-phất thưa:
– “Thưa Thế-tôn, không. Ông trưởng giả đó chỉ làm cho các người con đặng khỏi nạn lửa, toàn thân mạng chúng nó, chẳng phải là hư vọng. Vì sao? Nếu được toàn thân mạng bèn đã được đồ chơi tốt đẹp huống nữa là dùng phương tiện cứu vớt ra khỏi nhà lửa”.
Thưa Bác, câu chuyện trong kinh để lại nhiều ý nghĩa thâm thúy khiến chúng ta phải suy nghiệm. Sao chúng ta không rút tỉa những huyền nghĩa chứa đựng trong ấy để làm lý thuyết và hành động?
Khía cạnh tâm lý của câu chuyện đã là một bài học hay cho chúng ta. Hình ảnh bầy con của vị trưởng giả kia chẳng phải là hình ảnh sống động của con em chúng ta bây giờ sao? Nếu những chiếc xe dê, xe hươu, xe trâu đẹp đẽ có đủ mãnh lực lôi kéo những quý tử của vị trưởng giả ra khỏi nhà lửa thì sao ta lại không biết dùng những trò chơi, những cuộc cắm trại, những bài ca, những hoạt động vui vẻ v.v… làm những phương tiện dắt dẫn con em chúng ta đến với mục đích mà Gia-đình Phật-tử đã đề ra?
Thưa Bác, xã hội này cống hiến cho con em chúng ta vô số là trái cấm, vô số là đồ chua mà chúng chẳng cần khó nhọc chi lắm để phạm vào. Bác thử đặt câu hỏi: Ai sẽ dang tay phá đổ những ngôi chùa mà quý bác đã đem bao công lao, bao mồ hôi nước mắt để gây dựng nên? Ai? – Chính con em của chúng ta chứ không phải là ai hết nếu chúng không được giáo dục, nếu chúng không được hướng dẫn, nếu chúng không được gieo trồng những hột giống thích hợp.
Nghĩ thế, chúng tôi hy vọng những dị đồng của hai lớp tuổi già trẻ đã có một nhịp cầu thông cảm, và nhịp cầu ấy được nối dài qua khuôn hội và do đó, Bác cũng sẽ đỡ bớt những tiếng bấc tiếng chì của hội viên!
Còn những cái bực mình khác nữa, nhưng một khi mà mối dị đồng căn bản và trọng đại trên đã được san bằng thì những tiểu tiết khác cũng sẽ được lấp đi một cách mau chóng. Nhưng thưa Bác, càng đi sâu vào công việc của Gia-đình, bên cạnh những cái bực mình ấy là những niềm vui, những khích lệ cũng không kém mãnh liệt. Xin mời Bác nghe lời bộc bạch của anh Trưởng Ban Hướng-dẫn Trung ương đọc trong buổi lễ khai mạc Đại-hội Huynh-trưởng toàn quốc ngày 29-7-1967 tại Sài-gòn như sau:
“Hơn một năm nay, từ pháp nạn 1966, ngoài những khổ nhục chung của đất nước và của Giáo-hội, Gia-đình Phật-tử chúng tôi ở tại Trung-ương cũng như ở trên toàn quốc đã phải chịu đựng nhiều nổi gian lao, tang tóc trong nội bộ mình: một số anh chị em huynh-trưởng và đoàn sinh đã hy sinh thân mạng hay bị giam giữ lưu đày; một số khác bị bắt đi quân dịch mặc dù chưa đến kỳ hạn; một số khác trong giới công chức hay quân nhân đã bị cách chức hay thuyên chuyển đến những nới rừng thiêng nước độc. Đau đớn nhất là trụ sở của Ban Hướng dẫn Trung-ương ở đường Hiền Vương đã bị chiếm giữ, một số tài liệu quý báu cất giữ từ hơn 20 năm nay đã bị lấy mất. Trong khi ấy thì quỹ của Ban Hướng dẫn Trung-ương, vốn đã nghèo vì không được một sự trợ cấp thường xuyên nào cả lại càng nghèo thêm vì phải đài thọ, giúp đỡ cho một số anh chị em đang lâm vào cảnh tù đày, lao lý ở nhiều nơi. Nhưng điều đáng mừng là, trong hoàn cảnh đen tối như vậy, Gia-đình Phật-tử chúng tôi vẫn cố gắng sinh hoạt đều đặn, không có một sự xáo trộn, một sự chia rẽ vì chính kiến hay vì tinh thần cục bộ, địa phương nào cả…”
Có món quà tinh thần nào hơn, thưa Bác? Được kết quả như thế, công lao lớn nhất – đành rằng khi làm việc cho Gia-đình Phật-tử, mấy ai đã tính công lao? – không phải là của quý Bác, những kẻ nắm giữ giềng mối của đơn vị Gia-đình thì là còn của ai?
Chưa hết. Niềm vui lớn còn hơn, sâu đậm hơn:
“Trước tiên, chúng tôi nghĩ rằng đó là do truyền thống bất khuất của dân tộc: càng vươn lên mạnh; càng gặp gian lao khổ cực lại càng hăng chí tiến thủ. Lịch sử của đất nước đã luôn luôn chứng minh như vậy. Thứ đến, đó là do tinh thần trung kiên của người con Áo lam đối với Gia-đình Phật-tử. Dù gặp hoàn cảnh nào, sáng sủa hay đen tối, họ vẫn không quên lý tưởng mà họ vẫn tôn thờ…” (Diễn văn ghi trên)
Tôi không được cái may mắn ngồi trong phòng hội-nghị để lòng rộn ràng khi chính tai nghe lời anh Trưởng-ban. Nhưng, tôi có cảm tưởng rằng, như tôi – tim Bác cũng đập mạnh khi đọc những lời lẽ trên vì hãnh diện. Sự hãnh diện đã đóng góp được những phần nào vào truyền thống của dân tộc. Tình đạo, tình đời hòa hợp. Đạo pháp và dân tộc gắn liền. Và như lời anh Trưởng-ban: “Nếu chúng ta xa rời căn bản ấy, chúng ta sẽ mất gốc, đoàn thể chúng ta sẽ mất hết sinh khí và mất luôn sự ủng hộ của đại đa số quần chúng Phật tử hay không…” (Diễn văn ghi trên)
Con đường chúng ta – trong đó có bác GIA TRƯỞNG lãnh một trách nhiệm nặng nề – đã được vạch ra.
Suối tâm tư chảy đến với lòng Bác chưa cạn, không thể cạn nhưng xin mời Bác hãy theo giòng suối đi vào ngõ ngách của Gia-đình … ( Trích tư liệu trong GĐPT )

Tượng Đài Quan Thế Âm Bồ Tát tại khuôn viên chùa An Bằng

DIỄN TỪ CHÀO MỪNG QUAN KHÁCH LỄ AN VỊ
TƯỢNG QUAN ÂM TẠI KHUÔN VIÊN CHÙA AN BẰNG

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính cung bạch: Chư Tôn Hòa Thượng, Chư Thượng Tọa Đại Đức, Tăng, Ni.
Kính thưa: Qui đại biểu lảnh đạo HĐND – UBND – UBMT/TQ Xã Vinh an.
Kính thưa: Bô lảo, Ban Hương tộc làng An Bằng.
– Giáo xứ An Bằng.
– Quí đại biểu: 13 NPĐ thuộc huyện Phú Vang.
– NPĐ Diêm phụng, NPĐ Mỹ lợi.
– Quí vị quan khách, quí ân nhân của NPĐ.
– Cùng toàn thể đồng bào Phật tử ở trong nước và hải ngoại.
Kính thưa quí vị.
Với tâm niệm hằng nguyện ước từ lâu đến năm Đinh sửu 1997 nhân duyên vừa gặp hội, Khuôn Giáo Hội, Niệm Phật Đường chúng tôi nguyện khởi công xây dựng một tượng đài tôn trí Đức Quan Thế Âm Bồ Tát trong khuôn viên chùa An Bằng.
Những mong cho phật giáo đồ và người người chiêm ngưỡng để phát khởi tâm lành ngỏ hầu vơi đi những ưu tư tầm thống ! Tượng đài đã cơ bản hoàn thành cuối năm 1998 nhưng mãi nguyện chờ khi có duyên lành sung mãn, vừa được sự nhất trí của giáo hội tỉnh Thừa Thiên-Huế, huyện nhà và chính quyền huyện xã địa phương NPĐ chúng tôi rất hân hoan tổ chức lễ Lạc thành an vị.
Trong khung cảnh trang nghiêm trọng thể, được sự hoan hỷ quan lâm chứng minh của Hòa thượng và chư vị.
Toàn thể Phật tử An Bằng chúng con ở trong nước và hải ngoại xin thành kính đảnh lễ Chư Tôn Hòa Thượng, Chư Thượng Tọa, Đại Đức Tăng, Ni.
Xin trân trọng kính chào mừng quí vị quan khách đã dành thời gian đến tham dự buổi lễ này.
Kính cung bạch: Chư Tôn Đức.
Kính thưa liệt quí vị! Hình ảnh của Đức Quan Thế Âm như biểu hiện khắp mọi nơi, phát xuất từ đức tin của những người hướng tâm niệm về Ngài, vì đại nguyện của Ngài muốn gần gũi với chúng sanh để lắng nghe tiếng kêu cầu, có cảm là có ứng và thị hiện bằng nhiều hình thức khác nhau theo cơ duyên mà hóa độ.
Thực tế là hầu hết dân làng chúng tôi sống gần với biển cả, khi vào lộng lúc ra khơi thường gặp lúc sóng to gió lớn, sức người yếu đuối thuyền nan nhỏ hẹp khác gì như những chiếc lá ở giữa đại dương, sự sống tưởng chừng như gang tất! Lại nữa trong những năm gần đây vì cuộc sống có nhiều khó khăn, một số con dân trong làng đành phải rời bỏ nơi chôn dau, cắt rốn để ra đi bằng đường biển, có lúc phải linh đinh hằng tháng trên sóng nước bị đói khác dày vò, thêm vào đó những cơn giông bảo khủng khiếp, nạn cước biển lại hoành hành từ nạn nầy, đến thảm cảnh khác.
Những lúc như thế nạn nhân chỉ còn cách ngưỡng mặt vời trông đến các vị năng nhân cứu khổ.
Người tin Phật thì niệm Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, kẻ tin Chúa thì cầu Nữ Vương Đức Mẹ. Do tâm phân biệt của chúng sanh.
Nhưng đối với đại nguyện của các đấng cứu thế, thì đều cùng chung hành hóa theo hạnh Bồ Tát vị tha, như thế nên những tai ương khổ nạn “thập tử nhất sinh” được dần dần qua khỏi, cực lạc thiên đàng như hiện ra trước mắt, những cảnh tượng ấy được ghi lại rất nhiều trên hai thập niên qua. Cho đến khi cảnh thanh bình trở lại trên quê hương, đất nước sẽ phồn vinh đang trên đà đổi mới.
Những người đã ra đi tưởng chừng không có ngày trở lại nào ngờ bến cũ như lần lượt tiếp đón người về với bao niềm vui đoàn tụ, nhà nhà cùng hát lại khúc hát hoàn ca như thật: Trong kinh Pháp cú Đức Phật đã dạy “Bao lâu xa cố hương – ngày về được an khương – bà con và thân hửu – mừng đón người thân thương”.
Cũng vậy: “các phước nghiệp đón chào người lành – chỗ nầy đến chỗ khác, như người thân đón chào”.
Kính thưa liệt quí vị: Vài nét trên đây, như quí vị cho phép chúng tôi vừa khái quát, để nói lên mục đích và nội dung của phật sự, xây dựng tượng đài Quan Âm Cát được hoàn thành ở mức độ nào chúng tôi cũng tự nhận thấy chỉ là một trong muôn một, ví như hạt cát đối với sông Hằng, viên sỏi giữa đại dương.
Tuy thế có được một biểu tượng nầy đối với quê hương, NPĐ An bằng chúng tôi đã nhờ sự chỉ đạo của Hòa Thượng rằng: Khuôn An bằng hiện đang có cơ duyên chùa tương đối lớn, đạo hửu khá đông, nếu có được sở hữu chủ thì nên mở rộng mặt bằng để tạo nên cảnh quang tương xứng. Rồi sau đó tùy khả năng mà kiến tạo, cố gắng làm thỏa mãn của đại đa số vốn đã ước nguyện từ lâu! Thứ đến là những động viên lón của tín đồ, khi đi gặp tai nạn từ tuyệt vọng này đến tuyệt vọng khác, nay được sống còn họ đang mong có dịp cúng dường tạ ơn cứu khổ ! Thế là từng bước thực hiện, khi đã trãi qua vài khó khăn nhất định cho nên lúc hoàn thành và hoản đến hôm nay mới tổ chức lễ hoàn nguyện này.
Thật là một vinh dự lớn lao, với niềm cảm kính và tri ân đối với Hòa Thượng đã hoan hỷ thân lâm chứng minh buổi lễ, bao nỗi hân hoan hồ hởi đang tràn đầy trước khung cảnh trang nghiêm thành kính. Toàn thể phật tử An Bằng chúng con từ trong nước và hải ngoại xin dâng lên Hòa Thượng với niềm tri ân nồng nhiệt nhất và luôn nghỉ rằng: Mỗi phật sự được hoàn mãn trên quê hương chúng con trong đó nhờ ảnh hưởng công đúc của Hòa Thượng rất to lớn. Cùng Chư Tôn Giáo Phẩm trong tỉnh Thừa Thiên-Huế. Ban đại diện giáo hội huyện nhà sở quan, cũng nhân dịp nầy chúng tôi xin được nói lên sự quan tâm giúp đỡ không nhỏ của quí vị lãnh đạo chính quyền và các cơ quan cấp huyện, xã địa phương, trong việc kiến thiết biểu tượng nầy.
Và sau cùng là sự phát tâm đóng góp của toàn thể tín đồ đạo hữu ở trong cũng như ngoài nước để được hoàn thành phật sự nầy thật là phấn khởi.
Trong niềm vui vô hạn như tràn đầy trên quê hương, ngày càng khởi sắc tại một vùng duyên hải của tỉnh, huyện nhà, toàn thể phật giáo đồ chúng tôi tin rằng: Giờ phút thiêng liêng nầy, đang có những ánh hào quang tỏa chiếu của Đấng Cứu Khổ Tầm Thanh để chứng tri lòng chân thành ngưỡng mộ của phật giáo đồ quê quán chúng con!
Nam Mô Diệu Viên Thông Danh Tự Tại Tịnh Ngũ. Bách Danh Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Kính đảnh lễ Hòa Thượng chứng minh, Chư Tôn Giáo Phẩm, Đại Đức Tăng, Ni.
Trân trọng kính chào quí liệt vị.

Ban văn hóa Khuôn hội phật giáo An Bằng.

Lễ đặt đá ngôi chùa mới

Lễ Đặt đá Đại trùng tu ngôi chùa hiện nay
vào ngày 05/05/ Quý Mùi

Lễ Thượng Lương Ngôi chùa hiện nay

Chùa An Bằng hiện nay 2008

Tại buổi Lễ khánh thành Chùa An Bằng

Ban Điều Hành Lễ Khánh Thành chùa An Bằng

Cung Thỉnh Chư Tôn Thiền Đức tham dự Lễ Khánh Thành

Đại Lão Hòa Thượng Thích Khả Tấn và Chư Tôn Thiền Đức
¬Chứng Minh Đại Lễ Khánh Thành

Quý Phật tử tham dự Lễ Khánh Thành

Các đơn vị dâng hoa chúc mừng Lễ Khánh Thành

Quý Phật tử tham dự Lễ Khánh thành Chùa An Bằng

Ban tiếp tân nhân ngày Đại lễ Khánh thành chùa An bằng

GĐPT múa lân mừng lễ Khánh Thành chùa

Hòa Thượng Thích Khế Chơn về thuyết pháp nhân
lễ Khánh Thành đã đến chùa

Ngôi chùa An bằng trước năm 2000

Tổng thể ngôi Chùa Mới
NGÔI CHÙA MỚI

KHÁI QUÁT SỰ HÌNH THÀNH NGÔI CHÙA MỚI
Được Khánh thành vào năm 2005

Cuối năm 1999 vào những ngày đầu năm 2000 trận lụt lịch sử tại Thừa Thiên – Huế thì ngôi chùa bị rạn nứt muốn tách rời tiền đàn và hậu trẩm ra, nhưng vẫn cố gắng bảo quản giữ gìn. Đến đầu năm 2000 quí Phật tử hải ngoại về thăm quê hương, đi lễ thấy ngôi chùa không bảo đảm được về lâu về dài, nên đã nhiều lần đề nghị với Khuôn hội bàn kế hoạch đại trùng tu.

Qua nhiều phiên họp của toàn thể phật tử trong và ngoài nước đều nhất trí làm lại ngôi chùa bảo đảm kiên cố và rộng lớn hơn, gặp nhiều thiện duyên phải nói là thiên thời địa lợi nhân hòa, Khuôn hội làm thủ tục xin xây dựng lại ngôi chùa mới.
Được giấy phép của các cấp chính quyền Lễ khởi công đặt đá vào ngày 15 tháng 5 năm Quí mùi (14/6/2003). Sau 2 năm xây dựng vào ngày 9 tháng 5 năm 2005 Công ty Thiết kế xây dựng về nghiệm thu giải nhiệm công trình và đưa vào xử dụng trước đại lễ Phật Đản Phật lịch 2549.
Qua đánh giá hạng mục công trình hội đồng đều nhất trí: Bảo đảm chất lượng công trình tốt, kỹ mỹ thuật làm tô đẹp cảnh quang quê nhà, song song với việc xây dựng chùa, hội trường, nhà tăng, đoàn quán Gia Đình Phật Tử, đều xây dựng 2 tầng và xong một lúc với chùa. Hội đồng nghiệm thu nhất trí, toàn bộ hạn mục đều đưa vào xử dụng.

Chư Tôn Thiền đức tham dự lễ Khánh Thành Chùa 2005

Chư Tôn Thiền Đức tham dự lễ Khánh Thành chùa An Bằng, năm 2005

Thượng Tọa Thích Khế Chơn thuyết pháp độ tử và độ sinh nhân
lễ khánh thành chùa. Trước lễ giải oan, bạt độ Năm 2005

Đại Lễ khánh thành: Được tổ chức trọng thể ngày 12 tháng 6 năm 2005 (Nhằm ngày 6 tháng 5 năm Ất dậu Phật lịch 2549. Dưói sự chứng minh của Đại lão Hòa Thượng Thích Khả Tấn trú trì chùa Giác Lâm Huế.
Chư Tôn Thiền Đức, các Tổ đình, Tịnh Xá, Tịnh thất, trong tỉnh Thừa Thiên – Huế, cùng tham dự các cấp chính quyền, các Ban đại diện tại các quận huyện trong tỉnh, các Khuôn hội trong huyện, cùng toàn thể thiện nam tín nữ, GĐPT ở trong nước và Hải ngoại đều tham dự đông đủ. Đặc biệt sau khi làm chùa xong, trong chuyến về thăm và giảng Pháp tại quê hương Việt Nam, Thiền Sư Nhất Hạnh đã đến thăm ngôi chùa An bằng vừa xây dựng xong, quí thầy, quí sư cô trong Tăng đoàn Làng Mai cũng đến thăm và nói pháp trước đó, đa số quí thầy và sư cô là người con của An bằng đang tu học với Thiền Sư, thật vậy dù đi ở bất cứ nơi đâu làm người phật tử tại gia hay xuất gia, vẫn luôn luôn nhớ mãi mái chùa xưa như là:

CHÙA ĐỨNG HIỀN LÀNH TỰ THUỞ XƯA.
HỒN DÂN GỞI GẮM TỰ BAO GIỜ.
TỔ TIÊN BỒI ĐÁP QUA NĂM THÁNG.
NỐI TIẾP KHÔNG NGỪNG LỚP TUỔI THƠ.

(Huyền Không ngày vui dân tộc)

“Trích Diễn văn khai mạc Lễ Khánh Thành
Chùa mới PL 2549 năm2004”

Chư Tôn Thiền Đức quan lâm chúng minh lễ Khánh thành Chùa mới

Thông báo giờ chính thức Khai mạc Đại Lể Khánh thành Chùa

Quí bác đang tâm sự bên lề Lễ Khánh thành chùa

Đón nhận hoa Lễ Khánh Thành chùa

Ngôi chùa hiện nay không lúc nào vắng bóng đạo hửu Phật tử và khách thập phương thiện tín đến tham quan, hành hương, chiêm bái, GĐPT Lễ Phật và sinh hoạt một tháng 6 kỳ vào các ngày chủ nhật, rằm, mồng một trong tháng, Khuôn hội tổ chức Đạo tràng tụng Kinh Pháp Hoa, Đạo Tràng Tịnh Độ và khóa tu Phật thất, 3 tháng một lần, hy vọng lối tu học và sinh hoạt nầy sẽ được duy trì mãi mãi, sau lễ Khánh thành ngôi chùa mới vào năm 2006.
Ngôi tượng đài Quán Thế Âm Bồ Tát tại bãi biển An bằng cũng được dựng lên với tâm nguyện của bà con dân làng và phật tử, từ trong nước đến Hải ngoại cả mấy chục năm qua, lễ khởi công đặt đá xây dựng tượng Quán Thế Âm vào ngày 19 tháng 2 năm Mậu tý (26 tháng 3 năm 2008) Ngôi tượng đài sẽ hoàn thành trong năm 2009, Phật lịch 2553, nếu có đầy đủ thiện duyên.
(Bài liên quan về ngôi tượng đài mời quí vị xem các phần sau trong tập sách nầy).
Ngoài các ngày đại lễ như: Phật Đản, Vu Lan, Thành Đạo, các ngày vía Phật và Bồ Tát, trong Khuôn hội có những ngày lễ lớn mang tính chất truyền thống như sau:
Lễ Chu Niên GĐPT ngày 19 tháng 2 Âm lịch. lễ Hiệp kỵ của Khuôn hội vào ngày 1 tháng 11 Âm lịch những ngày lễ nầy không thể bỏ qua.
Những văn kiện về các việc lớn quan trọng như: Diễn văn lễ Khánh thành, lễ Hiệp kỵ, lễ Chu niên GĐPT đều được đưa vào đây để làm tư liệu của Khuôn hội Phật giáo và GĐPT An bằng, đồng thời cũng để chứng minh rằng sự phát triển của đạo Phật và công cuộc xây dựng phật sự tại làng An bằng qua từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử. Dù muốn hay không quê hương An bằng vẫn có trong niềm tự hào sau đây:
Quí Bác Đã Giữ Chức Vụ Khuôn Trưởng Khuôn Hội Phật Giáo An Bằng Qua Các Nhiệm Kỳ Từ Xưa Đến Nay 2009 Người Còn Kẻ Mất Dưới Đây:
Như lời tựa ở phần đầu có Lời Cảm Niệm rằng:
Nói đến Phật giáo An Bằng chúng ta kính cẩn nghiên mình, tưởng niệm đến quí Sư tổ Thiền Sư, quí vị tiền bối hữu công qua các Triều đại đã và sáng lập ra ngôi chùa đầu tiên thì đạo Phật ở làng An Bằng bắt nguồn từ đó. (Kể từ năm 1953 đến hàng trăm năm về trước)
Nói đến Khuôn hội Phật giáo An Bằng, chúng ta cũng kính cẩn, nghiên mình tưởng niệm đến quí bác, quí anh chị đã quá cố trong mọi hoàn cảnh và cũng không quên quí bác quí anh chị đang còn hưởng dương đã và đang dày công vun trồng và xây dựng lên Nền Phật giáo An Bằng.
Ở đây chỉ kể từ sau năm 1954 trở lại đây. Khuôn hội Tịnh độ đầu tiên tại làng An bằng. Sau khi các Hội Phật học tại Trung phần, tỉnh Thừa Thiên-Huế được phát triễn và lan rộng ra khắp các miền xuôi, ngược, thì tại làng An Bằng có các cụ Trương Tuy, Lê Tá, Văn Hòe. Lê Côn đã đứng ra liên lạc với tỉnh hội Thừa Thiên để xin thành lập Khuôn hội Tịnh độ An Bằng, đây là lần thứ 2 hình thành tổ chức lại Phật giáo An Bằng, trong giai đoạn đầu Khuôn mượn nhà cụ Lê Tá để sinh hoạt lễ Phật, giai đoạn nầy gọi là sinh hoạt lâm thời, đến năm 1956 là được sinh hoạt tu học chính thức về mặt pháp nhân, pháp lý theo hệ thống từ Tỉnh hội xuống từng địa phương cơ sở, và Ban Trị Sự Khuôn Tịnh Độ An Bằng được bầu lên 5 vị, cụ Trương Tuy là Khuôn trưởng và ban Huynh trưởng GĐPT An Bằng được thành lập sau đó một năm tức là năm 1957 bác Lê Phát làm gia trưởng đầu tiên là nhiệm kỳ thứ I.
Từ nhiệm kỳ thứ nhất đến các nhiệm kỳ tiếp theo chúng tôi chỉ nêu lên tên các vị Khuôn trưởng cho tiện tìm hiểu. Từ Khuôn phó trở xuống các thành viên chỉ ghi chung một lượt vào danh sách trong cuốn tiểu sử nầy, để sau nầy dễ bổ sung và điều chỉnh những phần khiếm khuyết, thiếu sót, trách sự, người đứng trước kẻ đứng sau.
Trước năm 1956 và kể từ ngày thành lập Khuôn hội Tịnh độ chính thức 1957 đến đầu 2010, có 14 đời khuôn trưởng sau đây:
I. Chức vụ Khuôn trưởng:
Cố cụ Đào Nguyên Phong,
Cố cụ Đặng Túy,
Cố cụ Trương Tuy,
Cố cụ Lê Tá,
Cố cụ Văn Công Huấn,
Cố cụ Văn Oanh
Cố cụ Văn Công Cánh,
Cố cụ Đào Tầng,
Cố cụ Trương Phán,
Cố cụ Huỳnh Chớ,
Cố cụ Văn Dinh,
Quí cố cụ trên đây đến đầu năm 2009 đã lần lược ra đi về bên kia thế giới, còn lại quí bác nguyên Khuôn trưởng.
Bác Lê Phát
Bác Trương Công Châu.
Và Bác HoàngTân. Hiện nay đang đương kim khuôn trưởng (năm 2010). Quí cụ, quí bác được bầu làm khuôn trưởng, khuôn phó và các ủy viên, cho đến nay người còn kẻ mất, chúng ta kính cẩn tán thán và ghi nhận công đức của quí cụ, quí bác xin hồi hướng lên ba ngôi Tam Bảo.
Trong các nhiệm kỳ trên từ khuôn trưởng, đến các ủy viên. có quí cụ, quí bác phục vụ 3 năm, có quí cụ quí bác phục vụ đến 9, 10 năm. Trong 2,3 nhiệm kỳ liên tiếp, nhưng cũng được Đại hội thông qua cụ thể như bác:
Trương Tuy, Bác Đào Tầng
Bác Trương Phán, và Bác Trương Công Châu
Có quí bác, quí cụ đương kim phải đứng ra lãnh trách nhiệm lớn trong việc xây dựng, tái thiết chùa chiền, xây dựng tượng đài và cơ sở vật chất, cũng gặp lúc thuận lợi, lúc khó khăn. Âu cũng do bối cảnh lịch sử của đất nước, xã hội, quê hương và xứ sở.

Bác Văn Kỉnh Pháp danh Nguyên Cẩn
Nguyên Gia Trưởng Gia Đình Phật Tử An Bằng
Ý NGHĨA NGÀY HIỆP KỴ
Của Khuôn hội Phật giáo An Bằng

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính Thưa: Toàn thể Phật tử An Bằng.
Hiệp kỵ hằng năm Khuôn hội chúng ta đã thống nhất chọn ngay 01 tháng 11 Âm lịch là ngày hiệp kỵ chung của chư vị tiền bối hữu công, quí phật tử thiện nam tín nữ. Gia trưỏng Huynh trưởng, Cố vấn, Ban bảo trợ và đoàn sinh GĐPT An Bằng đã đi trước và kể từ ngày thành lập Khuôn hội 1956 đến nay.
Chúng ta chính thức Lễ hiệp kỵ vào ngày nầy kể từ năm 1963, là năm Pháp nạn tại ngôi chùa cũ cạnh Đình làng, từ đó cho đến nay 2009 đã tròn 46 năm ròng rã không có năm nào bỏ qua.
Hiệp kỵ hai tiếng thôi mà gợi cho người phật tử An Bằng, bao nhiêu thương cảm của các bậc cha mẹ, anh em, thân hửu đã vui thú an nhàn trong ánh từ quang của Chư Phật, tuy chưa phải rốt ráo đầy đủ những hoài bảo của người còn ở lại hôm nay, chúng ta cần phải cẩn niệm, hàn huyên.
Hiệp kỵ không những để tưởng niệm người quá cố, mà còn để gặp nhau sau một năm xa cách dòng cảm giữa âm dương tuy hai mà một.
Hiệp kỵ với bao thương tiếc ngậm ngùi, dù biết là vô thường nhưng mấy ai ngăn dòng lệ thảm đối với những người ra đi trước.
Hiệp kỵ là sự sinh hoạt theo nghi lễ truyền thống của đạo Phật, thể hiện tinh thần cốt lõi của đạo Phật, hòa nhập vào dòng luân lý đạo đức Phật giáo, bản sắc dân tộc, bằng tinh thần tri ân và báo ân, “ Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân ”. để vấn nạn A Nan. Làm thế nào để toàn vẹn tư cách của một người Phât tử, thực hiện hoàn mãn Bồ Tát hạnh sớm đạt quả vị giải thoát, giác ngộ, Phật dạy:
Để hoàn thiện viên mãn Bồ Tát hạnh điều cần thiết để phật tử nên làm là: Tinh thần tri ân và báo ân, cụ thể hơn Kinh dạy. “Thượng báo tứ trọng ân”. Bao gồm: Ân cha mẹ, ân thầy tổ, ân quốc gia xã hội, ân Tam bảo.
* Ân cha mẹ hòa quyện sống thực với hiếu đạo.
* Ân thầy tổ kết hợp với tinh thần tôn Sư trọng đạo.
* Ân quốc gia dạy con người biết yêu quê hương, yêu đất nước, yêu dân tộc, đồng bào, quí trọng vùng trời, vùng biển, đất đai lảnh thổ, núi sông mà cha ông đã bao đời bảo vệ và phát triển, tôn trọng sự sống của mọi người, mọi loài chúng sanh.
* Phụng sự chúng sanh là cúng dường Chư Phật, phật tử phải làm trong ba điều trên là đã tri ân, báo ân Tam bảo.
Bí quyết gồm bốn để sống đúng tinh thần Phật dạy:
1 / Gần gũi bạn hiền.
2 / Dốc lòng nghe pháp.
3 / Tin kính Tam bảo.
4 / Thà bỏ thân mạng, không làm điều ác.
Chúng ta thắng vượt hoàn cảnh khó khăn chướng ngại hàng năm để thực hiện Hiệp kỵ cho bằng được là hạnh sự vô ngại, khuyến học, tấn tu, để nhập đại đạo và đạt lý vô ngại, thành phần cả hai không sót mặt là lý sự dung thông vô ngại.
Ngược lại hàng năm Khuôn hội chúng ta tổ chức lễ Hiệp kỵ một cách khiêm tốn đầy đủ, sự hộ trì, cúng dường góp sức của toàn thể phật tử An Bằng, chủ mạnh thường quân tại lễ Hiệp kỵ là tạo phước điền để cấy giống Phật chủng, không nên chối từ mà kém phần phúc lạc.
Toàn thể Phật tử An Bằng và anh chị em con cháu chúng ta cùng nhau chí thành tâm nguyện cho phật sự Hiệp kỵ truyền thống được thập phần viên mãn.

Nam Mô Thường Tinh Tấn Bố Tát Ma Ha tát.

NỘI QUY VÀ ĐIỀU LỆ CỦA KHUÔN HỘI
PHẬT GIÁO AN BẰNG

Chương thứ nhất:

DUYÊN KHỚI

Nói đến Phật giáo An Bằng, chúng ta kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ các vị Tổ sư, quý vị Tiền bối, hữu công qua các triều đại đã sáng lập ra nền Phật giáo tại đây và xây dựng ngôi chùa đầu tiên nằm về phía Bắc của Làng chính từ thời bấy giờ gọi là xóm Chùa, thì đạo Phật An Bằng bắt đầu nguồn đó (từ thời Hậu Lê).
Nói đến Khuôn Hội An Bằng khi được chính thức thành lập vào năm 1956. Từ Phật Phổ học, Khuôn Tịnh Độ, rồi đến Khuôn Hội thì Phật Giáo An Bằng bắt nguồn từ đó, và tiếp tục xây dựng ngôi chùa thứ hai về phía Nam cạnh Đình làng.
Nói đến KHPG An Bằng, chúng ta cũng phải tưởng niệm đến quý bác, quý anh chị đã quá cố trong mọi hoàn cảnh, và cũng không nên quên quý bác, quý anh chị em còn lại đã và đang xây dựng KGH An Bằng, phục vụ đạo pháp tại quê nhà cũng như ở Hải Ngoại và xây dựng nên ngôi chùa thứ ba.
Kể từ ngày thành lập KH đến nay, chúng ta đã biết tổ chức của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, từ Trung Ương đến địa phương gồm có 5 cấp:
1. Trung ương Giáo hội.
2. Cấp miền.
3. Cấp tỉnh, Thị xã.
4. Cấp quận, Huyện.
5. Cấp Khuôn Giáo Hội
Giáo Hội chỉ đạo theo hệ thống ngành dọc từ trung ương đến địa phương, và từ địa phương đến trung ương. Nhiệm kỳ của Ban Đại Diện Khuôn Hội nay là Niệm Phật Đường là 3 năm.
Đối ngoại: từ Trung Ương đến địa phương, từ địa phương đến Trung Ương tùy theo cấp.
Về GĐPT nằm trong lòng giáo hội cũng có
5 cấp:
1. Trung ương.
2. Cấp miền.
3. Cấp Tỉnh, Thị xã.
4. Cấp Quận, Huyện.
5. Cấp gia đình.
Trung ương GĐPT chỉ đạo theo hệ thống ngành dọc từ Trung ương đến địa phương, từ địa phương đến Trung ương, “không có đối ngoại”.
Bởi vậy trong những thập kỷ qua từ khi xây dựng ngôi chùa thứ hai và thứ ba đến nay KH An Bằng chúng ta đã ra đời thành lập Nội quy – Nội lệ để áp dụng cho địa phương của mình. Nội quy, nội lệ đều được hội nghị của KH biểu quyết thông qua. Có bổ sung sửa đổi cho phù hợp tình hình thực tế theo sự phát triển của địa phương cấp mình, đều do Hội nghị của Khuôn giáo hội biểu quyết trong kì họp tiếp theo.
Và đây là Nội quy, Nội lệ được sửa đổi bổ sung, biểu quyết tại Hội nghị thường niên của KH An Bằng theo biên bản ngày 08 tháng 12 năm Ất Dậu (ngày 07 tháng 01 năm 2006). Phật lịch: 2549. Gồm có 3 chương 24 điều.
Chương thứ hai.

NỘI QUY VÀ NỘI LỆ

Điều 1: KHPG An Bằng là cấp cuối cùng của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam viết tắt là KHPG/AB.
Gia đình Phật Tử An Bằng là cấp cuối cùng của Gia Đình Phật Tử Việt Nam, viết tắt là GĐPTAB, nằm trong lòng KGHPGAB.
Điều 2: Các ban ngành trong KHPG/AB gồm có:
1. Ban đại diện.
2. Ban huynh trưởng.
3. Tiểu ban văn hoá.
4. Tiểu ban nghi lễ.
5. Tiểu ban từ thiện.
6. Ngành cư sĩ.
7. Đạo tràng tịnh độ. Đạo tràng Pháp Hoa.
8. Các chúng trưởng tại các vùng (hay thôn), mỗi chúng có ban viên giúp việc từ hai đến ba người, do chúng trưởng lựa chọn và được sự chấp thuận của KGH.
Điều 3: Ban đại diện KGH có trách nhiệm lãnh đạo, hướng dẫn các ban ngành và toàn thể đạo hữu trong KGH. Thực hiện mọi công tác Phật sự, tổ chức tu học, sinh hoạt, xây dựng con người tốt đạo, đẹp đời. Thi hành nghị quyết, Nội dung và Nội lệ của Hội nghị. Làm tròn bổn phận và trách nhiệm của mình, chịu mọi trách nhiệm về sự tịnh suy của KH.
Điều 4: Sinh hoạt tu học. Hằng năm tổ chức Hội nghị tổng kết công tác Phật sự trong một năm qua, báo cáo kết quả thu chi tài chính trong năm, đề ra phướng hướng của năm tới. Bổ sung nhân sự từ Khuôn trưởng cho đến các thành viên khi bị khiếm khuyết, hoặc lý do chính đáng.
Thành phần tham dự đại hội. Các ban ngành tân cựu KH và các vị hữu công, có đầy đủ uy tín trong KGH. Thời gian hội nghị vào thượng tuần tháng 12 Âm lịch.
Điều 5: Được tổ chức các phiên họp bất thường để giải quyết công tác Phật sự đột xuất.
Điều 6: Tổ chức tu bát quan Trai, lễ Quy y, mời Tăng, Ni thuyết giảng giáo lý, thành phần tham dự toàn thể đạo hửu của khuôn và các ban ngành.
Điều 7: Mỗi tam cá nguyệt tổ chức họp sơ kết công tác Phật sự, công khai tài chánh, kiểm điểm, động viên các ban ngành hăng hái trong công tác Phật sự, và biết được các ban ngành yếu kém trì trệ để uốn nắn động viên được tốt. Đề ra phương án ba tháng tới.
Điều 8: Tài sản, bất động sản của KH bao gồm:
Đất đai, chùa chiền, thánh thất, cơ sở vật chất, di tích lịch sử, văn hoá Phật giáo, các dụng cụ thờ cúng, kinh sách khí mảnh đều do KH quản lý và giao cho các ban ngành có trách nhiệm bảo quản để phục vụ công tác Phật sự liên quan đến ban ngành mình để hoàn thành nhiệm vụ đối với KGH.
Điều 9: Tài chính của KH:
Tài chính do đạo hữu Phật tử và thập phương thiện tín cúng dường Tam bảo tại KH hoặc tại các ban ngành nào đều chuyển lên KH để đưa vào quỹ, tuyệt đối không một ban ngành nào thu giữ tài chính riêng dưới bất cứ hình thức nào. Ngoại trừ tiền do hội viên ban ngành nào đó đóng nguyệt liễm để sinh hoạt.
Điều 10: Đạo hữu thập phương cúng dường vật thờ cúng như:
Tượng Phật, Bồ Tát, Đối Liễn, Hoàng Phi, Chuông Trống, các vật dụng thờ cúng hoặc vật dụng phục vụ trong KH đều được ghi sổ công đức lưu trữ tại KH. Đạo hửu cúng dường hiện kim để mua sắm các vật thờ cúng từ một triệu đồng trở lên cũng được ghi vào sổ vàng lưu trữ tại KH.
Điều 11: Việc thu, chi của KH được quy định:
Nguồn thu: Do đạo hữu, thập phương thiện tín cúng dường và các nguồn thu khác đều được đưa vào quỹ của KH không kể ít nhiều.
Nguồn chi: Vì những việc cần thiết cấp bách, ban đại diện KH có quyền duyệt chi từ một triệu đồng trở xuống. Từ ba trăm ngàn trở xuống, xét thấy phù hợp đáng chi thì thành viên trong ban thường trực tạm xuất chi. Từ một triệu đồng trở lên phải họp toàn ban ngành KH để biểu quyết.
Điều 12: Kiến thiết và xây dựng:
Kiến thiết xây dựng, tu sửa cơ sở vật chất phải triệu tập một phiên họp bất thường để biểu quyết thì mới thi hành, trừ trường hợp đã nằm trong phương hướng mà Hội nghị đã biểu quyết nhất trí thì không cần phải mở phiên họp bất thường nữa.
Điều 13: Lễ lượt, Quan, Hôn, Tang, Tế.
Hàng năm ngoại trừ các ngày vía Phật và Bồ Tát, chúng ta có các ngành lễ lớn như: Đại lễ Phật Đản, Đại lễ Vu Lan, Đại lễ Thành Đạo, lễ Chu niên GĐPT, lễ Hiệp kỵ của KH. Còn lễ vía Đức Phật Di Lạc nhằm ngày mồng một Tết Nguyên Đán. Hội nghị thường niên họp bàn và giao nhiệm vụ cho các ban ngành tại hội nghị tổng kết cuối năm.
Điều 14: Vị trưởng, phó khuôn phục vụ 3 năm trở lên, khi hết phục vụ là: Nguyên trưởng, phó khuôn, khi quá vãng đều được KH đứng ra tổ chức lễ tang nếu gia đình đồng ý.
Các thành viên trong Ban đại diện KH, Trưởng tiểu ban, chúng trưởng, kể cả tân cựu khi quá vãng KH đi điếu một bức trướng hoặc một vòng hoa.
Các ban viên trong tiểu ban hoặc tứ thân phụ mẫu của các ban viên đó khi quá vãng thì không đi bức trướng mang danh từ KH, hoặc tiểu ban mình.
Gia đình đạo hữu hoặc thân tộc xây lăng mộ KH đi thăm lần đầu, các lần khác không đi. Trường hợp có khởi mộ thì KGH đi thăm.
Làng, phường, tôn giáo bạn, các đại tôn xây lăng, nhà thờ nếu cần thì KGH đi thăm không có hạn chế mấy lần.
Điều 15: Các lễ lượt do Tỉnh, Huyện Giáo Hội tổ chức có thông tri thì y theo thông tri để thực hiện.
Đám tang Chư vị giáo phẩm, Lễ kỵ Tổ tại các Tổ đình KH tuỳ nghi phúng điếu thọ tang, đảnh lễ, cúng dường, lễ vật do ban thường trực ấn định.
Điều 16: Khi đạo hữu quá cố gia chủ phải trình KGH biết để đi thăm viếng kịp thời, nếu không trình thì KGH biết lúc nào thì đi thăm lúc đó.
Nếu trong gia chủ xin KH các lễ nghi như: Lo đám, Hộ niệm, xin thỉnh bàn đám và dụng cụ đưa đám KH cung cấp đầy đủ. Còn quan chấp lệnh đám của đạo hửu, nếu gia chủ xin Khuôn thì, chỉ có một quan chấp lệnh của KH từ đầu đến cuối không thay đổi quan chấp lệnh của đon vị khác ngoài Khuôn cử ra bất cứ lễ phúng điếu của thành phần nào; còn lệnh thì tùy gia chủ, nếu yêu câu Khuôn thì có lệnh của Khuôn, nếu gia chủ đề nghị có lệnh của gia chủ thì dùng lệnh của gia chủ.
Tư gia tập thể tổ chức lễ đám tang, an vị, cầu an, cầu siêu theo nghi lễ Phật giáo có mời KH thì KH cử các ban ngành liên hệ đi lễ, theo yêu cầu của tập thể và gia đình, ngoài quy định trên thì KH không chịu trách nhiệm về mặt này.
Khi có đám tang của đạo hữu trong KH thì KH và đạo hữu đều tập trung đi dự lễ cầu nguyện và tiễn đưa linh cửu đến mộ phần, qua tuần 49 ngày KH dự lễ cầu nguyện.
Điều 17: Các hương linh quá cố đã có pháp danh, hoặc chưa có pháp danh, quý thân nhân đã đến chùa xin lễ cầu siêu, nhập tự. Tất cả các hương linh thiện nam tín nữ này đều là chư hương linh quá cố của KH An Bằng. Chúng ta phải xem như cha mẹ, anh em, con cái, thân bằng quyến thuộc của nhau trong nhiều đời, nhiều kiếp, vậy chúng ta phải kính lễ, tôn thờ thật trang nghiêm, thường xuyên lui tới để thắp hương cầu nguyện.
Điều 18: Hàng năm làng có lễ Cầu an đầu năm, lễ Âm hồn KH đều tham dự. Còn lễ Đông Chí có mời KH thì KH đi dự lễ và tham dự tiệc.
Các đại tôn, Tôn giáo bạn tổ chức lễ có mời KH thì KH đi lễ và tham gia tiệc.
Hàng tháng vào ngày mồng 1, tại chùa KH chỉ lễ cầu an, hướng dẫn tu học thuết giảng giáo lý không có lễ cầu siêu, ký tự..
Ngày rằm (15) mới có lễ cầu siêu và ký tự, lễ cầu an chung và tư gia đạo hữu có xin lễ.
Ngày 30 hàng tháng nếu gia đình đạo hửu nào muốn kỳ siêu ký tự thì lễ ban ngày. Thay vì trước đây vào buổi tối.
Gia đình đạo hữu huý nhật muốn tụng kinh bộ thì mời KGH trước 3 ngày để có thời gian phân công cụ thể.
Tất cả mọi ngày trong năm đạo tràng Tịnh độ của KH tu học và kinh hành vào các buổi tối.
Điều 19: Đối ngoại
KGH có đối ngoại với chính quyền, Uỷ Ban Mặt Trận địa phương và cấp trên cùng các đoàn thể xã hội khi cần. Làng, Phường, Thôn và các đại tôn ở trong làng tuỳ theo mỗi công việc, việc đối ngoại cụ thể là:
Chính quyền, mặt trận địa phương khi mời họp, bàn việc có liên quan, hội nghị… có giấy mời thì KGH cử thành viên trong ban thường vụ đi tham dự.
Hội đồng hương tộc khi có chủ trương xây dựng quê hương như xây dựng đình làng, xây dựng nhà thờ 43 họ tộc nếu có giấy mời thì KGH cử thành viên tham gia góp ý xây dựng. Lễ lượt thường lệ hàng năm như: Tế thu, Đua, Cầu ngư, Kỵ, Ông ngư thì KH không tham dự các các phiên họp này. Hàng năm KH đi lễ cầu an đầu năm và lễ âm hồn do làng tổ chức.
Điều 20: Đạo hữu thuộc KH đau ốm, hoặc tai nạn nằm bệnh viện giải phẫu khi về nhà thì KH đi thăm có tặng sữa hoặc trái cây, còn đi chữa bệnh thường thì không. Đạo hữu đau ốm không đi bệnh viện, ở nhà nếu quá nặng thì KH đi thăm. Đạo hửu đau ốm bất thường, trở trời trái gió nhẹ nhàng rồi lành thì KGH không đi thăm.
Trường hợp các thành viên KH và đạo hữu khi được cử đi công tác Phật sự, gặp tai nạn rủi ro thì KH tuỳ theo hoàn cảnh để hỗ trợ, giúp đỡ.
Điều 21: Tất cả các đạo hửu phật tử ở trong KH, hay người ngoài không được
đem rượu bia đến tại chùa, trong khuôn viên chùa mừng gặp mặt hay liên hoan.
Điều 22: Quý đạo hữu phật tử đến chùa lễ phật vào các ngày rằm, mồng một, các ngày lễ lớn, ngày vía, và những cuộc họp do KH tổ chức đều phải ăn mặc chỉnh tề. Khi nghe ba tiếng chuông tất cả vào tại chùa nghiêm trang thanh tịnh để chuẩn bị hành lễ, thành viên của các ban ngành không có nhiệm vụ do ban thường trực phân công giải quyết công việc, hoặc tiếp khách đều vào lễ Phật.
Điều 23: Tất cả các thành viên thuộc ban ngành trong KH phải là người gương mẫu lo tu học, giữ gìn tác phong đạo đức, xây dựng xã hội, làm tốt đạo đẹp đời.
Nếu thành vên nào làm mất thanh danh của KH, ảnh hưởng đến nền tảng Phật giáo, thì tuỳ nghi lỗi lầm, nặng nhẹ để phê bình kiểm thảo, hoặc xám hối, hoặc kỷ luật khai trừ ra khỏi KH và thông báo cho đạo hửu Phật tử đều biết.
Điều 24: Ban Nội quy, Nội lệ gồm có 3 chương và 24 điều đã được Hội nghị thường niên biểu quyết nhất trí vào ngày 08 tháng 12 năm Ất Dậu (tức ngày 07 tháng 01 năm 2006). Phật lịch 2549. Chỉ được áp dụng trong phạm vi KHPG An Bằng. Mọi sửa đổi Nội quy, Nội lệ phải được hội nghị thường niên KHAB biểu quyết.
Nội quy, Nội lệ thiết lập vào ngày 08 tháng 12 năm Ất Tỵ (tức là ngày 30 tháng 12 năm 1960). Tại Chùa An Bằng.
Khuôn trưởng đã kí
Nguyên Phi – Trương Tuy
* Tu chỉnh lần I
Ngày 08 tháng 12 năm Tân Hợi tức ngày 23 tháng 1 năm 1972
Khuôn trưởng đã kí
Nguyên Hạnh – Đào Tầng
* Tu chỉnh lần II
Ngày 08 tháng 12 năm Ất Hợi tức ngày 27 tháng 1 năm 1996
Khuôn trưởng đã kí
Tâm minh – Lê Phát
* Tu chỉnh lần III
Ngày 02 tháng 12 năm Ất Hợi tức ngày 24 tháng 1 năm 2002.
Khuôn trưởng đã kí
Nguyên Minh – Trương Công Châu
* Tu chỉnh lần IV
Ngày 08 tháng 12 năm Giáp Thân tức ngày 17 tháng 1 năm 2005
Khuôn trưởng đã kí
Nguyên Minh – Trương Công Châu
* Tu chỉnh lần V
Ngày 08 tháng 12 năm Ất Dậu tức ngày 07 tháng 1 năm 2006. Phật lịch 2549
Khuôn trưởng –TNPĐ đã kí
Nguyên Minh – Trương Công Châu.
* Tu chỉnh lần thứ VI
Ngày 08 tháng 12 năm Đinh Hợi tức ngày 15 tháng 1 năm 2008 Phật lịch 2551.
Khuôn Trưởng. TNPĐ đã kí
Nguyên Nhật: Hoàng Tân.
* Tu chỉnh lần thứ VII
Ngày 8 tháng 12 năm Mậu tý tức là ngày 3 tháng 1 năm 2009 Phật lịch 2552
Khuôn Trưởng. TNPĐ đã kí
Nguyên Nhật Hoàng Tân

(Bản Nội qui, Nội lệ nầy chỉ áp dụng qua những lần tu chỉnh cuối cùng)
“ Quên mất tâm bồ đề mà tu hành các thiện pháp, gọi là hành động của ma.”

Kinh Hoa Nghiêm

TƯ LIỆU

Những Văn Kiện (tư liệu) pháp lý, sở hữu đất đai, bất động sản của Khuôn Giáo Hội Phật Giáo An Bằng kể từ năm 1975 trở về trước qua các thời kỳ xây dựng và phát triển Phật Giáo An Bằng ( Văn kiện pháp lý sở hữu đất đai đông sản, bất động sản
Văn kiện ( tư liệu ) liên quan đến việc Chùa làng và đât Tam Bảo Quan thổ mà nhà nước thời trước đã cấp cho Chùa, nhưng một số người dân trong làng thời ấy cậy quyền cậy thế chiếm dụng để làm của riêng.
Nên quí cụ làm việc Làng thời đó và toàn dân làng đứng ra làm đơn gởi lên cấp trên để lấy đất lại, đơn viêt vào ngày 24 tháng 12 Bảo Đại thứ 12. bằng 2 loại chữ Hán và chữ Quốc Ngữ bản dịch sau đây.

GĐPT An Bằng Luôn giữ lấy hạnh nguyên Tù Bi của Ngài QTÂ
để tu học hóa độ quần sanh
A. TƯ LIỆU LIÊN QUAN ĐẾN NGÔI CHÙA LÀNG

(Phụng dịch Nguyễn Chiến

Phụng sao lại bằng vi tính

An Bằng ngày 24 tháng 12 Bảo Đại 12

Chúng tôi chức dịch đẳng, làng An bằng, tổng Kế mĩ, huyện Phú vang, đồng làm tờ tương thuận như sau nầy:
Nguyên chúng tôi có ba sào Tam bảo quan thổ, ở tại Cồn chùa xứ, Đông tây tứ cận thì có châu bộ phân minh, Song đời trước Lê Phú là thủ bộ ở gần đất ấy, đã nhận canh đất ấy lâu năm, để lấy ba lỵ cúng Phật Thánh. Đến sau Lê Tình, Lê Cảnh cũng con cháu ông ấy đều làm thủ bộ kế tiếp, quyền hào trong tay. Nay không biết vì sao con cháu là Lê Đôn, Lê Hiển làm đơn lên tòa xin cải đam đất A-26 ấy làm tư nghiệp. Nay thưa quan chức cứu xử đã đôi ba phen, nên sinh phí tổn nhiều, thật rất ức tình cho bổn ấp.
Nên làng đồng tâm lực chịu góp tiền bạc, để tiện bề quan trên khiếu nại. Làng và Hội giáo đều thuận với nhau. Nay bổn ấp thiết nghĩ đất ấy là đất Phật Thánh, mà giáo hội cũng cam tâm góp tiền tố tụng. Nên nay đất ấy bên lương thì có Phật tự, bên giáo thì có Thiên chúa. Nên thuận làng chia ra ba phần. Hai phần thì giao làng canh tác hương du Phật Thánh, còn một phần giao giáo hội canh tác để đăng du Thiên chúa, để cho được hoàn toàn an hảo. Nay tương thuận tờ.
Bổn ấp đồng chức dịch ký chỉ.
Đại hào mục Nguyễn Ổn, ký
Cửu Phẩm Đào Phong, ký
Hương bổn Nguyễn Tuyễn, ký
Phó tổng dụng Đào Tràm, ký
Cựu thủ bộ Văn Nhượng, ký
Cựu thủ bộ Nguyễn Dụng, ký
Câu trưởng Nguyễn Nhỏ, ký
Cựu tri bộ Lê Kiêng, ký
Cựu lý trưởng Nguyễn Từ, ký
Cựu hương kiễm Văn Ngô, ký
Diêu ấm Nguyễn Dậu ký, chỉ
Lý trưởng Nguyễn Cự, ký, tiện áp
Thủ bộ Lê Tuyển, ký
Hương bộ Phạm Thưởng, ký, tiện áp
Hương Kiễm Văn Thành, ký
Hương mục Lê Hương, ký
Tộc trưởng Văn Ngàn,chỉ
Tộc trưởng Trương Tường, chỉ
Tộc trưởng Văn Có, ký
Cựu phó lý Lê Chất, ký
Tộc trưởng Văn Bị, chỉ
Ciựu phó lý Trương Lời, ký
Cựu phó lý Văn Diễn, ký
Cựu phó lý Lê Côn, ký
Cựu phó lý Văn Khoan, ký
Cựu phó lý Đặng Túy, ký
Cựu trùm trưởng Huỳnh Lam, chỉ
Cựu trùm Văn Quạy, chỉ
Cựu dịch Nguyễn Gẫm, ký
Trùm trưởng Nguyễn Lan, chỉ
Trùm Trương Tương, chỉ
Dịch hội Lê Luôn, chỉ
Trùm trưởng Nguyễn The, chỉ
Làm tờ hưong dịch. Văn Xuân, tự ký

B. ĐƠN XIN CẤP ĐẤT ĐỂ XÂY DỰNG NGÔI CHÙA CẠNH ĐÌNH LÀNG HIÊN NAY

Cọng Hòa Việt Nam
An Bằng ngày 23 – 3 – 1956
Ban chức vụ Khuôn tịnh Độ An Bằng
Kính xin
Ban Hội Đồng Hương Chính xã An bằng
Thưa quý Ban
Chúng tôi được chính quyền cho phép thành lập một Khuôn Phật Học tại xã. Hiện nay chúng tôi chưa có địa điểm để làm chùa thờ Phật.
Vậy chúng tôi có đơn này xin Ban Hội Đồng mà cho chúng tôi làm chùa trên miếng đất tại xã. Đông cận tiểu lộ, Tây đại lộ, Nam cận nhà ở, Bắc cận Miếu Thần Hoàng để có chỗ mà phụng thờ Tam Bảo, chúng tôi xin nhờ ơn quý Hội đồng.
Nay xin

Ban Trị Sự
Trưởng Khuôn Trương Tuy ký
Phó trưởng Khuôn Lê Tá ký
Tài chánh Đào Tư ký
Văn hóa Lê Côn ký
Thư ký Văn Hòe ký

Đồng ý không trở ngại
Chủ tịch Hương chính xã An Bằng
Lê Khinh đã ký và triện áp

C. Những Văn kiện liên quan đến động sản, bất động sản của Khuôn hội Phật Giáo An Bằng từ năm 1973 đến 1975
( Có Vinh Tính)

Ban Hộ Tự Khuôn Hội Phật Giáo và Ban huynh trưởng GDPT An Bằng trước đài lễ Phật Đản 2551

VIỆT NAM CỌNG HÒA
Biên bản

Hôm nay là ngay 15 tháng 5 năm 1973 ( tức là năm quý sửu ) Hồi lúc 9 giờ mai đã tổ chức một cuộc họp hội đồng tại phòng hội xã An bằng.
Thành phần dự họp gồm có :
Ông Nguyễn Nghệ, chủ tịch hội đồng xã
Ô Đào Tầng , Phó chủ tịch hội đồng.
Ông Lê Văn Xuân, Tổng thư ký.
Ông Trương Mai, Hội viên.
Ông Văn Chương, Hội viên.
Ông Văn Lý, Hội viên.
Ông Văn Giái, Hội viên.
Cuộc họp nay được đặt dưới quyền chủ tọa của Ông chủ tịch hội đồng và tuyên bố lý do với mục đích thảo luận về đơn trình xin của Khuôn giáo hội Phập giáo An bằng đề ngày 15 tháng 5 năm 1973. Trong đó tổng thư ký làm thư ký.
Sau một hồi thảo luận của Hội đồng xã xác nhận.
Nguyên trước đây theo châu bộ Gia Long đã trích trí một số đất 3 sào tam bảo quan thổ tại xứ A, cho chùa thờ Tam vị Quan thánh. Hiện nay cát đã tô bồi không thể khai thác được có nguồn lợi để thờ tam vị Quan thánh do Khuôn giáo hội Phật giáo phụng thờ.
Nay hội đồng chúng tôi đồng thuận chấp nhận theo đơn trình xin của Khuôn giáo hội với số đất 2 sào nguyên, không có linh tại xứ B. Đông tây tứ cận Y như đơn xin.
Nay hội đồng chúng tôi thanh lập biên bản nầy lưu hồ sơ./-
Hội đồng ký tên.
Chủ tọa Nguyễn Nghệ đã ký
Đào Tầng đã ký
Văn Lý đã ký
Hội viên
Trương Mai
Văn Giái đã ký
Thơ ký
Lê Văn Xuân đã ký
Văn Chương đã ký
Trương Đại đã ký.
Nơi nhân: – Thiếu tá Quận trưởng Quận Vinh lộc “Kính thẩm tường”
– Xã Trưởng UBHC xã An Bằng chiếu hành
– Khuôn hội Phật Giáo An Bằng chiếu hành.
– Hồ sơ lưu

BIÊN BẢN
Việt Nam Cộng Hòa
Quận Vinh Lộc
Xã An Bằng.

Họp bất thường của Hội đồng xã An Bằng
Khai mạc vào lúc 8 giờ mai ngày 20 tháng 8 năm 1973
Hội đồng hiện diện 6/6
Thành phần tham dự
Ông Phạm Bá Dy ( Cựu ủy viên Kinh tài )
Ông Nguyễn Anh Tuấn ( Tân ủy viên Kinh tài
I . Phần khai mạc: Sau khi thông qua chương trình cử hành, nghi lễ như thường lệ
Phần giới thiệu: Giới thiệu hội đồng hiện diện và quý vị mời tham dự
II. Phần nội dung: Buổi họp trên đặt dưới quyền chủ tọa ông chủ tịch hội đồng, ông tổng thư ký hội đồng làm thư ký.
Lý do ông chủ tịch hội đồng tuyên bố buổi họp hôm nay kiểm điểm công tác cũ, và đề án công tác mới, thảo luận nhiều vấn đề cần thiết. Qua phần giới thiệu tiếp tục thảo luận từng chi tiết.
Mục: 1,2,3,4. Hội nghị đã giải quyết
Mục 5 : Thảo luận về đơn xin đất của thầy Đại Đức Thich Từ Phong. Quản Đốc Ký Nhi Viện An Bằng, sau hồi thảo luận hội nghị đề nghị ông chủ tịch phải thưa qua làng đã chấp thuận cho Thầy trong đó có kiến thị của hội đồng xã.
Buổi họp bế mạc lúc 12 giờ ngày tháng như trên..
Biên bản nầy lập thành 7 bản.
4 bản gởi Đại Tá Tỉnh Trưởng Thừa thiên.
1 bản gởi Thiếu Tá quận trưởng Vinh Lộc
1 bản ông xã trưởng “ chấp hành”
1 bản lưu hồ sơ.

Hội đồng ký tên.
Chủ tọa Thư ký
Ký tên Văn Chương chủ tịch hội đồng ký tên Lê Xin

Ký tên Lê Phát Xã trưởng Lê Quả PCT/HĐ Nguyễn Nghệ

Trương Ngâu,HV/HĐ: SAO Y CHÁNH BẢN

SAO Y NGUYÊN VĂN
Ngày 3 tháng 9 năm 73.
Xã Trưởng UBHC Xã An Bằng

Lê Phát ký tên và đống dấu.

Quận Vinh Lộc VIỆT NAM CỌNG HÒA Số 201/HC/AB
Xã An Bằng
Xã Trưởng Ủy Ban Hành Chánh Xã An Bằng
Tham chiếu Biên bản họp của Hội Đồng xã , đề ngày 15 tháng 5 năm 1973 và đơn xin đất của Khuôn giáo hội Phật giáo An bằng, đề ngày 15 tháng 3 năm 1973.
Mục đích xin tân khẩn đất Bổn thôn công thổ tại Bàu tràm thuộc xứ B-Ước lượng 2 sào.
– Đông cận Khe làng.
– Tây cận đất trồng khoai của dân.
– Nam cận đất của bà Trương Thị Oải.
– Bắc cận Bàu làng.
Để hương khói quanh năm nơi phụng thờ Tam vị Quan Thánh.
Chiếu biên bản và đơn xin đề ngày,năm, tháng trên. Xã chúng tôi không trở ngại, và đồng thuận ký chấp. Để quý Khuôn trọn quyền xử dụng, canh tác hoa lợi từ nay kể về sau, xã chúng tôi không trở ngại điều gì cả.
An Bằng ngày 15 tháng 7 năm 1973
Xã Trưởng UB/HC Xã
Trương Đại
Ký tên và đóng dấu

Nơi nhận:
– Hội Đồng Xã An Bằng “ Lưu hồ sơ ”
– UB/HC Xã An Bằng “Lưu hồ sơ”
– Khuôn giáo hội Phật giáo An Bằng nhận hành.
– Ông Xã Trưởng UB/HC xã nhận lưu chiếu.
TRÍCH KINH YÊU THƯƠNG

Như một bà mẹ đem thân mạng mình che chở cho đứa con duy nhất, chúng ta hãy đem lòng từ bi mà đối xử với tất cả mọi loài.
Ta hãy đem lòng từ bi không giới hạn của ta mà bao trùm cả thế gian và muôn loài, từ trên xuống dưới, từ trái sang phải, lòng từ bi không bị bất cứ gì làm ngăn cách, tâm ta không có vương vấn một chút hờn oán hoặc căm thù. Bất cứ lúc nào, khi đi, khi đứng khi ngồi, khi nằm miễn là còn thức, ta nguyện duy trì trong ta chánh niệm từ bi. Nếp sống từ bi là nếp sống cao đẹp nhất.

Đại diện Ban Hướng Dẫn GĐPT/Thừa Thiên.
Anh Nguyễn Tất Trực, Văn Tiến Nhị thăm Đại Lão Hòa Thượng Đức Đệ Tứ Tăng Thống THÍCH HUYỀN QUANG tại chùa Hội Phước tỉnh Bình Định năm 2002

Huy hiệu Trại Vạn Hạnh

HUY HIỆU PHÁP ĐỈNH CỦA TRẠI VẠN HẠNH-IV- 1977.

1/ Đỉnh biểu tượng cho Hòa bình Thịnh trị.
– Đỉnh là khóa học cao nhất.
– Đỉnh là tuổi đời năm mươi lăm.
– Đỉnh Uy tín trong GĐPT.
2/ Chùa Một cột là chùa Diên Hựu, biểu tượng Phật giáo Việt Nam. Dùng tháp hay trụ đá có thể hiểu lầm kiến trúc ở Ấn, Hoa, Nhật.
3/ Chuông Quy Điều là Quốc bảo Đời Lý, chuông nầy đã bị Triều lý đem về Tàu thời Đại Nam bị Nhà Thanh đô hộ. (Trích diễn từ của anh Nguyễn Sỉ Thiều, phó BHD/TW/GĐPT Việt Nam, trưởng Ban Hướng Dẫn GĐPT/Thừa thiên, trại phó Trại Vạn Hạnh IV- 1997. Khai mạc Ngày 17 tháng 8 năm 1997(15 tháng 7 Đinh sửu, Phật lịch 2541) Tại Tổ Đình Chùa Từ Hiếu.

LỜI TÂM SỰ

Kính gởi: Quí bác Gia trưởng, Huynh trưởng và Đoàn sinh GĐPT.
Kính thưa quí bác Gia trưởng, các anh chị Huynh trưởng và các em Đoàn sinh GĐPT.
Mỗi chúng ta là một cá thể, không ai biết được mình từ đâu mà sinh ra. Trên đất nước nầy, trên qủa đất nầy, không ai giống ai về thể chất, tinh thần cũng như địa vị xã hội và sở thích, đam mê trong cuộc sống dù là anh em ruột thịt một nhà.
Nhưng chúng ta giống nhau ở chỗ là cùng tu học một giáo lý của Đức Phật, cùng nhau sinh hoạt trong tổ chức. GĐPT.
Sự giống nhau đó biểu hiện bằng màu áo lam giản dị, màu áo đã trở thành keo sơn gắn chặt chúng ta lại thành một niềm tin thương mến chân thành.

Dù cách xa nhau qua núi rừng, biển cả, chưa hề gặp mặt, nhưng nghe ai tĩnh tâm tu học, gặp nhiều may mắn thì vui mừng, nghe có người bị nạn, ốm đau thì nóng lòng giúp đở, biết có người không giữ được giới luật thì đau xót vô cùng

GĐPT An Bằng sau giờ sinh hoạt ngành

Huynh trưởng ngành nử GĐPT An Bằng là các chị tiêu biểu đưa ngành nử GĐPT An bằng vững bước tiến lên

Thiền Hành khóa tu Phật thất chùa An Bằng

GĐPT Thừa Thiên trước tháp Đức đệ tam Tăng
Thống Thống Thích Đôn Hậu Chùa Linh Mụ

GĐPT dụ lễ Chu niên lần thứ 27
Sự cảm thông lo lắng cho nhau đó không do ai khuyến khích thúc đẩy mà do sự chân thành tu học mà phát xuất ra cái đạo tình bao la thắm thiết ấy.
Tôi may mắn được gia nhập GĐPT đến nay đã hơn nửa thế kỷ rồi, đã sống hơn nửa cuộc đời, cái tình đạo đẹp đẽ mà quí bác quí anh chị đã dành cho.
Mỗi ngày tuổi tác đi qua, sức lực trí óc mỗi ngày một suy kém, biết có ngày phải chia tay nhau mãi mãi, nên cũng gởi gắm lại mấy lời để đền đáp thịnh hành của quí bác, quí anh chị và các em kính mến tôi chân thành …
A / CHÚNG TA HÃY NHÌN LẠI THÀNH QUẢ CỦA NỀN GIÁO DỤC GIA ĐÌNH PHẬT TỬ ĐỂ THÊM VỮNG NIỀM TIN Ở TƯƠNG LAI.
I / Mục đích của nền giáo dục GĐPT.
Chúng ta đều biết mục đích của Phật pháp là giúp con người có nhân cách tương đối trong hiện tại để tiến đến nhân cách viên mãn trong tương lai, thực hành được lời dạy của Đức Phật chừng nào, chúng ta được an vui giải thoát chừng ấy.
Nhằm thực hiện mục đích cao cả ấy, GĐPT ra đời để đào tạo thanh thiếu nhi trở thành một phật tử chân chính và góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần phật giáo, mà tinh thần Phật giáo lấy từ bi trí tuệ làm căn bản.
Từ bi ấy là động lực thúc đẩy quí thầy, quí bác quí anh chị tiền phong soạn thảo chương trình tu học cho GĐPT, và trí tuệ ấy đã làm cho chương trình tu học ngày càng phù hợp với nhân tố tính và xã hội, hay nói một cách khác vừa khế lý vừa khế cơ.

Huynh trưởng và Ban quản trại thăm trại tổ Oanh vũ

Nó bao quát nhiều lảnh vực nhưng không thiên về một bộ môn nào ngoại trừ Phật pháp. Nền giáo dục của GĐPT không có tham vọng bổ túc cho giáo dục ở học đường, mà chỉ có mục tiêu là khơi dậy tiềm năng của con người, để người đó tự khai triển mà trở thành đặc tài, có nhân cách nhờ sự tu học.

Vì thế GĐPT đã phát triển một cách tự nhiên, không gò bó không dựa vào thế lực nào cả. Dù gặp bao trở ngại khó khăn đã làm động lực cho phát triển và trưởng thành của GĐPT chúng ta.

Lễ Hành Thiền khóa Tu Phật Thất tại chùa An Bằng

II / Kết quả của nền giáo dục ấy:
Đặc san Viên Âm số đặc biệt 1951, Hòa Thượng Thích Minh Châu hiện nay là một sáng lập viên GĐPT. Sau khi trình bày mục đích của GĐPT, Hòa Thượng đã kết luận rằng: “Không tán thành và hưởng ứng mục đích của GĐPT, thì có những người sau đây”.
a / Chấp thủ không chịu tìm hiểu.
b / Ưa sống ích kỷ.
c / Thiên trọng vật dục.
d / Không hiểu thanh niên.
e / Hạng vong bản.
Lời khẳng định trên đã nói lên cái trách nhiệm nặng nề của GĐPT và GĐPT đã hoàn thành tốt đẹp trách nhiệm của mình. Với hàng chục Thánh tử đạo phát xuất từ đây, với hàng trăm Tăng, ni, chân chính phát xuất từ đây làm rạng rỡ giáo Pháp của Đức Như Lai, với hàng ngàn huynh trưởng chấp nhận cuộc sống thanh bạch, giữ gìn tác phong đạo đức. Khước trừ những nghề nghiệp danh lợi trái với từ bi của đạo Phật và hàng vạn các em đoàn viên như những cánh sen tươi thắm trên vạn nẻo đường đất nước và từ từ nở khắp năm châu.
B / THÀNH QUẢ ẤY NHỜ ĐÂU MÀ CÓ:

I / Sự quan tâm của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất:
Trong bài giảng “Đừng ngộ nhận Phật Giáo” của Hòa Thượng Thích Đôn Hậu, sau khi phân tích những lầm lẩn của người trong đạo lẫn ngoài đạo, Ngài dạy: “Đạo Phật không phải ở trong chùa, không phải ở nơi người lớn mà chính ở nơi hàng nam nử thanh thiếu nhi phật tử”.
Vì thế nên có câu: “Cứu được một người lớn thì chỉ cứu được một mạng người, nhưng cứu được một trẻ nhỏ là cứu cả một bản tính nhân ”.Vì thế mà GĐPT được giáo hội chăm sóc tận tình, không có một buổi lễ, một cuộc cắm trại nào vắng bóng chư vị tăng ni. Không khi nào chúng ta thiếu các vị cố vấn giáo hạnh hướng dẫn chúng ta trên bước đường tu học.
II / Sự nỗ lực của quí bác, quí anh chị tiền phong:
GĐPT là một ngôi nhà được xây dựng bằng tình thương và trí óc, sở dĩ nó bền vững vì tình thương nó đậm đà, như Ngài Đôn Hậu đã nói vào năm 1984: “Chị Kim Cúc lên thăm tôi có nói chuyện về hoàn cảnh sinh hoạt của anh chị em GĐPT hiện tại chị nói rồi rưng rưng nước mắt, tôi là người tu hành cố tánh sự cảm xúc đã lâu, nhưng nghe chị Kim Cúc nói lên tình đạo thắm thiết của anh chị em mà tôi cảm động quá ”.
Vì sở dĩ nó phát triển nhờ sự nỗ lực về trí óc của những người đi trước, sự nỗ lực ấy cũng là sự đền đáp lại phần nào huấn thị của Đức Phật. Tuy có sự đóng góp của hàng người tạo nên những hình thức tốt đẹp, nhưng chính là nỗ lực của mỗi cá nhân trong đó mới quan trọng.
Nhờ thế các anh chị đã nghiên cứu giáo lý, học hỏi những chỗ cao thâm uyên bác và đã thành công khi GĐPT có đủ Nội quy, Quy chế có đủ chưong trình tu học, huấn luyện cho đoàn viên.
III / Sự cố gắng của các anh chị em đoàn viên:
Hoa sen vương lên ở trong bùn. GĐPT vương lên từ trong cuộc đời ô trược, chúng ta không có duyên vượt hẳn như các vị xuất gia, nhưng chúng ta cố gắng vượt lên khỏi ràng buột của cuộc đời, vào mỗi dịp sinh hoạt hằng tuần, hoặc 30, mồng 1, rằm, 14. Chúng ta không bỏ phí thời cơ tu học dù gặp khó khăn và trở ngại. Nhờ thế mà GĐPT không lúc nào vắng bóng trên mái chùa thân yêu, dù sự có mặt ấy có lúc khác nhau tùy hoàn cảnh, cũng ví như Hoa sen luôn có mặt ở trong hồ dù khi mùa xuân xanh lá, khi mùa hạ hoa tươi, thu đông hoa tàn, nhưng mầm cũ bắt đầu cho mùa hoa mới.

C / MUỐN CHO THÀNH QUẢ ẤY TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN TRONG TƯƠNG LAI CHÚNG TA PHẢI LÀM GÌ ?

I / Những điều cần phải làm:
Là Huynh trưởng chúng ta biết rằng. Lối cốt yếu vào đạo trước hết phải phát tâm, việc cần kíp trong sự tu hành, trước hết phải lập nguyện, có phát tâm mới mong độ chúng sanh, có lập nguyện mới kham thành Phật đạo.
Vậy nên Kinh Hoa Nghiêm nói:
“Quên mất tâm bố đề mà tu các thiện pháp, gọi là hành động của ma ”
Xem thế ta thấy phát tâm bồ đề đối với người huynh trưởng vô cùng quan trọng, tâm bồ đề ấy là tâm sáng suốt quên mình để trên thì cầu Phật đạo, dưới cứu giúp mọi loài, hay nói tóm lại trong hai chữ Tu và Hành”.
1 / TU:
Là sự mong cầu giải thoát cho bản thân mình, muốn thế ta phải thực hành 5 điều căn bản sau đây:
a / Phải học, phải nghiên cứu kinh điển, giáo lý.
Tìm hiểu lời dạy của Đức Phật, để tự tìm hiểu cho mình đức tánh từ bi, hỷ xả, nhẫn nhục để được tự tại trong lúc gặp nghịch cảnh, khó khăn, nhờ có như vậy tín tâm của ta tăng trưởng, và trí tuệ ngày càng phát triển, các anh chị tiền phong đã thành công cũng là nhờ huân tập một ít giáo lý, mà soạn được tài liệu cho đoàn sinh, đưa ra những dự án ích lợi cho tổ chức.
Trái lại người không tự học giáo lý, kinh điển ở trong tổ chức gia đình Phật giáo một thời gian sẽ thấy chán nản, vì tín tâm không vững, khả năng đã dùng hết mà chẳng được lợi ích gì nên phải bỏ cuộc.
b / Phải tụng kinh niệm Phật.
Tụng kinh niệm phật để cho tâm trí được định tỉnh và thanh thoát, mọi ý nghỉ lăng xăng lắng dịu, ý niệm tốt nảy sinh, nhờ đó mà trí tuệ tăng trưởng.
Muốn việc tụng kinh niệm phật có kết quả, trước hết ta phải chú tâm, không để tâm phóng túng, mọi người chung quanh không lớn tiếng ôn ào, nếu lắng nghe càng tốt, như vậy tụng kinh là một hình thức thiền định, tạo một cảnh nhân gian tịnh độ, lợi mình, lợi người.
Trước đây ta nghiên cứu sách vở ở các nước như Tích Lan, Miến Điện, nam nữ thanh niên đến tuổi trưởng thành đều phát nguyện vào chùa một thời gian rồi mới ra đời làm việc, lập gia đình, do đó xã hội của họ có phong tục tập quán và sinh hoạt thật tốt đẹp.
c / Nên tụng kinh bằng tiếng Việt.
Ngày xưa chữ Hán là văn tự chính của nước ta, nên ai cũng có học và viết được, hiểu được. Ngày nay chữ Hán đã được chữ Quốc ngữ thay thế, do đó mà ít ai còn học chữ Hán, cho nên tụng kinh bằng chữ Hán thì nghe hay mà chẳng hiểu. Vì thế quí thầy đã tận lực dịch kinh từ chữ Hán, chữ Phạn, chữ Paly ra chữ Việt, nếu chúng ta vẫn tụng kinh bằng chữ Hán, thì sẽ trái với Thánh ý vì: Luôn luôn sợ rằng đạo của mình sẽ biến thành một sự sùng bái hão huyền. Đức Phật đã phán ta truyền rằng: “ Mỗi người phải học giáo lý của ta trong ngôn ngữ của riêng mình ”.
Đức Phật nghỉ rằng qua bao thế kỷ loài người sẽ không còn biết được nguyên ngữ của các bản văn và chỉ còn ghi lại những chữ bí ẩn đối với họ. Và họ lại còn gán cho những chữ ấy một giá trị huyền bí, một năng lực thiêng liêng. Chính Đức Phật muốn tránh điều ấy cho đời sau và chúng ta nên tôn trọng Thánh ý của Ngài bằng cách suy luận từ ngữ Paly, chữ Phạn, chữ Hán để tìm hiểu nghĩa chính xác trong ngôn ngữ của chúng ta. Không giữ nguyên những câu bằng chữ Hán để đọc lên một cách trịnh trọng trong các buổi lễ mà Đức Phật đã tố giác là có hại cho sự tiến triển tinh thần của người phật tử (Trích trong bài khía cạnh ngôn ngữ học Vạn hạnh số đặc biệt Thành Đạo Đinh vị 1967).
Như vậy tụng kinh ngoài việc làm cho tâm mình trở thành nhất niệm thuần chánh việc tìm hiểu nghĩa cao thâm của kinh cũng rất quan trọng.
Hiểu nghĩa để tăng thêm lòng tin, hiểu nghĩa để mở mang trí tuệ và để thực hành lời dạy của Đức Phật mới mong giải thoát, do đó tụng kinh bằng tiếng Việt là điều vô cùng cần thiết.
d/ Không hoài nghi chán nản khi tụng kinh và gặp phải nghịch cảnh.
Thông thường khi gặp nạn ta hay tụng kinh để cầu an, nhưng trong nhiều trường hợp, tụng kinh lại gặp phiền não, tai nạn. Do đó nên hiểu rằng nếu chí thành tụng kinh, niệm Phật thì tội báo nặng thành nhẹ, oán được tiêu trừ nghiệp báo được sớm thể hiện trong đời này cho xong, để hưởng phước báo ngay trong hiện tại hoặc về sau. Là Huynh trưởng ta phải giữ chánh tín, không nghi ngờ vì lời Phật dạy là con đường đưa đến chân lý, không thể nghĩ bàn.
e / Phải thân cận với vị bổn sư.
Chúng ta là một Phật Tử, đã quy y Phật, Pháp, Tăng nhận lấy một Pháp danh tức là tự nguyện suốt đời tu học, và thực hành giáo lý của Đức Phật, y chỉ theo vị bổn sư truyền giới.
Trong kinh Thiện Sinh, Đức Phật dạy rằng: Người thọ ân giáo hóa nên phụng sự Tăng già bằng năm điều: Tiếp rước chí thành, niềm nở, hoan hỷ, cúng dường đồ nằm, đồ ăn, hộ vệ đúng như chánh Pháp.
Thế ta luôn luôn gần gũi vị bổn sư, nếu có điều kiện thì giúp đỡ người để người có phương tiện tu hành, giáo hóa chúng sinh. Khi ta có chuyện không vui nên bộc bạch để nhận được ở người sự an ủi, giải quyết, vì người là kẻ thay mặt Như Lai. Chăm sóc tinh thần cho ta, thế mà có Phật tử suốt đời không biết đến bổn sư, thật trái với giới luật.
g / Điều căn bản nhất của người Phật tử là thân giáo:
Ta biết rằng hằng trăm lời giáo thuyết không bằng một hành động thực tế, có thân giáo thì những lời giảng, lời dạy mới có kết quả. Là Huynh trưỏng chúng ta luôn luôn có sự chú ý của các bậc phụ huynh, của đồng đạo, bạn bè của các em, cho nên ta phải tôn trọng trọng cử chỉ và lời nói. Rèn luyện thân giáo không phải khó khăn, đó là việc giữ gìn Tam quy, Ngũ giới và thực hành Tứ nhiếp pháp trong đời sống hằng ngày của chúng ta.
II/Hành:
Là đem những hiểu biết của mình hướng dẫn người khác cùng tu học và thực hành giáo lý của đức Phật. Trong đạo Phật, hành có nghĩa là giáo hóa chúng sanh, trong phạm vi GĐPT, hành chính là việc thực hiện mục đích đào luyện thanh thiếu nhi trở thành một phật tử chơn chánh và góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần phật giáo. Muốn thực hiện mục đích ấy có kết quả ta phải làm 5 điều sau đây:
1. Phải nhận thức trong trách nhiệm của mình:
Làm Huynh trưởng không phải chỉ có trách nhiệm đối với chính mình, với các em, với tổ chức trong các buổi sinh hoạt, mà trách nhiệm ấy phải gánh suốt đời. Thực hiện tốt trách nhiệm ấy ta phải làm gì ? Trước hết phải hoạch định một chương trình tu học sinh hoạt hợp lý không tùy tiện.
Chương trình ấy phải phù hợp với cuộc sống hằng ngày của chúng ta, phù hợp với sinh hoạt hàng tuần hay bất thường của tổ chức, như thế ta khỏi lúng túng trong công việc, khỏi nhàm chán trong sinh hoạt. Phải luôn tìm hiểu học hỏi, sưu tầm để hướng dẫn cho các em và đóng góp cho tổ chức, có thế việc sinh hoạt mới có kết quả tốt.
Chuyên cần sinh hoạt là yếu tố quan trọng, sự có mặt thường xuyên của chúng ta gây sự tin tưởng cho các em, đừng để các em thất vọng khi chúng ta vắng mặt với những lý do không quan trọng. Có chuyên cần mới làm cho các em hiểu được ta yêu mến các em và say mê tổ chức GĐPT. Các em sẽ theo gương ta mà tiến bước trên con đường tu học.
Phải sâu sát đoàn sinh, để các em thấy rõ ta yêu mến các em chân thành. Sự sâu sát nầy sẽ tạo cho ta có cơ hội tìm hiểu tâm lý, hoàn cảnh của các em để việc giáo dục có kết quả hơn và cũng để giúp đở kịp thời khi các em gặp khó khăn, ngăn chặn kịp thời khi các em gặp lầm lỗi. Đây cũng là bước thể hiện niềm tin cho phụ huynh, đừng nghỉ rằng ta có trách nhiệm khi đến chùa mà thôi.

2 / Phải hiểu rằng khi phát nguyện làm Huynh trưởng là thực hành pháp thí của Chư Phật, Chư Bồ Tát
Đức đệ nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết, Hòa Thưọng Ủy viên giáo dục Tăng Ni Thích Thiện Siêu, Hòa Thương cố vấn giáo hạnh GĐPT Thích Đức Tâm đều dạy rằng: “ Sự góp công, góp của xây dựng chùa tháp, cúng dường tăng ni là quí hóa, nhưng sự cúng dường sau đây lại quí hóa hơn ”.
– Công khai hoặc âm thầm truyền bá Đạo pháp, đạo pháp mới tường tồn.
– Thường xuyên đến chùa từ trẻ đến già không quản ngại khó khăn là trực tiếp hoặc gián tiếp giúp cho đồng đạo giữ được tín tâm.
– Làm Huynh trưởng đào tạo một thế hệ trẻ nối tiếp đạo nghiệp của phụ huynh, những người nầy có đức tính dõng mãnh, tín tâm bất thối mới làm được.
3 / Cố gắng soạn thảo tài liệu tu học cho các em:
Trong kinh Tổ có nói: Y kinh hiểu nghĩa, Tam thế Phật oan, ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết. GĐPT cũng vậy, nếu huynh trưởng chỉ biết căn cứ và chương trình tu học mà dạy các em thôi, là thiếu sót, mà dạy ra ngoài chương trình lại càng lầm lỗi hơn. Do đó để tránh trình trạng ấy là phải vân dụng khả năng tu học, lấy chương trình tu học làm thân cây, còn những diễn biến về tâm sinh lý của các em, về hoàn cảnh của xã hội, của sinh hoạt địa phương chính là cành, là lá, là hoa thêm vào cho cây sum sê kết trái.
Đừng ngừng ngại hay dở. Sự đóng góp của chúng ta sẽ là đóng góp vào kho tàn GĐPT ngày càng phong phú, sẽ được sửa chữa, bổ túc theo kịp tiến hóa của xã hội.
4 / Phổ biến kinh điễn tài liệu học tập:
Đây là việc làm thể hiện đạo tình thắm thiết của chúng ta, vì thế ta nên khuyến khích các em nên nhịn bớt quà bánh để trước hết cho các em cúng dường tăng, ni, lui tới gần gũi bậc tu hành, gần gũi với chùa chiền, sau đó các em có dịp thăm các anh chị trưởng cao niên, các anh chị em đoàn viên đau ốm, nếu được ta nên khuyến khích các em hàng tuần góp một lon gạo vài ba ngàn bạc để có dịp giúp đở các anh chị trưởng, các em nghèo túng, hoặc tai nạn, đau ốm.
Đây không những là niềm an ủi trong tình đạo, mà cũng để chứng minh với mọi người cái tình đạo ấy, như lời Phật đã dạy:
Thường tôn trọng kính lễ
Bậc kỳ lão Tưởng thượng
Được tăng tưởng bốn pháp
Thọ sắc cái sức khỏe

Hoặc:
Tháng tháng lẻo ngàn vàng
Tế tự cả trăm ngàn
Chẳng bằng trong giây lát
Cúng dường bậc chân tu
Sự cúng dường như vậy
Hơn trăm năm tế tự
(Kinh Phát Cú)
III / Những điều nên tránh:
Là Huynh trưởng chúng ta phải ý thức tầm quan trọng của mình trong sự hưng vong của Phật giáo.
Trong kinh Đại Niết Bàn Phật có dạy: “ Nầy thiện nam tử, nếu Phật ra đời chứng vô thượng Bồ Đề, hàng đệ tử dầu có người hiểu nghĩa đại thừa rất sâu mà không có hàng Bạch y Đàn Việt hết lòng kính tín, tôn trọng Phật pháp, thì khi phật pháp diệt nền chánh pháp đó chẳng ở lâu nơi đời. Nếu có hàng Bạch Y Đàn Việt hết lòng kính tín phật pháp, Phật dầu nhập Niết Bàn, nhưng chánh pháp vẫn ở lâu nơi đời ”.(Phẩm Phạm Hạnh).
Lại trong Kinh Ưu Bà Tắc giới, Đức Phật cũng tán thán. Bồ tát tại gia độ được nhiều người, Bồ tát xuất gia không được như vậy. Tại sao ? Nếu vì không có hàng tại gia thì không có hàng xuất gia, trong ba thừa, tu tập giáo lý, trì giới tụng kinh, ngồi thiền định, đều do người tại gia là người trang nghiêm. Hộ pháp (Phẩm lợi mình, lợi người).

Qua lời Phật dẫn dụ trên ta thấy rõ trách nhiệm của người Huynh trưởng đối với đạo pháp, hay nói hẹp là đối với tương lai của đàn em, tương lai ấy tốt đẹp hay không đều trông cậy vào những điều ta phải làm nêu trên, nhưng bên cạnh những điều phải làm, những điều ta phải tránh sau đây là những điều rất cần thiết:

1. Phải tôn trọng hành trì giới luật.
Đức Phật đã dạy: “ Khi ta nhập diệt rồi chính giới luật là người thầy dìu dắt các con trên đường tu học ”.Ta không giữ giới luật là ta không có thầy. Ngạn ngữ ta có câu: Không thầy đó mầy làm nên, làm sao mong cầu có nhân cách tương đối trong hiện tại và nhân cách viên mãn trong tương lai được. Phật tử sơ cơ chúng ta chỉ có năm giới căn bản là: Không sát sanh, Không trộm cắp, Không tà dâm, Không nói dối, Không say sưa.
Sát hại, trộm cắp, tà dâm là ba giới ai cũng sợ. Còn nói dối, uống rượu nghe nhẹ hơn nên coi thường, vì thế nên Huynh trưởng hay mắc phải. Nhưng ta phải hiểu rằng giới luật liên quan mật thiết với nhau, nên có khi phạm một giới uống rượu, có thể đưa dẫn đến phạm năm giới mà ta không ngờ.
Ví dụ: Gặp bạn kéo nhau vào quán uống một ly mừng nhau, rồi vui miệng hai ly, ba ly, rồi say mềm. Thế là phạm giới uống rượu phạm luôn cả giới nói dối. Dối ai ?.
Dối lời ta đã thề nguyện quy y, dối đồng đạo, dối cả vị Bổn sư truyền giới, dối luôn cả Đức Phật là phạm luôn cả Tam quy, rồi do rượu dẫn dắt, có khi gây ra cải nhau, đánh nhau (Phạm sát hại). Rồi do rượu có khi dẫn dắt làm những hành động dâm tà, rồi có khi do rượu dẫn dắt thèm quá mà không có tiền thì sinh ra trộm cắp. Nói thế không có nghĩa chúng ta tuyệt đối không uống. Nhưng phải thấy rõ hậu quả trầm trọng của nó mà hạn chế trong các tiệc vui, tiệc cưới để khỏi ân hận về sau.
Giới nói dối cũng thế, vì nó không hình tướng như bốn giới kia nên lại càng dễ mắc phải. Nói dối tựu trung có bốn điều: Nói không đúng sự thật, nói độc ác, nói đâm thọc, nói hoa mĩ. Nói không đúng sự thật là điều ta hay vấp phải nhất. Đôi khi muốn cho câu chuyện thêm hấp dẫn, đậm đà ta bịa thêm cho thú vị, nhưng lại dẫn đến hai sai lầm lớn: Người nghe, nghe sai sự thật sẽ đâm ra nghi ngờ, khi biết được sự thật ta sẽ trở thành một tên nói láo, ai tin ta nữa.?
Lời nói thô ác là điểu rất kiên trong GĐPT chúng ta. Ta dạy các em từ bi, hỷ xã, hòa thuận, tin yêu, thế nhưng lời nói thô ác làm mất hết ý nghĩa giáo dục, lời nói thô ác có khi là do cái miệng quen nói, có khi do hành động và ý thức dẫn dắt cả hai cái đều tai hại như nhau phải cố tránh.
Lời nói thâm thọc lại càng tệ hơn. Ưa ai thì nói tốt, ghét ai thì nói xấu, có nói không, không nói có, gây xích mích thù hận giữa người nầy,với người khác.
Trong Kinh điển nói: Về tội báo, thì tội phá hoại sự hòa hiệp đoàn thể chân chính là một trọng tội.
Lời nói hoa mĩ thường gây hiểu lầm không ít. Nói hoa mĩ để đề cao mình, hạ uy thế người khác, nói hoa mĩ để lấp việc mình không làm được. Nói hoa mĩ để che đậy cái xấu của mình, để người khác lầm tưởng mình trong sạch, thẳng thắng. Thật là bỉ ổi, vì thế trong kinh Đại Niết Bàn Đức Phật dạy:

Nếu nói quá một pháp.
Đây gọi là vọng ngữ.
Chẳng những về đời sau.
Không ác nào không làm.
(Phẩm tà hạnh).
Phẩm thế gian trong Kinh Phát Cú, thầy Minh Châu dịch:
“Ai phạm đạo nhất pháp.
Ai ưa lời vọng ngữ.
Ai không tin đời sau.
Không ác nào không làm”.

Phẩm Địa ngục:
“ Nói láo đọa địa ngục.
Có làm nói không làm.
Cả hai đồng nghiệp báo.
Chết làm người hạ tiện.”

2. Không buông thả tình cảm:
GĐPT là một tổ chức tình thương, tình thương như ruột thịt nên gọi là gia đình. Chúng ta vì tình thương các em nên hết lòng lo lắng cho tổ chức, tình thương của chúng ta là tình thương chân chính, nên có ba điều phải chú ý:
Đối với các em đừng thiên vị, đừng vì các em sạch sẽ khôi ngô mà ta nâng niu, đừng các em thông minh lanh lẹ mà ta chiều chuộng.
Trái lại ta phải vì các em bất hạnh, dùng tình thương bù đắp cái thiếu thốn của các em ấy.
Đối với đồng sự đừng vây phe cánh, luôn luôn chân thật, tìm hiểu nhau dìu dắt học hỏi nhau để tiến bước trên đường đạo.
Đối với tinh cảm gái trai, trong GĐPT không cấm đoán mà rất tán thành các anh chị em tìm hiểu nhau, không gì hạnh phúc bằng hai người yêu nhau cùng chung lý tưởng. Nhưng nếu lợi dụng đoàn thể để trao đổi tình cảm bất chính GĐPT cương quyết kỷ luật.
3. Không để mất tín tâm:
Các em đến đoàn không phải vì hoàn toàn tin Phật, tin vào mục đích GĐPT, tuổi các em đa số ham vui, vì vui mà đến với gia đình, nhưng điều quan trọng nhất là các em tin chúng ta, và từ chỗ các em tin chúng ta, mà tin vào Tam bảo. Do đó chúng ta phải biết hướng dẫn cho các em có một niềm tin chân chính.
Muốn thế thì niềm tin của chúng ta trước hết là phải chánh tín Tam Bảo thật vững chắc, nhưng làm thế nào để có niềm tin vững chắc ?. Điều tất yếu là chúng ta phải thực hiện tốt. “Các điều nên làm và các điều nên tránh như đã nêu trên.”
HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN SIÊU ĐÃ DẠY:

… Ai đó sa ngã trong Cần sa, Ma túy thì Gia Đình Phật Tử không có mặt ở đó, nơi nào cờ bạc rượu chè thì Gia Đình Phật Tử không có mặt ở đó, nơi nào quán xá say sưa, ẩu đả, giành giật nhau thì Gia Đình Phật Tử không có mặt ở đó …

PHẦN KẾT.
Đôi lời tâm cảm.
Thưa quí bác, các anh chị em.
Đức Phật dạy: “ Chịu khó tu hành một thời gian ngắn trong đời nầy sẽ hưởng an lạc lâu dài về sau. Định luật nhân quả không bao gìơ sai và lời Chư Phật, Chư Tổ không bao gìơ hư dối ”.
Sự tu học của chúng ta nhằm mục đích xây dựng tương lai, cho các em, cho GĐPT, mà nói đến bốn chữ GĐPT thì liền đó xuất hiện ba chữ. Bi – Trí – Dũng.
Chúng ta không quên rằng GĐPT là một tổ chức giáo dục thanh thiếu nhi, lấy sự đào tạo. “ Con người toàn diện làm mục đích để tiến tới một xã hội Phật giáo”. Con người toàn diện mà chúng ta mong ước là con người đầy đủ ba phương diện. Tình cảm, lý trí và ý chí, nói cách khác có đủ Bi – Trí – Dũng, con người lý tưởng đó được thể hiện bằng hình ảnh Thái Tử Tất Đạt Đa, Phật Thích Ca, nhờ ba đức tính ấy mà từ địa vị của con người đã vượt lên địa vị của Phật. Sự vương lên của con người đến quả vị Phật tất nhiên không dễ, nhưng tất cả chúng ta đều có Phật tính, nên đều có triển vọng bước đến cỏi Phật, triển vọng ấy nhiều hay ít tùy sự phát triển nhiều hay ít cái tinh thần Bi – Trí – Dũng của chúng ta.
Như vậy Bi – Trí – Dũng là ba yếu tố căn bản để thành Phật, trong khi chờ đợi để thành Phật thì đó cũng là ba yếu tố để thành người, mà học để thành người không phải dễ, đó chính là lý tưởng nền giáo dục của GĐPT chúng ta.
Tóm lại Bi – Trí – Dũng không những có giá trị tuyệt đối với khá khứ, hiện tại, mà cả tương lai, nó cũng là con đường độc nhất để đào tạo nhân cách con người. Bi – Trí – Dũng là châm ngôn của GĐPT. Bốn chữ GĐPT gắn liền với ba chữ Bi – Trí – Dũng không tách rời, thì giá trị của GĐPT cũng gắn liền với ba chữ Bi – Trí – Dũng không tách rời trong quá khứ, hiện tại, và chắc chắn cả trong tương lai.
Thưa quí bác, quí anh chị em:
Con người không ai tránh khỏi Sinh, Già, Bệnh, Chết, chết đi là được yên tâm, khi thấy lý tưởng của mình được phát triển và trưởng thành thì sung sướng biết bao. Một mai khi vĩnh viễn chia tay các anh chị em.
Tôi chỉ muốn anh chị em chúng ta đừng thấy khó mà sờn lòng, đừng thấy dễ mà khinh thị, mà tự mãn, đừng thấy suy mà chán chường như:
Ngài Vạn Hạnh Thiền Sư đã dạy

Xuân chốn Thiền gia sau đây:
Mãn đời phiêu bạc đi tìm mùa xuân đích thực. Hóa ra mùa xuân chỉ có trong cảnh giới thiền của Phật giáo, một mùa xuân phi không gian, phi thời gian, đó là mùa xuân nằm ngoài cuộc thịnh suy phù phiếm của trí nhân như bài kệ sau đây của Ngài.
Thân như điện ảnh hửu hoàn vô.
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô.
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy.
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
“Thượng Tọa Thích Mật Thể: dịch.”
Thân như bóng chớp có rồi không.
Cỏ xuân tươi tốt thu qua đượm nồng
Mặc cuộc thịnh suy không sợ hải
Thịnh suy như cỏ hạt sương đông.

Đợi gì hoa nở mới là mùa xuân, cần chi sang giàu mới có mùa xuân. Bậc đại nhân thông dung giủ áo xinh xoan, bước ra ngoài càn, khôn mà hưởng xuân.
Người Huynh trưỏng phải dành thời gian ngồi thiền và quán niệm.
Phải luôn luôn theo Ngài Phú Lâu Na Tôn Giả, nỗ lực vượt mọi khó khăn để đạt mục đích. Mục đích ấy thể hiện bằng lời phát nguyện của Ngài A Nan trong kinh Lăng Nghiêm mà chúng ta dùng làm lời phát nguyện cho bản thân mình. “Ngũ trược, ác thế thệ tiên nhập, như nhất chúng sanh vị thành Phật. Chung bất ư thử thủ nê hoàn”

Phải trang bị cho đội ngũ Huynh trưởng
Có tinh thần vô ngã .
Vì sao?
Vì: Ở trên đời nầy. Người “ Có sức mạnh nhất không phải là người có súng đạn, người có sức mạnh nhất không phải là người có nhà tù, người có sức mạnh nhất không phải là người có nhiều võ thuật.
Mà người có sức mạnh nhất ở trong đời nầy là người dám nhận cái lỗi của mình, dám lắng nghe người khác chỉ lỗi mình.
Người nào có khả năng nhận lỗi của mình, thấy sai lầm của mình và biết lắng nghe người khác chỉ lỗi của mình. Người đó là người có sức mạnh phi thường, sức mạnh đó được trang bị từ “ Tinh thần vô ngã ”.
Đến đây tâm sự đã dài, tôi xin chúc quí bác quí anh chị em, tinh tấn, dõng mãnh trên con đường phụng sự lý tưởng của tổ chức GĐPT của chúng ta…
Kính mong quí bác, quí anh chị nghiên cứu, để giáo dục trong GĐPT. Hoặc gặp trường hợp khó khăn mà không thể đào tạo Huynh trưởng được.
Kính, Thân ái.

NIỀM TIN VÀ HY VỌNG

Mở mắt chào đời trong kiếp phù du bể khổ, rồi lớn lên 12 tuổi thưa ba má cho con đến với Gia đình.
Thế rồi được khai sinh trong tổ chức ĐPT, từ đó đến nay cứ liên tục tu học và sinh hoạt trong tổ chức áo lam nầy, chỉ mong làm một đoàn sinh trong GĐPT và thực hành đúng năm điều luật, đó là diễm phúc cho cả cuộc đời lắm rồi.
Nhưng trong quá trình tu học và sinh hoạt đã nhận biết bao thế hệ đàn anh đi trước, nên từ chỗ đứng mong đợi không phải là đích. Bởi vì trong quá trình tu học, sinh hoạt, phụng sự lý tưởng vì đàn em mai sau đã thôi thúc phải đứng ra làm người anh người chị, rồi từ đó làm một Huynh trưởng Tập sự tuân thủ theo kỷ cương của tổ chức bước vào nghề và đã phát nguyện suốt đời chấp nhận yêu nghề, dạy trẻ, phụng sự đạo pháp, xây dựng giáo hội, góp phần xây dựng xã hội.
Trong suốt 50 năm qua cho đến hôm nay, kiểm chứng chưa có một điều gì cố ý sai phạm với Giáo hội và lý tưởng của mình, mặt dù đã có những lỗi lầm nhỏ nhoi trong sinh hoạt ở đời thường, không làm sao tránh khỏi. Nhưng nhờ giáo lý của Đức Phật soi sáng đều đã vượt qua.
Giờ đây cắp sổ đến chùa cứ mỗi lần vào lớp học thì nước mắt tuông trào, khi nhận được quí Ôn, quí Thầy thương mến, quí anh Nguyễn Sỉ Thiều, Phan Xuân Sanh, Lê Quả, Nguyễn Xuân Tín, Nguyễn Đắc Thanh, Lê Văn Thi trong Ban Quản Trại đang lo cho lớp học từng giờ từng phút, tuổi các anh xấp xỉ ngoài 75 niên già yếu đi quá nhiều rồi.
Trong lớp học thì có anh Tôn Thất Quỳnh Nam, Lê Giáo, Nguyễn Tất Trực, Châu lộc, Võ Phước Tề, chị Bùi thị Tuyết, Lê Công Cầu. Hồ Đắc Thích, Ngô Đức Tiến v.v… Từ tóc xanh đã sang màu bạc trắng, cùng ngồi bên nhau cùng chung bài học, cùng được nghe quý Ôn, quí Thầy giảng dạy giáo lý, và tinh thần của tổ chức suốt trong hai năm qua, tại chùa Từ Đàm Huế. Sau thời gian học hàm thụ Trại Vạn Hạnh IV.
Hôm nay ngày 17 tháng 8 năm 1997 (15/7/Quí sửu Phật lịch 2541), là Lễ Khai Mạc Trại tại Tổ Đình Chùa Từ Hiếu trong 26 trại sinh tham dự gồm bốn thế hệ nầy. Bởi ngày nào qúi anh. Nam, Giáo, Trực, Cầu làm Ban Quản Trại và giảng viên trong các trại huấn luyện cho mình, giờ đây đang lại ngồi chung trong lớp học Trại Vạn Hạnh IV. Ôi mầu nhiệm thay tổ chức GĐPT (Tổ chức Áo lam).
Xin kính cẩn nghiên mình đảnh lễ quí Ngàì cao tăng, hàng giáo phẩm, quí anh chị đi trước thật vô cùng uyên bác đã sáng lập xây dựng nên tổ chức GĐPT để các thế hệ sau được truyền thừa di sản quí báu nầy. Của một tổ chức vốn có Tôn Tri mà pháp luật của nó là: Nội quy và Quy chế Huynh trưởng GĐPT/Việc Nam.
Chỉ mong rằng những chuỗi ngày còn lại của đời mình phải nương theo giáo lý Phật Đà và lời dạy của Chư Tổ để tu học, xây dựng đạo pháp, xây dựng dân tộc, phụng sự lý tưởng tổ chức GĐPT đến hơi thở cuối cùng…

Quang cảnh chùa Phước Huệ do thầy Phước Toàn xây dựng tại Mỹ Quốc

PHẦN BA

PHẦN PHỤ LỤC

Soạn Tập Văn Tiến Nhị

NHỮNG CÂU KINH PHÁP CÚ, CÂU ĐỐI, VĂN XUÔI QUA TU HỌC VÀ SINH HOẠT CẢ ĐẠO LẪN ĐỜI
ĐÃ CHỌN LỌC SAU ĐÂY.

Không có một hương hoa nào bay ngược chiều gió thổi
Chỉ có hương người đức hạnh bay ngược gió muôn phương”
(Kinh tán thán)

******

“Mạc đãi lão lai phương niệm phật
Cô phần đa thị thiếu niên nhơn”

Dịch là:

Chớ để tuổi già rồi niệm phật, nhìn ra ngoài nghĩa địa ta thấy mồ mã rất nhiều của hàng thiếu niên.

* * * * *

Niên tăng nhật nguyệt nhơn tăng thọ
Xuân mãn càn khôn phúc mãn đường.

* * * * *
Nhất đường ca tụ kỉnh sở tôn ái sở sanh
Bách thế kế thừa nhập tắc hiếu xuất tắc đễ.

* * * * *

“Mộc dục dưỡng nhi phong bất đình
Tử dục dưỡng nhi thân bất toại”

Dịch là:
Cây muốn lặn mà gió chẳng ngừng, con muốn nuôi cha mẹ để báo hiếu nhưng cha mẹ không còn nữa.

Ánh Hào Quang Tỏa Sáng Xuyên Qua Mái Hiên Chùa An Bằng Vào Lúc 10giờ32 phút Ngày 12 Tháng 4 Năm Canh Dần (nhằm ngày 25 thán 4 năm 2010 ) PL 2554

* Tốt đời ra sức xây dựng quê hương, văn minh rạng ngời tươi sáng.
* Đẹp đạo trau dồi trí tuệ xiển dương, Chánh pháp tỏa khắp muôn phương

*****

Thiên bách niên lai uyển lý canh.
Oan sâu như biển hận nan bình.
Dục tri thế sự đao binh kiếp.
Thí thính đồ môn dạ bán thanh.
Dịch
Trăm ngàn năm trước trông bác canh.
Oan sâu như biển hận không nguôi.
Chớ hỏi thế gian sao giặc mãi.
Hãy nghe lò sét tiếng gào đêm thâu
Kệ Kinh.

*****
* Xây dựng Gian sơn kiến tạo Đình Trung tân cốt cách.
* Giữ gìn Phong tục bão tồn Đền Miếu cổ
tinh hoa..
(Cảm tác sau khi xây dựng Đình làng Bằng xong. Năm 1999)

******
Bất nhất lao, bất cửu dật, bất phạn phí,
bất vĩnh ninh.
Dịch
Nếu không chịu khó bỏ công sức, tiền của trong một thời gian nhất định. Thì không bảo đảm an ninh vĩnh viễn lâu dài.
Đào Duy Từ

*****

Đừng sợ chết
* Thân thể thấy nặng nề, cơn đau làm khó chịu, gọi là bệnh thế gian, chúng sanh ai cũng vậy.
* Tinh thần rất thanh thoát, an lạc chốn thuyền môn, có gì mà suy nghĩ, việc phải, làm, cứ làm
(nằm Bệnh viện Huế năm 2003)

******

* Thân mạng tiền tài danh vọng sắc hương có rồi không, như hạt sương trên cỏ sớm còn tối mất, luật vô thường lặng lẽ ra đi mấy ai dành lại được.
* Tinh thần thanh thoát an lạc chốn Thiền môn có gì mà suy nghĩ, việc phải, làm, cứ làm, Phật tử chánh tín tỏ ngộ như thế vào Pháp môn không hai.

(Tặng bác Tâm Ninh khi nghe tin bác mất tiền của vào năm 2003)

Sư tử trùng trung
Tự thực Sư tử nhục.
“Tất cả của quý ở thế gian đều mất
Chỉ có đời sống chân chính là kho báu bất diệt”
******
“Đạo đức ở đâu
Thì cõi phật ở đó”

******
“Quân tử ưu đạo bất ưu bần”
Dịch là:
Người quân tử sợ mất cái đạo, không bao giờ sợ nghèo khó.

******
“Lông kê hữu thực thang oa cận
Dạ hạt vô lương thiên địa khang”
Dịch là:
Con gà nhốt ở trong lồng, tuy có lương thực chu cấp hàng ngày đầy đủ, nhưng nồi nước sôi và cây dao sắt bén kề bên cái cổ.
Con chim hạt bay ngoài đồng nội không ai đem lương thực cho ăn, nhưng thấy trời đất rộng thênh thang, tự do mà vẫn không bị chết đói.
******

“Học hỏi kinh nghiệm của mọi người,
nhưng hãy tự chỉ huy mình”

******
“Nhất nhơn tác phước thiên nhơn hưởng
Độc thọ khai hoa vạn thụ hương”
Dịch là:
Một người làm phước ngàn người được hưởng
Một bông hoa trổ cả vườn hoa thơm lây

******

“Người cao thượng là người không bao giờ làm một điều gì để hạ thấp người khác”

******
“Nói đương sướng miệng mà nín ngay được,
ý đương hớn hở mà thu hẳn được

Tức giận ham mê đương sôi nổi mà trừ được,
Không phải người kiên nhẫn thì không tài nào được như thế.”

Ánh Hào Quang Tỏa Sáng Vào Lúc 10giờ32 Phút Ngày 12 Tháng 4 Năm Canh Dần ( Nhằm ngày 25 tháng 5 năm 2010 ) P L 2554 Tại Lễ Đài Phật Đản Chùa An Bằng

” Người biết đạo tất không khoe
Người biết nghĩa tất không tham
Người biết đức tất không thích tiếng tăm lừng lẫy”

******
“Không vấp ngã trong cuộc sống là rất tốt
Nhưng ngã rồi mà đứng dậy thì tốt hơn nhiều”

Cổng chính chùa An Bằng năm 2005 – Phật Lịch 2549

“Người bạn cùng chí hướng thật sự, không thể giận nhau lâu, khi nào đó họ lại kết thân”

******
“Hạnh phúc thay người nào nghe lời chê bai, biết tận dụng nó để sửa mình”

******
“Không giận hờn”
Giận hờn là một tánh xấu, như ngọn lửa dữ, vừa đốt cháy mình lẫn người chung quanh.
Một phút giận hờn nỗi lên thì trăm nghìn cửa nghiệp chướng đều mở.
Lửa tức giận một phen phát ra liền đốt cháy cả rừng công đức.
“Mục đích của giáo dục không phải dạy cho trẻ hiểu nhiều biết rộng, mà dạy cho trẻ biết hành động”

******
“Không có quyển sách nào là sách có đạo dức, hay không có đạo đức.
Sách viết hay hoạc dở chỉ có thế thôi”

******

“ Qua mãn tùng biên nhi hữu trương phu tri ngã khổ
Giá sinh trúc bạn ư như quân tử thất ngô cam”.
Dịch là:
Cây khổ qua (mướp đắn) trồng một bên cây tùng, chỉ có cây trùng biết cây khổ qua là đắng.
Cây giá (mía) trồng một bên cây trúc, chỉ có cây trúc biết cây giá (mía) là ngọt.

******

“Cứu được một người lớn chỉ cứu được một người
Cứu được một người trẻ nhỏ là cứu được một bản
tính nhân”

******

“Giới là phao nổi vượt qua bể khổ, là ngọc anh lạc để trang nghiêm pháp thân.”
Giới là bậc đại sư của các người, nếu ta ở đời cũng không khác giới vậy…
Kinh Di Giáo
“Người tu hành muốn sớm dẹp bỏ phiền não, phải xa rời những chỗ ồn ào, thường ở cảnh vắng lặng tu các hạnh Đầu Đà”

******

Vào thời Đức Phật Thích Ca còn tại thế, có hai ông bà lấy thóc để ghi số, cứ mỗi lần niệm “ Nam Mô A Di Đà Phật” thì bỏ vào hủ một hạt thóc Đức Thích Ca thấy vậy liền dạy rằng “ Ta có một pháp rất hay, dạy người niệm Phật một tiếng được số thóc rất nhiều.
Phật dạy niệm “Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới,Tam Thập Lục Vạn Ức, Nhất Thập, Nhất Vạn, Cửu Thiên, Ngũ Bá Đồng Danh Hiệu ,Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật”. Tính ra mỗi lần niệm như vậy thì được vô số danh hiệu Phật, nên công đức cũng nhiều không kể xiết.
(Trích Luận Bảo Vương Tam Muội )

Ở đời ai nghèo đến nỗi không có thân thấy người làm phước, nên tự thân đến giúp, như vậy cũng gọi là thí chủ, cũng được phước đức”

******

” Người mê sẽ nhờ học mà tỉnh, người ngu sẽ nhờ học mà sáng suốt, nhờ học mà có thể sửa mình và chỉ đường cho mọi người.”
Mục đích của Phật Pháp
Giải thích cuộc đời với sự thống khổ
Chỉ bày phương pháp thoát khổ
Đem lại an vui cho cuộc đời hiện tại và tương lai.

“Này các đệ tử, ta chỉ dạy có một đều là sự đau khổ, và cách giải thoát sự đau khổ”
Lời phật dạy

******

“Quân tử chi giao đạm nhược thủy
Tiểu nhơn chi giao cam nhi di”
Dịch là:
Người quân tử nói chuyện với nhau rất ít như nước lã nhưng lại rất chắc chắn.
Kẻ tiểu nhân nói chuyện ngọt như đường mật, nhưng con ruồi đậu vào sẽ chết ngay.
*****
* Phong lai sơ trúc, phong khứ nhi trúc bất
lưu thanh
* Nhạn qúa hàn đàm, nhạn khứ nhi đàm vô
ảnh hiện
* Thị cố quân tử sự lai nhi tâm thể hiện, sự khứ nhi tâm tuỳ không
Dịch là:

* Gió qua cành trúc, gió qua rồi trúc lại bặt im
* Nhạn bay qua đồng bóng nhạn in hình đáy nước, nhạn qua rồi bóng nhạn tìm đâu.
* Người quân tử khi gặp việc nói lăng xăng cho vui, nói rồi tâm lại thảnh thơi, không bận rộn chi cả…
******

“Đi trong cõi mộng ta đừng mộng
Đứng giữa đất trời chẳng hướng trông
Ngồi đây soi bóng mình qua lại
Nằm ngủ mơ màng nhớ tánh không”
******

Tứ Oai Nghi
Đi với người say tâm chẳng động
Đứng giữa chợ đời thấy như không
Ngồi xem thế sự như giấc mộng
Nằm bên tà ái chẳng thèm trông.

******

“Đi đứng nằm ngồi tâm chánh niệm
Ra vào cười nói tướng đoan nghiêm”

******
“Lão ô bách tuế, bất như phượng hoàng sơ sinh”
Dịch là:
Con chim quạ dù sống trăm tuổi, cũng không bằng chim phượng hoàng mới sinh
****

BÀI THƠ TẶNG ĐOÀN THIÊU NIÊN
GĐPT An Bằng năm 1970

Thập nhật thu này báo thiếu niên
Lịch trình ghi rõ bao ngày tháng
Ca vang chìm nổi cảnh u sầu
Diếp đem thân ý đi tìm đạo
Ác lại đổi thay ý chí tu
Bệ vàng cao quý trên trần thế
Kiều văn hoa lý chẳng có duyên
Trần thêm lắm chuyện bày gian khổ
Như không thống nhất bỏ ra đi
A hay khuyên nhủ tình huynh đệ
Nan khó lắm điều cũng vượt qua
Nhị công hai việc kiêm đoàn trưởng
Ý – Chí không sai phó đã giao
Hề, Chề, Tuân, Dũng, Tâm đầu đội
Xuân, Phiên, Đẩu, Đã, Bảng phó làm
Đoàn ta sinh hoạt theo cương kỹ
Thiếu vẫn không sờn dũng tiến lên
Niên biên sử còn ghi dấu ấn
Thực tại bây giờ đã rõ ràng
Hiện diện hôm nay là kết qủa
Trên đời không quý, quý tình lam
Báo ân, báo đức thật trung thành
Hương thơm ngào ngạt lòng thành kính
Lam hiền lam đẹp thiếu niên an.
Ý của thơ gồm có 5 đội của đoàn thiếu niên hồi đó là: Thập lịch, Ca diếp, Ác bệ, Kiều Trần Như, và A Nan.
Trong đoàn có một đoàn trưởng là: Nhị, 2 đoàn phó là Ý và Chí.
Có 5 đội trưởng là: Hề, Chề, Tuân, Dũng, Tâm.
Và 5 đội phó: Xuân, Phiên, Đẩu, Đã, Bảng.
Do: Đoàn thiếu niên thực hiện trên báo Hương lam.
“Cách đọc: Thập lịch, Ca diếp, Ác bệ, Kiều trần như, A nan, Nhị, Ý, Chí, Hề, Chề, Tuân, Dũng, Tâm, Xuân, Phiên, Đẩu, Đã, Bảng, Đoàn, Thiếu, Niên, Thực, hiện, trên, báo, hương, lam”.

******

Thử vận hội thử tao phùng thị nhất đường
chính nghĩa.
Kim lao động kim vinh quang sử lịch thời
trung hiếu.

Giải:
Bất cứ thời cuộc nào cũng gặp gỡ để tao phùng, nhưng con đường chính nghĩa phải giữ trong tâm.
Tiền lao động tự tay làm ra là vinh quang, lịch sử nào cũng lấy trung hiếu làm đầu.

*****
Dĩ sắc sanh tâm, quy hành phục pháp.
Giải:
Nhìn thấy cảnh sắc ở trong.
Là nhìn thấy việc làm của con người ấy, họ làm việc hằng ngày như thế nào.
(Pháp ở đây là xem công việc hiện hữu chứ không phải phật pháp là nhiều vấn đề.)

Xe hoa diễn hành lễ Phật Đản

******

Sách Đại Học nói rằng:
Quân tử bất xuất gia nhi thành giáo
Nghĩa là:
Bậc quân tử tuy không ra khỏi nhà giáo hóa ai, nhưng cách cư xử trong gia đình có thể làm khuôn mẫu cho người trong nước.

Niềm tự ái, làm mất hạnh phúc. Dẹp bỏ niềm tự ái là an lạc, hạnh phúc
Câu chuyện sau đây để chứng nghiệm
Quý vị xem Leo đồi Thế kỷ của TS Thích Nhất Hạnh. Cuối trang 26 câu linh chú thứ tư đến 31, qua mẫu chuyện trên rõ nét bài thơ:

Miếu Vợ Chàng Trương
“Của Vua Lê Thánh Tôn”
Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương
Ngọn đèn dù tắt đừng nghe trẻ
Làn nước chi cho lụy đến nàng
Chứng quả có đôi vần nhật nguyệt
Giải oan chi mượn đến đàn tràng
Qua đây mới biết nguồn cơn ấy
Khá trách chàng Trương quá phủ phàng.
(Trích chàng Trương với Thiếu phụ Nam Xương của Thiền sư
Nhất Hạnh)
* * * * *
* Nâng chén trà xuân, một thoáng mây bay
Người ơi ! thương thêm kỹ niệm
* Nghiên bầu rượu tết, ngàn năm nước chảy,
Bạn hởi nhớ mãi tri âm.

Thuyết nghiệp

Thuyết nghiệp của phật giáo không phải là định mệnh.
Nhiều người cho rằng nghiệp là định mệnh, là số mạng của con người phải gánh chịu, do loài người mắc tội tổ tông. Đối với phật giáo không phải là như vậy.
Kinh hạt muối dẫn dụ như sau:
Tăng chi 1 – 184 – 86 – 87- 88
Trong kinh Phật đã khéo dùng ảnh dụ hạt muối để so sánh hai trường hợp sau:

1 – Một nhúm muối nhỏ bỏ vào một chén nước nhỏ làm cho nước trong chén hóa mặn không uống được.
Nhưng cũng nhúm muối nhỏ như vậy ném xuống sông Hằng Hà nước sông Hằng Hà vẫn không bị mặn vẫn có thể uống được.
Cũng như vậy
2 – Đối với người có tâm địa nhỏ hẹp như chén nước nhỏ, không tu tập tâm giới đức, thì một nghiệp ác nhỏ cũng đủ làm cho người đó khổ sở đến mức không chịu đựng được.
Cũng như một người chỉ nợ một đồng tiền, 5 đồng tiền tới 100 đồng tiền mà phải ngồi tù, bởi vì quá nghèo không thể trả được.
Một người khác cũng nợ một đồng, 5 đồng, 100 đồng. Nhưng không ngồi tù, vì anh ta giàu có nợ bao nhiêu trả hết bấy nhiêu…

Tìm Hiểu Phật Pháp
Những gì mà Đức Thích Ca diễn đạt dưới bóng cây cội Bồ đề.
Nếu Đức Phật có ý định dạy này, với cấu trúc cực kỳ phức tạp, và giàu tính chất triết học thâm thuý của nó thì người trần mắt thịt làm sao hiểu nỗi. Ngài hiểu rằng cần phải làm cho pháp này dễ hiểu đối với tất cả những kẻ hữu tử đang là nạn nhân của đau khổ.
Điều đầu tiên ngài phải làm là dạy họ đạo cứu khổ, những khổ đau ấy: Đó là đức Phật Thích Ca đến với như một lương y siêu phàm và thuyết giảng những pháp và lý khác nhau, tuỳ theo triệu chứng của những con bệnh, các giáo lý của ngài cùng với các diễn giải và luận bàn kèm theo do các tín đồ của ngài soạn nhanh chóng trở thành giáo lý của 84 ngàn quyển kinh.
Đây là một điểm quan trọng để hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của đức Phật Thích Ca. Tất nhiên, ngài đã là một nhà triết học, và tư tưởng kiệt xuất. tuy thế khi đọc các kinh điển khác nhau, ta có thể dễ dàng nhận ra rằng ngài không chỉ giản đơn là một nhà triết học, mà còn là một lãnh tụ tôn giáo lớn tầm cỡ vô song.
Có thể khẳng định chắc chắn rằng, ngài là một chuyên gia dẫn dắt nhân loại, một nhà giáo dục đại tài trong trường đời, một thầy thuốc, bậc thầy có thể chữa khỏi căn bệnh của thế gian. Cần phải khắc sâu trong tâm khảm hình ảnh này của người, nếu không ta sẽ lúng túng trước một tư liệu khổng lồ nói trên, về đề tài chính giác vô thượng của Ngài và hàng loạt các diễn giải mà chúng ta đưa ra để nghiên cứu học tập.
Phật giáo công nhận mười cảnh giới sinh mạng ” thập giới” theo thứ tự từ thấp lên cao như sau:
1- Địa ngục
2- Ngạ quỹ
3- Súc sanh
4- ATULA (hoặc phi nhơn)
5- Nhân
6- Thiên
7- Thanh Văn
8- Duyên giác
9- Bồ Tác
10- Phật
Các cảnh sắc trên đây: Cảnh giới Phật đạt được nhờ sự chính giác là cảnh thức duy nhất của sự sống mà có thể thay đổi số phận con người và mở ra một tương lai vô tận cho họ.
Đó chính là điều vì sao, sau khi chứng quả chân lý Đức Thích Ca đã giành phần còn lại của mình cho chân lý đó, quả chính giác ngài đạt được là chân lý cao nhất.
(Nhà xuất bản sự thật Hà Nội năm 1996)
“Pháp không có cao, thấp. Nếu rõ được nguồn chơn là Diệu pháp.
Thuốc không cần tốt xấu. Hễ lành bệnh là
thuốc hay.”

Pho tượng Phật Ngọc câu chuyện thần kỳ của thế kỷ 21.

Đúng vào năm cuối niên kỷ thứ 2, tại đất nước Canada, đã phát hiện ra một khối ngọc thạch vĩ đại nhất từ xưa đến nay, Khối ngọc thạch với màu xanh rực rở, hoàn toàn không tì vết, đã làm cho toàn thế giới phải kinh nhạc.
Nguyên khối Ngọc thạch nặng 18 tấn được gọi tên lả Polar Pride có nghĩa là (niềm kiêu hãnh của Bắc cực). Khối ngọc được một nhà nghiên cứu đá quí lừng danh thế giới, ông Fred ward khẳng định đây là một trong những “phát hiện quí gía nhất của thiên niên kỷ”.
Sau khi khối ngọc “Polar Pride” được tìm thấy, người ta hỏi ông Kỉk Mkeepeace giám đốc công ty khai thác ngọc rằng: Ông sẽ làm gì với khối ngọc nầy, ông trả lời “tôi sẽ để thế giới quyết định”.
Trong thế giới tâm linh, người ta thường tin rằng Ngọc thạch chứa đựng ngồn năng lượng linh thiêng phi thường. Trước đó không lâu, Lạt ma Zopa Rinpoche đã nằm mộng thấy một khối ngọc bừng sáng trên đất Canada, nên khi hay tin phát hiện khối ngọc thạch, vị Lạt Ma nầy đã khuyến phát phật tử là ông Ian Green đã hết sức hoan hỷ phụng hành. Thân phụ của ông nầy trước đã cúng dường 50 mẫu đất ở Úc, cho vị Lạt Ma Yeshe để kiến lập một trung tâm Phật Giáo đặt tên là Atisha. Tại đây một ngôi Đại Bảo Tháp Từ Bi được xây dựng, chính tại đạo tràng nầy pho tượng Phật Ngọc nầy với dự kiến sẽ được tôn trí trong Bảo Tháp Đại Từ Bi – Mahabohi – Stupa.
Theo giòng thời gian mọi việc thực hiện đều được thuận lợi thông suốt. Đến cuối năm 2006 khối Ngọc Polar Pride từ Vancouver – Canada chuyển đến thủ đô Bangkok, Thái lan. Trong năm 2007, các vị Lạt ma Ringpoche Jonothon Pratridge và các nhà nghiên cứu mỹ thuật đã phát thảo, điều chỉnh nhiều lần mô hình sẽ điêu khắc, theo khuôn mẫu của tượng Đức Phật Thích Ca được tôn thờ trong Bảo Tháp Đại Giác Ngộ ở Thánh Địa Bồ Đề Đạo Tràng – Ấn Độ.
Trong năm 2007, các vị Lạt ma Zopa ringpoche Jonothon Patridge và các nhà nghiên cứu mỹ thuật đã phát thảo, điều chỉnh nhiều lần mô hình sẽ điêu khắc, theo khuôn mẫu của tượng Đức Phật Thích Ca được tôn thờ bên trong Bảo Tháp Đại Giác Ngộ ở Thánh Địa Bồ Đề Đạo Tràng – Ấn Độ.
Đến đầu năm 2008, những nghệ nhân điêu khắc Thái Lan thuộc công ty Jade ThongTavee thực hiện theo mẫu đã chấp thuận.
Pho tượng Phật Ngọc đến nay đã được hoàn thành viên mãn và tiến hành các nghi lễ chú nguyện vào tháng 12-2008. Pho tượng với chiều cao 4m8 có trọng lượng 5 tấn, được xem là một trong những pho tượng Phật Ngọc lớn nhất và trang nghiêm nhất thế giới. Được tôn vinh là “Phật Ngọc cho hòa bình thế giới”, sẽ được cung nghinh vòng quanh thế giới. Cuộc rước Phật Ngọc do trung tâm Phật giáo Atisha (Úc), khởi xướng và hợp tác với các Đạo tràng tại nhiều nước thực hiện. Mục đích của việc cung nghinh tôn giáo, tất cả điều có thể tới tham dự, miễn là chúng ta dành một chút thời gian để chiêm bái, chúng ta có dịp thấy rõ hơn về giá trị của hòa bình, để cầu nguyện Phật Ngọc và Xá Lợi Phật, sẽ đem lại hòa bình cho thế giới, bình an cho các mối quan hệ, bình yên cho gia đình và bè bạn, bình an trong công sở và thanh thản trong tâm hồn.
Theo sau Việt Nam, Phật Ngọc nầy sẽ được cung thỉnh đến tại các nước trên thế giới: Thành phố chính của Úc Đại Lợi như Bribne, Sydney, Perth, Adelaide và Melbourne.

NAM MÔ CUNG ĐỨC LÂM BỒ TÁT MA HA TÁT.

TƯỢNG ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ
(1 trong 11 Ngôi tưọng lớn nhất thế giới)

Đại Lão Hòa Thượng ThíchThiện Siêu
(1921-2001)

Ngài Dạy: “Vô Ngã Là Niết Bàn”
“Niết Bàn là một cái gì tuyệt đối không dung ngã. Niết Bàn không có hạn lượng, không có nơi chốn, và niết bàn vô tướng, vô tướng nên khó vào, muốn vào niết bàn ta phải vô tướng như niết bàn, cửa niết bàn rất hẹp chỉ bằng tơ tóc nên ta không thể mang thêm một hành lý nào mà hy vọng vào niết bàn được cả, cái thân mà đã không mang theo được, mà cái ý niệm về tôi về ta cũng không thể mang theo được, cái ta càng to thì càng xa niết bàn, nên biết rằng: Hễ hữu ngã là luân hồi; mà vô ngã là niết bàn.”
(Trích trong sách Vô Ngã là Niết Bàn ).

Bài Kệ cuối cùng Ngài.

“ Phật biết Phật không
Tâm biết Tâm không
Khi Phật đổi thân
Tâm biết Phật không ”

MỘT SỐ CÂU ĐỐI THUYỀN MÔN VÀ CÂU ĐỐI CHỮ HAN
CỦA CỐ ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN SIÊU
Trích trong Tỏa Anh Từ Quang của Ngai

I- Câu Đối Thiền Môn.

01. Sắc tướng vốn không, nương cảnh huyễn độ người mê muội;
Tử sanh nào có, mượn thuyền từ với kẻ
trầm luân.
(Phụng điếu Đức Tăng Thống Thích Tịnh Khiết chùa Tường Vân-Huế năm 1972)

02. Một chút giận, hai chút tham, lận đận cả đời ri cũng khổ;
Trăm điều lành, ngàn điều nhịn, thong dong tất dạ rứa mà vui.
(Tặng giảng đường Từ Đàm-Huế)
03. Tánh lặng đất trời chung một cõi;
Tâm không trăng gió trải muôn phương.

04. Biển ái lấp bằng, Tịnh độ đi về đâu mấy chốc;
Sông mê tát cạn, Niết bàn an trú vốn không xa.
(Tặng tháp Thượng tọa Thiện Lộc chùa Thuyền Tôn-Huế)

05. Ngộ thấu nguồn chơn, tâm danh lợi trôi theo giòng nước;
Rõ cùng lý đạo, niệm thị phi bay lẫn chòm mây.

06. Cảnh Phật trong nghiêm, mõ sớm gõ tan hồn mộng ảo;
Cửa chùa thanh tịnh, chuông chùa ngân vọng tiếng từ bi.
(Tặng chùa Kim Quang – Huế)

07. Lặng nhìn trăng sáng nước trong, đèn Bát nhã chiếu tan niềm tục;
Lắng nghe kinh vàng kệ ngọc, tiếng Từ bi gõ thức tình thương.

08. Trừ vọng tưởng, dứt mê tình, nhắm thẳng một đường lên bờ giác;
Hết vô minh, sạch nghiệp chướng,, giương cao đèn tuệ vượt sông mê.

09. Rũ sạch lòng trần, giọt nước cam lồ, rưới khắp phiền não chín cõi;
Mở tròn tuệ giác, soi đèn Bát nhã, hiển bày tướng hảo ba thân.
10. Cá biết về nguồn thăm nghĩa cội;
Chim dù xa tổ nhớ ơn cây.

11. Tấc cỏ ngâm ngùi, hương khói tỏ lòng con
cháu thảo;
Ba xuân thương nhớ, lớn khôn nhờ đức tổ
tông hiền.

12. Mắt trí rạng ngời, đèn vô tận chiếu tan niềm tục;
Tay Từ tế độ, nước dương chi gội sạch
lòng trần.

13. Cõi Ta bà mê muội trầm luân, trống chuyển âm vang lời giác ngộ;
Cửa Tam quang tình thương rộng mở, chuông khua đồng vọng tiếng từ bi.

14. Hiu hiu gió thổi đầu cành, không thấy,thấy không tùy mắt ngắm;
Vằng vặc trăng soi đáy nước, thật hư, hư thật hỏi lòng xem.
(Tặng chùa Thanh Phước -Huế)

15. Tiếng chuông Linh mụ vọng về đâu, sáu nẻo luân hồi chúng sanh mong tế độ;
Cội cả tòng lâm đà ngã xuống, hai hàng mê ngộ đệ tử xót bơ vơ.
(Điếu Hòa Thượng Thích Đôn Hậu)
16. Sạch phiền não, hết tham sân, cửa Phật đây rồi thôi tìm kiếm;
Phá si mê, trừ nghiệp chướng, đường trần đó mặc hết rong tìm.

17. Cửa Không trống dậy mấy hồi, đọc kinh chú xua tan mộng ảo;
Cõi Phật chuông đưa vài chập, niệm Nam mô xóa sạch não phiền.

18. Lặng nhìn mây trắng núi xanh, hương giải thoát xông lừng cây cỏ;
Vẳng tiếng thông reo chim hót, gió từ bi thổi mát đất trời.
19. Mây núi chập chùng, trăng Bát nhã lồng soi
vũ trụ;
Cỏ hoa tươi tốt, gió Từ bi thổi mát sinh linh.

20. Đây chùa đây Phật, đây mõ sớm chuông chiều, nhắn nhủ khách trần về nẻo giác;
Này trăng này gió, này kinh vàng kệ ngọc, khuyên răng người tục bỏ đường mê.

20. Phật đạo có gì đâu, thả chiếc thuyền Từ chờ
kẻ giác;
Pháp môn không kể xiết, khêu đèn Bát nhã đón người mê.

22. Vô minh tham ái buộc ràng, đối cảnh sinh tình thêm lụy tục;
Bát nhã từ bi giải thoát, xem kinh mở trí rạng lòng chơn.

23. Đạo tổ sáng hoài cây cỏ đượm nhuần mưa pháp;
Chùa xưa mới mãi cháu con tiếp nối đèn thiền.

24. Dứt sạch mê tình, nhắm thẳng một đường lên
bờ giác,
Trù không nghiệp chướng, giương cao đèn tuệ vượt sông mê.
25. Cảnh Phật trang nghiêm, mõ sớm gõ tan hồn mê muội;
Cửa chùa thanh tịnh, chuông chiều khua rã mộng ba sinh.

26. Không là sắc, sắc là không, chuỗi buộc lông rùa quét sạch ba ngàn thế giới;
Phật tức tâm, tâm tức Phật, mõ khua rừng thỏ tỉnh hồn ức triệu sinh linh.

27. Lặng nhìn trăng sáng nước trong, đèn Bát nhã soi cùng vũ trụ;
Lắng nghe kinh vàng kệ ngọc, tiếng Từ bi dội khắp non sông.

28. Lặng nhìn trăng sáng nước trong, hương giải thoát xông tan niềm tục;
Lắng nghe kinh vàng kệ ngọc; tiếng Từ bi gõ thức tình thương.
29. Cõi Ta bà mê muội trầm luân; trống chuyển âm vang lời Giác ngộ;
Cửa Tam bảo đạo tình mở rộng, chuông khua đồng vọng tiếng Từ bi.

30. Mười hiệu Phật, vài câu kinh, đánh thức ngàn năm mê muội;
Một hồi chuông mấy nhịp mõ, gõ tan bao kiếp trầm luân.
31. Người nương pháp, pháp nương người, động tịnh theo duyên tiêu nghiệp cũ;
Phật tức tâm, tâm tức Phật, xưa nay chẳng khác rõ lời chơn.

32. CẢM TÁC
Năm tháng phù sinh diệt kiếp người,
Cuộc đời như thể án mây trôi;
Buông tay mộng huyễn về theo Phật,
Chín phẩm đài sen tỏa sáng ngời.

II. CÂU ĐỐI CHỮ HÁN

01. Nhập môn nghi xả dung thường tánh;
Đáo tự ưng sinh hoan hỷ tâm.
Dịch
Vào cổng (Chùa) hãy sinh tâm hoan hỷ;
Đến chùa nên bỏ tánh tầm thường.

02. Kim địa Tòng lâm, cô nguyệt quang hàm không tức sắc;
Sơn đầu bảo sát, quần loan thúy tỏa cổ do kim.
Dịch
Đất báu Tòng lâm, trăng rọi ánh vàng không
tức sắc;
Non cao chùa Phật, núi phơi màu biếc, cổ
như kim.
(Tặng Tòng lâm Lam s¬ơn ở đồi Lam Sơn, làng Lựu Bảo,
Huế-1986)
03. Hồ bạn khởi thiền quan, giáo diễn chơn thừa, nhất tánh viên minh hoàn bản Tế;
Sơn đầu khai thắng hội, thính lai thuyết pháp, thâm tâm tín nhạo ngộ thiền căn.
Dịch
Bên hồ dựng chùa thiền, diễn dạy chơn thừa, một tánh viên minh về gốc cội;
Đầu núi khai hội pháp, nghe truyền chánh pháp, toàn tâm hỷ tín ngộ căn xưa.
(Tặng chùa Hồ Sơn do tổ Tế Căn lập tại Tuy hòa kiến thiết lại năm 1984)

04. Hàm long tái ngọ, đàm kinh phò luật xuất chân thuyên, ứng vật khúc trần, huề đăng thật địa;
Báo Quốc trùng quang, bát hỏa ma chuyên truyền tổ đạo, đương cơ trực chỉ bất lạc kỳ đồ.

Dịch
Núi Hàm Long trở lại giữa trưa, giảng kinh phò trì Giới Luật, nêu rõ lý mầu, ứng theo hoàn cảnh mà trình bày quanh co nhằm dìu dắt bước lên đất thật;
Chùa Báo Quốc trở lại rạng quang, bươi lửa mài gạch để truyền Tổ đạo, ngay vào căn duyên chỉ thẳng, tránh rơi lạc đường chia.
(Câu đối bàn thờ ổ chùa Báo Quốc sau khi kiến thiết lại năm 1969)

05. Khiêm nhẫn hữu dư, phát ý viên thành Tam tụ giới;
Trí bi vô ngại, chung thân bất thối Tứ hằng tâm.
Dịch
Khiêm nhẫn có dư, một niệm tròn thành Tam tụ giới;
Trí bi vô ngại, trọn đời chẳng thối Tứ hoằng tâm.
(Câu đối ở tháp Hòa Thượng Thích Thanh Trí chùa Báo Quốc-Huế)
06. Chỉ đồ kiến tánh, ngôn hạ tri quy, thùy thị can đầu tấn bộ;
Bát thảo tham huyền, thanh tiền ngộ chỉ chỉ năng tâm nội thừa đương.
Dị¬ch
Trỏ đồ hình nhằm thấy tánh thật, ngay lời biết chỗ quay về, ai là người đầu sào tiến bước ?
Khêu cỏ dại để tìm cơ huyền, ứng tiếng thông nơi ý chí, mới chính kẻ tự nội thừa đương.
(Câu đối ở tháp chùa Báo Quốc-Huế và bàn thờ Tổ ở Long Sơn Nha Trang)
07. Quảng đại hạnh, phát thâm tâm, bát thác mê vân, bất quyện hối nhân bồi Phật chủng;
Cứu nhơn không, nghiên diệu chỉ, xung khai tuệ nhật, phùng trường trác tích chấn tông phong.
Dịch
Quảng khai đại hạnh, phấn phát tâm sâu, vén bớt mây mê, mệt mỏi chẳng nề, dạy người vun Phật chủng;
Thẩm cứu chân không, thâm nghiên ý diệu, mở ra vầng tuệ, ngay nơi duyên thuận, dựng gậy chấn tông phong.
(Tặng tháp Hòa Thượng Thích Trí Thủ chùa Báo Quốc-Huế)

08. Ngự lãnh thanh phong, phất diện vấn thùy năng tác Phật;
Bình tiền khô mộc, đãi nhơn tri ngộ vị khai hoa.
Dịch
Gió lành trên đỉnh Ngự, phe phất trên mặt hỏi ai đâu sắp làm Phật ?
Cây khô trước Ngự Bình, chờ người tri ngộ để họ nở hoa.
(Tặng Khuôn hội Phật giáo Ngự Bình-Huế)

09. Tức tục nhi nhơn, xứ xứ tận thành Hoa
tạng giới;
Bội trần hiệp giác, tâm tâm viên nhiếp Đại
thừa môn.
Dịch
Tức tục mà chơn: nơi nơi đều thành Hoa
tạng giới;
Trái trần hiệp giác, tâm tâm viên nhiếp Đại
thừa môn.
(Tặng tháp Hòa Thượng Thích Mật Nguyện, chùa Trúc Lâm-Huế)

10. Quảng khai phương tiện môn, thiện xiển tần già phổ kiến pháp tràng vu xứ xứ;
Hương biến trang nghiêm đọ, tư bồi đạo thọ cao tiêu đức bổn ư trùng trùng.
Dịch
Mở rộng cửa phương tiện, khéo xiển tần già dựng xây pháp tràng khắp chốn;
Huân ướp đức trang nghiêm, bồi đắp đạo cả, tỏ gốc đức hạnh ở nơi nơi.
(Tặng Hòa Thượng Thích Trí Thủ năm 1970)

11. Bội giác hiệp trần, mộng ý na tri thân thị huyễn;
Quy nguyên đắc chỉ, định trung thường chiếu Phật do tâm.
Dịch
Trái giác hiệp trần, trong mộng chẳng hay thân là huyễn;
Về nguồn đặng gốc, lúc định thường thấy Phật tại tâm.
(Tặng chùa Hương Sơn-Huế)
12. Bảo ấn trông phong “Chỉ vật truyền tâm” nhất cú thoại đầu chơn liễu ngộ;
Tịnh quang cao đức, Tùy duyên hóa đạo “Huyền nhai tán thủ” tận quan thông.
Dịch
Tông phong bảo ấn, “Chỉ vật để truyền tâm”, một câu thoại đầu tâm liễu ngộ;
Cao đức tịnh quang, tùy duyên hóa đạo, buông tay nơi vật thẳm trí dung thông.
(Tặng chùa BảoTịnh Phú Yên)

13. Tục đoạn khởi thần chung thức đắc triêm trần bất trước nhãn;
Vinh khô thành mộng huyễn giác lai thế giới tổng duy tâm.
Dịch
Tiếp dứt tiếng chuông mai, rõ được bụi trần không dính mắt;
Tươi khô giấc mộng huyễn, hay rằng thế giới chỉ là tâm.
(Tặng chùa Tây Thiên-Huế)

14. Nhơn y pháp, pháp y nhơn, động tĩnh tùy duyên tiêu cựu nghiệp;
Phật tức tâm, tâm tức Phật, cổ kim bất nhị hợp chơn tông.
Dịch
Người nương pháp, pháp nương người, động tĩnh tùy duyên tiêu nghiệp cũ;
Phật tức tâm, tâm tức Phật, xưa nay chẳng khác hợp chơn tông.
(Tặng một số chùa)

15. Hậu thương hải, tiền bích giang, thủy nguyệt ba quang tương ánh nguyệt;
Triêu kim kinh, mộ ngọc kệ, cổ chung thanh hưởng cộng diêu hưng.
Dịch
Sau biển rộng, trước sông xanh, trăng nước chập chờn cơn sóng vỗ;
Sáng kinh vàng, chiều kệ ngọc, trống chuông vang vọng tiếng xa gần.

16. Hoa bảo phiệt phiến từ hàn, bạt tế ái hà danh
lợi khách;
Diễn kim kinh, tuyên diệu kệ, hoán hồi khổ hải mộng mê chơn.
Dịch
Thả bè báu, dong thuyền từ, vớt khách lợi danh trên biển ái;
Diễn kinh vàng, tuyên kệ diệu, gọi người mơ mộng giữa sông mê.
(Tặng Khuôn hội Phật giáo An Dương-Huế)

17. Phạm vũ biến trang nghiêm, nhật phóng trùng tân cảnh sắc;
Liên đài thường xán lạn, vân khai hiển hiện tường quang.
Dịch
Chùa Phật trang nghiêm, ảnh nhật linh linh như cảnh sắc;
Đài sen vắng lặng, vần mây hiển hiện tường quang.

18. Kiều thọ lăng không thất bảo trang nghiêm quang Phật sát;
Tòng lâm túng tú, tứ sơn loan bích ánh thiền quan.
Dịch
Cây vút tầng không, báy báu trang nghiêm cỏi Phật;
Rừng tùng xanh tốt, bốn bề non biếc cửa thiền.

19. Thiên bách ức kim, giáo pháp tuyên dương, nhiếp chúng sanh vu giác địa;
Tam thập nhị bảo tướng từ quang biến chiếu cứu vạn loại xuất mê đồ.
Dịch
Trăm ngàn ức kim thân, Chánh pháp tuyên dương, nhiếp hóa chúng sanh về nẻo giác;
Ba mươi hai bảo tướng, ánh từ chiếu khắp, dìu dắt muôn loài thoát đường mê.
(Ba cặp đối trên tặng chùa Bát Nhã Phú Yên)

20. Cảnh trị u thâm, dã thảo nhàn hoa vong tuế nguyệt;
Sơn cư khoán hoạt thần chung mộ cổ liễu sắc không.
Dịch
Gặp cảnh thâm u cỏ nội hoa đồng quên
năm tháng;
Ở non khoán hoạt, chuông chiều mõ sớm rõ
sắc không.

21. Tuệ nhật cao huyền, phổ chiếu chúng sanh vu giác đạo;
Từ phong phổ phiến, tề tư vạn loại xuất mê tân.
Dịch
Tuệ nhật treo cao, chiếu khắp quần sanh trên đường giác;
Gió từ phơ phấp, mát cùng vạn loại khỏi bến mê.

22. Tận xã Tham, Sân, Si, đương thử độ nhi vi
Tịnh độ;
Viên tu Giới, Định, Tuệ, tức phàm tâm hóa tác Thánh tâm.
Dịch
Bỏ hết Tham, Sân, Si, chính tại đây là Tịnh độ;
Tu tròn Giới, Định, Tuệ, ngay phàm tâm là Thánh tâm.
(Tặng cho chùa Diêu Bình Quảng Trị)

23. Khánh trị u thâm, mộ cổ thần chung vong
lụy kiếp;
Sơn cư khoán hoạt, nhàn hoa dã thảo liễu
tam sanh.
Dịch
Gặp cảnh u thâm, mõ sớm chuông chiều tiêu
lũy kiếp;
Ở nơi khoán hoạt, hoa đồng cỏ nội ngộ ba sanh.
(Tặng chùa Khánh Sơn-Huế)

24. Bái thủ chú đàn hương, tam thiên giới kiết tường vân, phụng Như Lai liên tọa thượng;
Tín tâm trì Phật hiệu, bách bát thanh thành chánh niệm, kỳ sanh Tịnh độ bảo liên trung.
Dịch
Tay sạch đốt hương đàn, thế giới ba ngàn kết mây lành, dâng hiến Như Lai trên bảo tọa;
Tâm thành trì hiệu Phật, trăm lẻ tám lần thành niệm chánh, cầu sanh Tịnh độ giũa hoa sen.

25. Tiền lục thủy, hậu thanh sơn, phạm vũ huy hoàng Phật quang biến chiếu;
Mộ kim kinh, triêu ngọc kệ, trần tâm địch tận chánh niệm phân minh.
Dịch
Trước nước biếc, sau non xanh, phạm vũ huy hoàng Phật quang biến chiếu;
Chiều kinh vàng, sáng kệ ngọc, lòng trần gột sạch, chánh niệm phân minh.
(Tặng chùa Hải Ấn Nha Trang)
26. Phật bất ly tâm, động tịnh tùy duyên tiêu
cựu nghiệp;
Chí tồn đại đạo, khứ lai vô ngại ngộ thiền cơ.
Dịch
Phật chẳng lìa tâm, động tĩnh tùy duyên tiêu nghiệp cũ;
Chí nơi đạo cả, đến khi vô ngại ngộ cơ thiền.

27. Trí tuệ tâm khai, lũy kiếp hôn mê tùng tiệt đoạn;
Từ bi niệm khởi, đa sanh nghiệp chướng tự
tiêu vong.
Dịch
Tâm trí tuệ mở bày, vạn kiếp hôn mê liền
dứt sạch;
Niệm từ bi dấy khởi, nhiều đời nghiệp chướng tự tiêu vong.

28. Chấp ngã chấp chơn, kiến sắc văn thanh, thành quá hoạn;
Tu bi tu trí, cử tâm động niệm, nhậm há dung thông ?
Dịch
Chấp ngã chấp chơn, thấy sắc nghe thanh đều tội lỗi ?
Tu bi tu trí, khởi tâm động niệm thảy dung thông.
(Tặng Khuôn hội Phật giáo An Bằng-Huế)
29. Ly tứ cú, tuyệt bách phi, tự thử vong ngôn, chân hữu đạo;
Triền lục căn, tam tịnh nghiệp, chỉ ư tức niệm chứng vô sanh.
Dịch
Dứt trăm quấy, lìa bốn câu, tự chỗ vong ngôn mới thật đạo;
Xoay sáu căn, sạch ba nghiệp, chính nơi dứt niệm ấy vô sanh.

30. Tùy kỳ thiện nguyện, tiếp độ vi sư, duyệt chúng tâm ư đại đạo;
Thí vô nguyên từ, tác bất thỉnh hữu, phá nghi võng ư u đồ.
Dịch
Theo thiện nguyện nó, tiếp độ cho làm thầy, tâm chúng được vui trong đạo lớn;
Thí vô duyên từ, làm người bạn không thỉnh, lưới nghi phá sạch, giữa đường mê.

31. Phản vọng quy chơn, nhất niệm hồi đầu tức bỉ ngạn;
Tâm ngưu phỏng tích, tam quan tham thấu nhập không môn.
Dịch
Bỏ vọng về chơn, một niệm quay đầu là bến giác;
Tìm trâu hỏi dấu, ba quan (cửa ải) tham thấu tới cửa không.
(Tặng chùa Kim Quang-Huế)
32. Pháp bản như như, mê chi giả vị sắc vị thanh, ngộ chi giả phi không phi hữu;
Tâm nguyện tịch tịch, tức hồ thủ vi thiện vi lạc ly hồ thử thị khổ thị ưu;
Dịch
Gốc pháp như như, người mê nó thì bảo là sắc là tiếng, người ngộ nó thì chẳng không chẳng có;
Nguồn tâm lặng lặng, tức nơi đây là lành là vui, lìa nơi đây thì khổ thì lo.
(Tặng chùa Bảo Lộc Lâm Đồng)

33. Pháp thủy trường lưu xứ xứ nhuận tiêu khô, túng ngộ thạch bàn, bất đoạn Tào Khê cam lồ mạch;
Từ phong phổ phiến, thời thời thôi nhiệt não, thiết tao lam khí, nhưng hội liên trì giải thoát hương.
Dịch
Dòng nước pháp chảy dài, chốn chốn tưới nhuần tươi khô hạn, dẫu gặp đá bàn vẫn không dứt mạch Tào Khê cam lộ;
Ngọn gió từ thổi khắp, thời thời xua nhiệt đẩy sầu lo, dù vào khí chướng mà cứ nồng hương Giải thoát Liên trì.

34. Kỷ độ công huân trường hạo nguyệt;
Nhất sanh kỳ khí túng cao phong.

Dịch
Mấy độ công huân dài cùng trăng sáng;
Một đời kỳ khí ngút tận núi cao.

35. Thử địa hữu dưyên tàng tịnh cốt;
Giá sơn đắc dự ngộ chân nhân.
Dịch
Đất ấy duyên may chôn tịnh cốt;
Núi nấy vinh dự gặp chân nhân.

(Câu đối ở tháp Hòa Thượng Thích Thiện Minh chùa Thuyền Tôn-Huế)

36. Trúc thanh, tùng thanh, chung khánh thanh thanh vô ngại;
Sơn sắc, thủy sắc, yên hà sắc, sắc sắc giai không.
Dịch
Tiếng trúc, tiếng tùng, tiếng khánh chuông, tiếng tiếng đều chẳng ngại;
Màu non, màu nước, màu mây khói, màu màu cũng vẫn không.

37. Tích nhật dĩ tằng vi hiếu tử, vi minh quân, xã mạng thí thân, cứu độ chúng sanh xuất mê đồ khổ thú;
Kim sinh hựu phục khí quốc thành, khí trân bảo, hàng ma sát tặc, viên thành chánh quả khai giác lộ thiền môn.
Dịch
Xưa ấy từng làm con hiếu, làm vua hiền, xã mạng, bỏ thân, giúp chúng sanh khỏi đường mê lối khổ;
Đời nầy lại bỏ Quốc gia, bỏ của báu, hàng ma, giết tặc, thành chánh quả khai nẻo Giác cửa thiền.
38. Thị chúng sanh như xích tử, khải ngộ trừ mê, bỉ cực tam luân khuếch ngũ thừa nhi thùy phạm;
Đỗ pháp giới nhược không hoa, tiền căn tuyệt tướng, trí viên thập lực đào vạn tượng dĩ nghiêm quy;
Dịch
Xem chúng sanh như con đỏ, khai ngộ trừ mê, lòng xót tam luân, mở ngũ thừa mà ban khôn phép;
Ngắm pháp giới tợ hoa không, bỏ căn dứt tướng, trí tròn thập lục, suy vạn tượng để tập nghiêm quy.

39. Phạn thực dĩ đa thì, chỉ đò kiến tánh ngôn hạ tri quy, bách xích can đầu trùng tấn bộ;
Tảo tri đăng thị hỏa, bát thảo tham huyền thinh tiền ngộ chỉ, nhất luân minh nguyệt dạ truyền y.
Dịch
Cơm chín đã từ lâu, tỏ tranh hình thấy tâm tính, lời dứt biết ngay chỗ về, đấu sào trăm thước còn cất bước;
Sớm hay đèn là lửa, trừ cỏ rối, tham diệu huyền, tiếng truyền ngộ liền ý chỉ, trăng sáng một vầng, tối truyền y.
40. Bát nhã bổn vô ngôn, ly tứ cú, tuyệt bách phi, ứng hóa tùy duyên thuyết vô lượng vô biên diệu pháp;
Bồ đề tiên hữu nguyện, chứng tam minh, cụ ngũ nhãn, câu viên phước quả thành đại hùng lực
từ tôn.
Dịch
Bát nhã vốn không lời, rời bốn vế, trừ trăm khôn, ứng hóa tùy duyên, giảng diệu pháp vô lượng vô biên;
Bồ đề cần có nguyện, chứng tam minh, đủ năm mắt, tròn đầy quả phúc, thành từ tôn đại hùng đại lực.

41. Chí đạo bất ngại ngôn ngôn thuyên, tức tục tức chơn, đốn ngộ khẳng thừa đương, vận thủy băng sài giai diệu dụng;
Nghi tình nhất phiên khám phá, phi tâm phi vật, bổn lai chơn diện mục, ma chuyên thụ chi tổng thiền cơ.
Dịch
Đạo rốt ráo đâu phải thuyết đàm, là tục, là chơn, ngộ liền vẫn vậy, gánh nước nôi, chặc củi nè đều là diệu dụng;
Tình nghi nan một khi khám phá, chẳng tâm, chẳng vật, mặt mũi xưa nay, mài ngói gạch, giơ ngón taycũng chỉ thiền cơ.
(Tặng chùa Thuyền Tôn-Huế)
42. Vĩnh khí tà tư quy hướng Phật đà tăng phước lạc;
Quang hàm vạn tượng trượng bằng tuệ nhật phá sân si.
Dịch
Mãi bỏ ý tà, qui hướng Phật đà, thêm phước lạc;
Bao gồm vạn vật, nương theo vầng tuệ, phá
sân si.
43. Nhập giải thoát môn, thiết đoạn tham sân si mạn hữu lậu nghiệp;
Chứng Tam bảo địa, thường hành từ bi hỷ xả vô lượng tâm.
Dịch
Vào cửa giải thoát, nghiệp hữu lậu tham sâm si mạn phải quyết dứt trừ;
Chứng miền Tam bảo, tâm vô lượng từ bi hỷ xả cần luôn thực hiện.
(Tặng chùa Vĩnh Quang)

44. Lý tuyệt lưỡng biên tức tâm tức vật;
Đạo vô đốn tiệm phi thật phi quyền
Dịch
Lý dứt hai bên, là tâm là vật;
Đạo không mau chậm, chẳng thật chẳng quyền.

45. Vệ già lam nhi thanh tịnh;
Hộ Phật pháp dĩ trường tồn.
Dịch
Giúp già lam thành thanh tịnh;
Hộ Phật Pháp được trường tồn.

46. Chân tục hỗ dung duyệt đệ nhất nghĩa;
Tự tha kiêm lợi nhập bất nhị môn.
Dịch
Chân tục đều thông, nêu nghĩa đệ nhất;
Ta người cùng lợi vào cửa không hai.

47. Bảo địa trang nghiêm, sắc hương bất dị;
Phật ngôn quảng đại, xuất nhập tùy duyên.
Dịch
Đất báu trang nghiêm, sắc hương không khác;
Cửa Phật quảng đại, ra vào tùy duyên.

48. Nhập thử môn tham sân si mạn;
Đăng thị địa, hữu hùng lực từ bi.
Dịch
Vào cửa đây không tham sân si mạn;
Lên đất nầy có hùng lực từ bi.

49. Phước huệ viên tu chơn phật tử;
Trí bi song vận đại từ tôn.
Dịch
Phước huệ tròn tu chính người phật tử;
Trí bi đầy đủ ấy bậc đại từ.
50. Cứu khổ tầm thanh Quán Tự Tại;
Từ bi nguyện lực Diệm Nhiên Vương.
Dịch
Quán Tự Tại tìm tiếng kêu cứu khổ nạn;
Diệm Nhiên Vương theo sức nguyện tỏ từ bi.
(Câu đôi tặng chùa Già Lam TP Hồ Chí Minh)

51. Đại từ đại bi mẫn chúng sanh, ứng hóa tùy duyên thân kỳ thân nhi kỳ địa;
Đại hỷ đại xả tế hàm thức, oai đức tự tại thánh trung, thánh nhi, thiên trung thiên.
Dịch
Đại từ đại bi thương xót chúng sanh, theo duyên ứng hóa, thân với thân như đất với đất;
Đại hỷ đại xả tế vạn loài, oai đức tự tại, thánh trong thánh như trời trong trời.

52. Từ nhãn quán chúng sanh ư trí ư ngu thị đồng nhất tử;
Tôn phong thành phạm vũ thị không thị sắc nhập bất nhị môn.
Dịch
Mắt thường nhìn chúng sanh, kẻ trí kẻ ngu đều là con cả;
Tông phong xây chùa Phật, ấy không ấy sắc vào của không hai.
(Tặng chùa Từ Tôn Biên Hòa)

53. Hai bài kệ thỉnh chuông U minh:
Nguyện thử chung thinh siêu pháp giới,
Thiết vi u ám tức giai văn,
Văn trần thanh tịnh chứng viên thông,
Nhất thiết chúng sanh thành chánh giác.
Dịch
Nguyện tiếng chuông nầy lan khắp nơi,
Tận cùng hang thẳm đến muôn loài,
Nghe chuông lóng sạch lòng ô trược,
Hưởng cảnh an vui giữa cuộc đời.

54. Kệ nghe chuông:
Văn chung thinh, Phiền não khinh,
Trí tuệ trưởng, Bồ đề sinh,
Ly địa ngục, Xuất hỏa khanh,
Nguyện thành Phật, Độ chúng sanh.
Dịch
Nghe tiếng chuông, Phiền não nhẹ,
Trí tuệ lớn, Bồ đề sinh,
Lìa địa ngục, Thoát hầm lửa,
Nguyện thành Phật, Độ chúng sinh.

55. Đạo thọ hoa khai hương mãn kỉnh;
Tùng lâm nguyệt hiện điểu qui sào.
Dịch
Cây đạo nở hoa đường hương ngập;
Rừng thiền trăng sáng tổ chim về.
(Tặng Sư Bà Diệu Không nhân ngày mừng thọ 85 tuổi)
56. Tham thiền tu thấu tổ sư quan, văn tự hề vi trọng tại niêm hoa vi tiếu;
Diệu ngộ yếu cùng tâm lộ tuyệt, ngữ ngôn hà dụng toàn bằng khấu chỉ tam thanh.
Dịch
Tham thiền phải lọt qua cửa Tổ, văn tự đâu cần, khi nêu hoa mỉm miệng;
Ngộ đạo cần dứt tuyệt đường tâm, ngữ ngôn nào kể, lúc tay khẩy ba lần.
(Viết cho chùa Linh Sơn Pháp Bao ở Nha Trang Khánh Hòa)

57. Hoằng thí đại nguyện, ngọc chất giáng hoàng cung, phún thủy cửu long tề mộc dục;
Vi độ quần sanh, kim thân tu tuyết lãnh, hàm hoa bách điểu cạnh triêu tham.
Dịch
Rộng thí nguyện lớn, chất ngọc giáng cung vua, chín rồng phun nước tắm;
Nhằm độ quần sanh, thân vàng tu núi tuyết, trăm chim ngặm hoa chầu.
(Tặng chùa Vô Ưu TP. Hồ Chí Minh)

58. Vạn pháp nhất như tức tục tức chơn qui giác đạo;
Đức đồng pháp giới đàm không đàm hữu chuyển mê tâm.
Dịch
Muôn pháp nhất như, là tục là chân, qui đường giác;
Đức tròn pháp giới, bàn không bàn có chuyển tâm mê.
(Tặng chùa Vạn Đức TP. Hồ Chí Minh).
(*): Sưu tập chưa đầy đủ.

Xe hoa diễu hành mừng Phật Đản của 13 Khuôn hội cụm P/Van
Lưu phương đạo tình

Thơ Tuệ Minh
Thành kính dâng Giác linh Ôn Cố Hòa Thượng Thích Thiên Siêu Oct. 4. 2001

Trăm năm tợ chiếc thuyền đời
Ngàn năm hương đạo, lòng người lưu phương
Còn đây tất cả tình thương
Lá xanh hoa thắm tuyến đường lắng yên
Tim Người hòa nhịp như nhiên
Dáng Người gió mát thanh lương diệu mầu
Lời Người thành tiếng kinh cầu
Y vàng Người đắp xóa sầu trần gian.

Tiễn bạn
Thơ
Của bác Trương Công Châu đọc tại Lễ tang
Bác Trương Mai Pháp danh Nguyên Vi

Anh Nguyên vi ơi !
Mới đó mà đã xa chơi miền lạc quốc
Kể từ đây trên nẻo đường xuôi ngược
Biết tìm đâu bóng dáng người bạn hiền
Chén trà khuynh ngồi đàm đạo hàn huyên
Chén rượu nhỏ gói trọn câu nhân cách
Một cuộc đời dù khổ nghèo mà thanh bạch
Vào hội thơ cũng vào để mà chơi
Chuyện tâm giao còn đó anh ơi!
Đêm nghe lá rụng nhớ người tri kỷ
Chuyện 35 năm một quảng đường dài
Bôn ba chi tóc đã bạc trên đầu
Nghĩa cuộc đời ôi ! Bãi bể nương dâu
Bỏ bề bạn anh trở về cố xứ
Chốn quê hương đích thực của kiếp người
Nơi bến chờ có hoa bướm rong chơi
Quên hết cả chuyện buồn vui sướng khổ
Một cuộc đời mấy mùa trăng cổ độ
Một nẻo về chốn tuyết thẳm mù khơi
Cơn mê trần thế anh ơi!
Người đi hôm trước người đưa tiển
Đến lượt mình đi vắng một người.
Tình bạn hữu kể sao cho xiết
Mong anh nương về cõi Tây phương.
Kính vĩnh biệt anh …

Lễ cầu an đầu năm Mậu Tý tại chùa An Bằng
(làng và 43 họ tộc tham dự)

Nhớ Vinh An
Nguyên Ngộ: Văn Nhân Đạo

Đi mô rồi cũng nhớ Vinh an
Năm canh thao thức nỗi bàng hoàng
Hà Úc ven sông xanh dương liểu
An Bằng thơ mộng đất Nam triều.

Đi mô rồi cũng nhớ Vinh an
Gái trai duyên dáng cả hai làng
Mỹ Hà vô tới vùng Bến lội
Thương nhớ khôn cùng thương nhớ ơi!

Hôm qua ta ghé Xóm bàu chơi
Cuốc bộ hai chân muốn rã rời
Bằng hữu dăm thằng nay biệt dạng
Đường xưa xóm cũ quá điêu tàn.

Đi mô rồi cũng nhớ Vinh an
Nhớ mái Chùa xưa cạnh Đình làng
Ngày ấy ta còn chim Oanh vũ
Nay đã xa rồi tít mù xa.

Hôm nay lưu lạc giữa chợ đời
Thân tàn mang kiếp sống đơn côi
Vinh an ta nhớ đầy tim óc
Lệ cứ rơi hoài, lệ mãi rơi …

Măng non GĐPT An Bằng

Nhớ Mẹ
Nguyên Thảo: Văn Thị Lệ Hiếu

Vĩnh biệt mẹ quê hương yêu dấu
Nơi đây trăng sáng chiếu qua nhà
Dưới trăng con đùa nhảy hát ca
Bên bóng mẹ tấm lòng con mong ước
Chưa từng xa xứ để mẹ đau
Nơi đất lạ giăng đủ muôn màu
Sao con thấy lòng mình trống trải
Về thăm mẹ lời con mong mỏi
Nhìn dáng mẹ gầy từ hôm nào
Mái nhà mình tràn đầy hương đạo
Mỗi đêm về con niệm nam mô
Nguyện cho mẹ phúc thọ lâu dài
Nguyện linh cha vãng sanh cực lạc
Cho đàn con hưởng mát đạo từ
Và lấy từ bi làm đạo hạnh
Xa xôi vạn dặm vẫn nhớ câu
Con ơi ! Quê đó nhớ về thăm
Đã mười sáu xuân rồi xa thẳm
Xuân này con hứa dịp thu về
Cho mẹ niềm vui ngày đoàn tụ…

Sáng trong cõi lòng
Nguyên ngộ Đào Hoài

Hết ngày lại đêm, đông tàn xuân đến
Bốn mùa thay đổi luân phiên
Vũ trụ tuần hoàn tự nhiên
Đời người triền miên vọng lụy
Ai sinh ra không khóc
Đời vui lại chẳng cười
Cuộc nhân sinh tám chín mười mươi
Chốn đi về người người có chỗ
Gió thổi có sức, mà vô hình vô ảnh
Đời người sống thực, cuối đời tự biết về đâu
Non cao biển rộng vực sâu
Người cùng sông núi một màu xanh tươi
Bọt sóng tan hòa, cùng nước biển
Đại dương xanh, hiển hiện bèo mây
Ngại ngùng chi, người đó ta đây
Lòng trong sáng, an vui tự tại
Đừng tham đắm, đọa đày trong khổ ải
Sống thần tiên, chết cũng thần tiên.

Hương Từ Bi
Thơ Tuệ Minh
( Kỷ niệm mùa Phật Đản 2627)

Thoáng không gian, thời gian như ngừng lại
Cả bầu trời chiếu diệu dải lưu ly
Hương tỏa bay thơm ngát ánh Từ Bi
Chim ca múa, gió thầm thì hoa lá
Hoa Vô Ưu, hương Từ Bi cao cả
Vạn kỷ qua , một cảnh lạ giáng trần
Đuốt Trí Tuệ lan Trải khắp trời không
Cho vạn loại mãi mùa xuân diễm tuyệt
Rồi ngàn hoa, ngàn hoa đang nối tiếp
Mang ánh Từ bất diệt về muôn nơi
Và thắp lên ngọn đuốt rạng tình người
Gieo tỉnh thức giữa dòng đời quang sáng
Xóa đêm đen, mặt trời hồng ló dạng
Chim cùng ca, hương từ vạn loài hoa
Nối vòng tay, mở rộng mãi bao la
Lên tấu khúc khắp yên hà phước lạc.

Khuôn giáo hội dự lễ khai mạc trại của GĐPT

Mái Ấm Nhà Lam.

Mái ấm nhà Lam khen ai khéo dựng.
Cho chúng mình giữ vững niềm tin.
Cùng nhau xây dựng gia đình.
Tre tàn măng mọc đẹp xinh vô cùng.
Kìa bốn biển nghìn trùng xa lắc.
Nọ năm châu ngăn cách đôi bờ.
Nhưng cùng chung một nội quy.
Cùng chung quy chế khác chi một nhà.
Mốc một chín bảy ba nên nhớ.
Đại hội nầy lịch sử còn ghi.
Mồ hôi xương máu sá gì.
Quyết tâm bảo vệ nội quy đến cùng.
Vo tròn bóp méo đừng hòng.
Chỉ có đại hội mới mong khiện toàn.
Cùng chung một mái nhà lam.
Thịnh suy nung nấu tâm can thêm bền.
Nội quy, quy chế giữ gìn.
Anh em già trẻ đạo tình sắc son.

(Bài đã đăng trên Sen Trắng số 10 trang 129 ngày 22/5/2005).

Sắc không
Nguyên ngộ Đào Hoài

Ru nhau trong cõi vô thường
Đêm nghe vọng sóng thùy dương vỗ bờ
Lạ lùng từ thưở còn thơ
Đến khi đầu bạc nào ngờ sắc không
Sắc không là lẽ huyền đồng
Đã không thì chẳng có gì không không
Vượt qua ý niệm sắc không
Đôi vai nhẹ gánh giữa dòng nhân gian

Mẹ Vào Đời
Thơ Tuệ Minh
(kỷ niệm vía Đức Quan Thế Âm 19.6.00

Vì nguyện lực Mẹ hiện thân cùng khắp
Từng mũi kim khâu vá mảng hư hao
Đời rách nát, nhưng tình Mẹ dạt dào
Thương nhân thế chưa phút nào ngưng nghỉ
Mẹ vào đời xóa tan lòng vị kỷ
Gặp đói no ấm lạnh Mẹ sớt chia
Niệm khổ đau cảnh thân thích cách lìa
Từng cuộn chỉ vá tròn vuông ý nguyện
Lắm gian nan tâm Mẹ nào lay chuyển
Mầm Từ Bi gốc rễ đã ăn sâu
Hạt giống Mẹ gieo trải khắp năm châu.
Vào huyết quản bắt nhịp cầu thông cảm
Dù gió mây có chuyển mùa u ám
Mẹ vẫn vui, vẫn nét mặt rạng ngời
Trước hiểm nguy Mẹ chỉ nở nụ cười
Là dòng sữa Mẹ thường nuôi nhân thế !
Có và không
Nguyên ngộ Đào Hoài

Vạn vật vô thường
Đời người chóng vách
Luật định từ ngàn xưa
Dục tham biết mấy cho vừa
Ràng buộc thân tâm thêm khổ
Dững dưng trước sao dời vật đổi
Để tâm hồn thoát khỏi, vọng cùng chân
Ngày tháng thong dong …
Dạo chơi cùng mây nước
Đêm bông dùa hỏi, chuyện gió cùng trăng
Tịch nhiên gió lặng trăng ngưng
Bừng tâm tỏ rạng, có không sáng ngời

Khắc Tên Ai
Thơ Tuệ Minh

Từng đọt sóng vỗ lên từng đọt sóng
Nước cuốn phăng bạc trắng nước cuốn phăng
Đáy biển sâu hạt cát vàng lưu, đọng
Ai khắc tên, hạt cát, có tên chăng ?
Ngàn năm nữa qua, rồi ngàn năm nữa
Vẫn sóng xao, vẫn nước cuốn trôi lăn
Đáy biển sâu cát vàng không điểm tựa

Bài Thơ Dâng Mẹ
Văn nhân Đạo

Thưa mẹ hôm nay ngày Vu lan
Thơ con gói hết ý hân hoan
Kính dâng lên mẹ lòng hiếu thảo
Từ trong vô lượng giải nghiệp oan

Lạy mẹ hôm nay ngày Vu lan
Đốt hương tưởng niệm lệ chứa chan
Ngực cài hoa trắng lòng đau xót
Mẹ ơi! Thương nhớ đến vô vàn

Âm dương cách biệt mấy quan san
Vắng mẹ còn đâu tiếng hỏi han
Bơ vơ côi cút đời luân lạc
Làm người chưa dứt những lo toan

Mẹ ơi! Hôm nay ngày Vu lan
Nguyện cầu phương đó mẹ bình an
Nghiệp duyên rũ nhẹ sinh Tịnh độ
Liên đài mẹ tắm ánh thiền quang
Phù du một kiếp ngắm trần gian
Nghĩa mẹ công cha trả muộn màng
Lạy Phật chứng tri lòng sám hối
Độ trì cho mẹ được an nhàn…

Dâng Mẹ
Xuân Kỹ Mão 24/1 Tâm Nguyên An.

Nhìn xem trời đã vào xuân
Gió xuân tươi mát mà lòng thấy đau
Âm dương chỉ có nhịp cầu
Mẹ hiền đã mất còn đâu nắng vàng
Bây giờ quấn chiếc khăn tang
Ngồi bên ảnh mẹ hai hàng lệ rơi
Ngày xưa mẹ dặn mấy lời
Mai sau khôn lớn nên người nghe con
Nghĩa ân là ngọc là vàng
Thuận hoà vi quý giàu sang sánh gì.

Giữ lòng vui
Nguyên ngộ Đào Hoài

Hãy vui lên lắng quên đời bận rộn
Buồn mà chi cho thêm nỗi nhọc nhằn
Hãy cưỡi gió dong chơi cùng vũ trụ
Và cưỡi mây vui với hội thần tiên
Vui vui nũa đi bạn ơi ! cười lên chứ
Chớ để lòng đau, đừng tê cứng thân người
Vui ! vui mà trời người chung như một
Chung khối tình chung, quên cái sự tình riêng
Trãi ngàn hoa lên thảm cỏ hồn nhiên
Trang trí lại bức tranh đời xanh ngát.
Định Lý Duyên Khởi.

Định lý duyên khởi là một định lý cơ bản của Phật giáo do Đức Phật đã giác ngộ và chỉ lại cho chúng ta với một cái quy luật “ Thử hửu cố bỉ hửu, thử vô cố bỉ vô, thử sanh cố bỉ sanh, thử diệt cố bỉ diệt ”.
Trong Kinh Pháp Hoa có một câu dạy rất đặc biệt là: Các Đức Phật chỉ vì một việc đó là : Khai trí cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật.

Tượng A LA HÁN thờ tại chùa

Tránh Gây Phiền Não, Cắt Đứt Phiền Não.

Bị phiền não chướng ngại thì không lập chí cầu giải thoát, bị nghiệp báo chướng ngại thì không lập chí cầu trí giác.
Đi đưòng nào tà ? Đi đường nào chánh ? Tham ái biếng tướng, lấy bốn không định làm giải thoát là đường tà, chí nguyện cầu trí giác, thực hành tám chánh đạo là đường chánh.
“Muốn giàu có thì thực hành bố thí.
Muốn vui thì thực hành Từ bi ”.
Nhưng muốn cứu vớt an vui tất cả chúng sanh thì phải kiến lập chí nguyện mong cầu trí giác vô thượng.
Không thực hành diệu hạnh thì có ba điều khó:
1. Khó gần các vị thiện tri thức.
2. khó thực hành từ bi.
3. khó ham trí giác Phật Đà.
Mà muốn thực hành diệu hạnh thì phải lập chí nguyện, mong cầu trí giác vô thượng, lập chí nguyện mong cầu trí giác vô thượng rồi, là được nhất thể trí vậy.

(Trích luận Đại Trượng Phu).

Tượng A LA HÁN thờ tại chùa An Bằng

Ban từ thiện cứu tế dân nghèo
CÂU CHUYỆN
Giữa
Thầy trò Thiện niệm và Phạm Ma Đạt.

“Có lần hai thầy trò Thiện niệm và Phạm Ma Đạt đi sau phật. Ông thầy thì luôn luôn tìm đủ mọi từ xấu xa để chê bai Đức phật và các Đệ Tử. còn ông đệ tử Phạm Ma Đạt thì dùng mọi lòi hay ho để khen.
Thế mà Đức Phật đi trước ngài làm thinh không nói gì cả – về tới tịnh xá ăn cơm xong, các tỳ kheo ngồi lại bàn với nhau “Đức Phật có Thiên nhãn Thiên nhĩ đủ cả, sao người ta nói vậy mà không nghe ngài nói gì cả. Phật đến hỏi các người đang bàn chuyện gì đó? Đệ tử trả lời: Đang bàn chuyện Thầy Trò Phạm Ma Đạt.
Lúc bấy giờ ngài mới giải thích: “ Nên im lặng như hiền Thánh, nên nói năng như hiền Thánh, khi khen các người chớ vội thỏa thích với lưòi khen đó vì thỏa thích với lời khen thì bị chìm đắm.
Khi chê các người cũng chớ vội buồn nãn, vì lời chê nếu vội buồn rầu thì các người bị chìm đắm”
Khi nghe khen chê các người nên sáng suốt bình tĩnh nhận định điều đó đúng với chúng ta, điều đó không đúng với chúng ta.
Đó là một thái độ hết sức bình tĩnh, hết sức khách quan, hết sức nhẹ nhàng giải thoát cho mình, giải thoát cho người.

Nếu khi mới nghe người ta chê mà minh nỗi sân đánh người ta, thì ngay mình không giải thoát, mà cũng chẳng giải thoát cho người nữa. Cho nên có chỗ Đức Phật nói “Người nào nhẫn được thì người đó thắng cả hai thắng cho mình và thắng cho người ”. Người nào không nhẫn được thì người đó bại cả hai …

Tượng A La Hán Thờ Tại Chùa An Bằng

Tượng A La Hán Thờ Tại Chùa An Bằng Năm 2008

Tượng đá.
Nguyên Ngộ Đào Hoài

Tượng đá ngồi im không nói.
Tượng ngồi im nhưng sống động vô cùng.
Ý tưởng Tượng muôn trùng phong phú.
Ai bảo Tượng ngồi im không nói.
Tâm hòa nhập giữa người cùng tượng đá
Phút đạo đàm hạnh phúc biết nhường nao !
Lòng ung dung tự tại với trăng sao.
Người và đá cũng tương phùng tao ngộ.

******
Phong lai sơ trúc, phong khứ nhi trúc bất lưu thanh.
Nhạn quá hàn đàm, nhạn khứ nhi đàm vô ảnh hiện.
Thị cố quân tử sự lai nhi tâm thể hiện, sự khứ nhi tâm tùy không.
Giải:

Gió qua cành trúc, gió qua rồi trúc lại bặt im.
Con chim nhạn bay qua đồng ruộng, bóng nhạn in hình đáy nước, nhạn qua rồi bóng nhạn tìm đâu.
Người quân tử khi gặp việc nói lăng xăng cho vui, nói rồi tâm lại thảnh thơi không bận rộn chi cả.

Lời nhắn nhủ:
Nếu sinh hoạt trong gia đình phật tử khi lên đoàn trưởng, anh chị có cảm tưởng thế nào? Khi bác gia trưởng gắn lên túi áo anh chị một chức vụ hiệu đoàn trưởng. Từ ngày đó anh chị thấy trong đời sống anh chị có gì thay đổi khác thường, khi nào cái chức vụ hiệu đó mới chịu rời các anh, và khi người khác nâng niu nó trên túi áo màu lam, các anh chị sẽ nghỉ gì? Thờ ơ hay nuối tiếc? Anh chị thấy gì khi đàn em mỗi ngày mỗi đông, hay trái lại mỗi ngày mỗi mõi mòn, các anh chị có bồi hồi thổn thức khi chiếc áo màu lam bị hoen ố, hoen ố vì thời gian, hoen ố vì thời cuộc, hoen ố vì hoàn cảnh. Tôi đợi các anh chị trong ngày Đại Hội tưng bừng của GĐPT.

*****

“Biết người khác tức giận Chánh niệm tâm an tịnh là y sĩ cả hai. Chửa mình và chửa người…
Kinh Tương Ưng.

Sự phân chia xá lợi của Phật (1)

Bà La Môn DôNa, người tổ chức thành công việc phân chia xá lợi, dành lấy cho mình cái bình đựng xá lợi. Những người Maurya ở Piffhalirana, vì đến chậm chỉ được nhận tro còn lại của giàn hỏa, các bình được chia phần Xá lợi đều xây tháp ở Quốc Gia mình để cúng dường. Như vậy có tất cả 10 tháp: Tám tháp đựng xá lợi của Phật, một tháp xây trên bình chứa Xá lợi; và một tháp thờ tro của giàn hỏa.
Trích lịch sử Đức Phật Thích Châu Thích Minh Châu. Trang 71, bài 37
Xá lợi: Hài cốt của Bậc Thánh sau khi hoả táng.

“Giáo hội tăng già do Phật sáng lập, không phân chia đẳng cấp xã hội Phật nói “Hỡi cái tỳ kheo: cũng như các con sông lớn, sông Hằng Hà, sông Yamuna, sông Aciravita, sông Sarabahu, sông ma hi khi chúng đổ vào biển thì chúng mất tên gọi trước đây của chúng và được gọi cùng một tên là biển cả mà thôi; cũng như vậy: 4 đẳng cấp. Sát Đệ Lỵ, Bà La Môn, Vệ Xá, Thủ Đà La, mỗi khi họ đến với pháp luật do như lai giảng thuyết, từ cuộc sống gia đình đến cuộc sống không nhà thì họ cũng đều mất tên gọi trước đây của họ và được gọi một tên là Tu Sĩ”.
Trong Thập Mục Ngưu Đồ

Tiêu đề từ “Mới dắt” rồi từng bước huấn luyện đến “Thuần phục” để cả trâu người đều an nhiên gắn bó như câu thơ:
“Cỏ thơm chiếu xuống vừng mây biếc, trẻ khỏi cần chăn vẫn tới nhà”…
Pháp môn toạ Thiền: Nhờ có Định mới có Tuệ – muốn được Định Tuệ phải giữ giới.
Giới, Định, Tuệ cùng với Văn, Tu, Tư đó là môn học hàng đầu của người tu hành gọi là: Tam Vô Lậu Học.
Trong luật Thiền có 8 thứ gió (gọi là bát phong) trong luật Thiền có 8 thử thách con người: Tám gió ấy là: Suy, Hủy, Dự, Xưng, Cơ, Khổ, Lạc có nghĩa là:
Lợi: Được Tài thì lợi không xao xuyến
Suy: Là gặp suy hao, lòng vẫn thản nhiên
Huỷ: Là bị huỷ lòng không bực tức
Dự: là được công kênh lòng như không
Xưng: là được ngợi khen tâm vẫn bình thản
Cơ: là bị chê bai lòng không biến đổi
Khổ: Là gặp đau khổ lòng vẫn an nhiên
Lạc: Là được việc vui tâm không xao động
Những luồn gió ấy tuy không gây nguy hiểm chết người. Nhưng nó lại cái thước tâm linh, để xem ai là người làm chủ được tâm mình.
“Học đạo như dùi cây kiếm lửa, chưa ngừng khi gặp khói bay lên”.

Trong 21 ngày ngồi tại Cội Bồ Đề
thay vì nghĩ rằng:

Cuộc đời của chúng ta; kiếp sống của chúng sanh do một “Túc tác nhơn” nghĩa là do một định mệnh an bài sẵn, hoặc do một vị tạo hoá nào tạo ra, hoặc ngẫu nhiên vô nhơn mà có.
Với tất cả quan niệm sai lầm đó không hiện đến nơi Đức Phật, lại bằng vào nơi thực tại của chúng sanh, để tìm nguyên nhân thực tại của chúng sanh hiện hữu là do Lão Tử, bằng cái đó, bằng nơi đời sống hiện hữu đó để tìm nguyên nhân chứ không tìm nguyên nhân đâu xa. Nhưng với các nhà ngoại đạo thì cho là một nơi tạo hoá, hoặc ngẫu nhiên, hoặc vô nhơn, hoặc túc tác, hoặc định mệnh. Còn mỗi chúng sanh thì thân thế chúng ta đều bản ngã, bản ngã nó bảo ta ăn, nó bảo ta nói, nó bảo ta ngủ, nó bảo ta làm, người ta nói hoạt động có bản ngã.
Nhưng với trí tuệ của Đức Phật, với suy tư của Ngài, nó ra ngoài hai điều đó, nó ra ngoài tà kiến của ngoại đạo, và ra ngoài chấp kiến của chúng sanh, với lối suy tư theo chiều thuận, và suy tư chiều nghịch mà danh từ thông thường gọi là Thuận quán và Nghịch quán hay là lưu chuyển quán và hoàn diệt quán. Với lý thập nhị nhơn duyên này ngay tại cội Bồ Đề Đức Phật đã quán do vô minh có hành, do hành có thức v.v…
Trong thập nhị nhơn duyên ta thấy Phật quán từ cái lão tử rồi đi lên, nên những điều Đức Phật chứng ngộ rất xác thực, không để cho bị mê hoặc trong tháng ngày Ngài thấy, nghe, hay biết bất cứ điều gì cũng từ kết quả đi tìm nguyên nhân chứ không phải như ta vừa nghe vừa tìm ngay, cứ cho là thật, vừa thấy là nói đó rồi…
Câu chuyện ngụ ngôn sau đây rất có ý nghĩa:
Có lần Đức Phật thấy thiên hạ đua nhau chạy dữ quá. Ngài mới hỏi: sao chạy dữ vậy? Họ trả lời Trời sập Phật hỏi ai nói? Họ trả lời mấy người sau đó. Ngài hỏi dần đến cuối cùng biết được do con Thỏ nằm mơ ngủ dưới gốc sung, nghe trái sung rụng bên tai tưởng là trời sập và bỏ chạy, cứ thế tiếp tục rồi khỉ, ngựa, voi cho đến người ta cũng đua nhau chạy…
Cho nên Đức Phật đứng trước mọi hoàn cảnh, trước mọi việc Ngài bình tỉnh để quan sát, bình tỉnh tìm nguyên nhân không hốt hoảng.
Do chuyện trên đây ta thấy hiện tại mình cũng Thỏ lắm, bởi vì mình chưa tìm nguyên nhân mà chỉ nghe Thỏ rồi chạy, chứ không phải một mình Thỏ đâu mà thôi. Cái nghe cái thấy của mình hoàn toàn trong hốt hoảng đó là điều kiện mình nên cẩn thận. Có nhiều chỗ ở trong kinh Phật dạy “khi được ngợi khen khoan sung sướng đã, vì nếu hân hoan trước lời khen đó, thì các ngươi sẽ bị hại, sẽ bị chìm đắm. Khi bị chê trách cũng chớ buồn phiền, vì phiền buồn cũng bị chìm đắm”…
(Trích chọn sau khi nghe thời thuyết pháp của Hoà Thượng Thích Thiện Siêu, giảng đề tài. Lý duyên sanh – Thập nhị nhơn duyên, tại Chùa Từu Đàm, của Trại tiền vạn hạnh V-1995)
An Lạc Thân

Muốn thân an lạc ta phải luôn ghi nhớ, giữ gìn tâm nhẫn nhục, nhu hoà tuỳ thuận với người một cách khéo léo. Với áo giáp nhu hoà nhẫn nhục tự hạ thấp mình cho ngan hàng hay thấp hơn người để vững vị trí đứng của mình và lần hồi chuyển họ theo ta, đừng bao giờ nỗi nóng với người, phải bình tĩnh không để cảnh bên ngoài chi phối tâm, vì động tâm sẽ mất bình tỉnh không còn sáng suốt, lúc đó sẽ bị họ quật ngã. Tuy sống hoà hợp với nhiều người nhưng vẫn không bị đồng hoá, đó là điều căn bản quan trọng sống chung với người ác, chống họ ta sẽ bị giết, nhưng theo họ làm ác ta sẽ bị đọa.
Như Ngài Huệ Năng khéo tuỳ pháp tuỳ thuận vì nghiệp duyên Ngài sống chung với những người thợ săn hung dữ, Ngài cũng làm công việc săn bắn y như họ, nhưng không bao giờ bắn trúng, nên chúng bắt Ngài nấu cơm.
Khí bên trong Ngài giữ được tánh Phật, còn bên ngoài hiện tướng gì cũng được, phải tuỳ thuận nhưng có thái độ cương quyết truyền bá Phật pháp dưới mọi hình thức đưa người tới bờ giác, nhẫn nhục của Bồ Tát Pháp Hoa làm chúng sanh phải khuất phục, không phải sợ mà nhẫn.
Trong đời mạt pháp đa số người không đặt căn bản trên đạo đức vì vậy ta phải trang bị những đức tánh nói trên để giữ cho thân an lạc.
Cơm ăn, áo mặc, thuốc men, nhà ở hợp pháp và những liên hệ chung quanh chúng ta đều tốt đẹp, tất cả những việc này chỉ tạo sự an lành bên ngoài giúp ta tạm thời ổn định việc tu hành, nếu chúng ta dừng bước ở đây thì muôn đời vẫn là chúng sanh…
Đức Phật dạy nghiệp là nguyên nhân chính giả tạo cho thân ngũ uẫn thành dễ thương hay dễ ghét, còn ngũ uẩn thân vật chất mọi người đều giống nhau.
Ngài Huệ Tử Thiền Sư tham Thiền sử dụng nhất tâm tam quán, thấy được sai lầm tác hại của nghiệp đã làm cho Ngài thuyết pháp vẫn bị bỏ đói và bị thuốc độc, qua kinh nghiệm tu chứng Ngài dạy chúng ta rằng, khi thiên hạ đánh chưởi khinh chê, sĩ vả là tấn công cái Nghiệp của mình, chứ không phải tấn công mình, nhờ thiên hạ bắn phá Nghiệp ác rớt xuống, không còn vấn đề xảy đến với ta nữa.
Nghiệp theo ta như hình với bóng, chúng ta nhất định trả nợ quá khứ và không tạo Nghiệp tương lai, cuối cùng không còn nợ. Trái lại khi ta còn thừa của cải, thừa tri thức việc tốt đẹp tất nhiên chào đón ta……
(Trích lược giải kinh pháp Hoa)

Trích Lược Giải Kinh Pháp Hoa

“Trong thuở quá khứ, khi tiền thân Đức Phật là Thái Tử Tu Đại Noa, nguyện tu hạnh bố thí bất nghịch ý, Đề Bà Đạt Đa xin tất cả, xin vợ con và xin luôn cái đầu Thái Tử. Trong tâm niệm chánh thiện nhất việc làm của Đề Bà Đạt Đa đã nâng tâm của Thái Tử lớn lên đến cao độ nhất thành tựu được pháp bố thí Ba La Mật, phải có người làm hạnh ác như Đề Bà đến xin mới có dịp bố thí, tạo môi trường cho Bồ Tát hành đạo”.
Vậy chúng ta suy nghiệm trong những chướng duyên chúng ta mới có thiện duyên.
“Có chướng duyên mới tạo ra thiện duyên tốt” có nghịch duyên mới tạo ra thuận duyên.
Khi giàu sang đầy quyền lực xem tâm mình ra sao, và lúc trắng tay mình cảm nhận thế nào? Ở trong cùng cực khổ đau có rơi vào tuyệt vọng không, có gặp cay đắng mình mới có điều kiện điều chỉnh thân tâm. Đức Phật xác định Đề Bà Đạt Đa là đại diện tri thức, là thắng phước nhân duyên giúp hành giả mau thành Phật.
Ý này trong kinh Duy Ma diễn tả bằng tư tưởng Bồ Tát, Duy Ma nhận chúng ma làm pháp lữ, nhờ ma làm đối tượng cho chúng ta phát triển Phật tâm, vì tu hành không chướng ngại không thể đắc được, hay vô ma khảo bất thành Đại đạo.
Riêng chúng sanh gặp chúng sanh thì quýt dày có móng tay nhọn, hay ăn miếng trả miếng, là cách xử sự thế gian. Ngược lại vì có người làm ác hại ta thiện tâm chúng ta mới phát sanh.
Vì thế từ vô lượng kiếp đến nay, bên cạnh Đức Phật có Đề Bà Đạt Đa đóng vai mặt đen để vai Phật sáng lên. Đề Bà mang mặt quỹ nhưng chứa đựng Phật tâm, không có Đề Bà chúng ta không thấy được tâm từ vô lượng của Đức Phật. Thật vậy sự hiện hữu của Đề Bà Đạt Đa xấu ác thường song hành bên Phật, thuần thiện đã làm nỗi bậc trọn vẹn tư cách thánh thiện của Thế Tôn. Nhiều kiếp xa xưa Đức Thích Ca đã nhờ Đề Bà giáo hoá và hiện kiếp Đề Bà cũng tạo những chống phá thử thách giúp cho Đức Phật thể hiện lòng từ, thành tựu những hạnh khó làm. Điều này gợi nhắc chúng ta đối tượng tu hành theo pháp hoa là những người tệ ác….Càng tệ ác hành giả càng phát triển đạo đức mới thật sự tiêu biểu cho hành giả pháp hoa kiểu mẫu. Trong thời gian học kinh pháp hoa với Tiên nhân hay Đề Bà Đức Phật thể hiện tâm từ bi, nhẫn nhục, nhu hoà cao độ, diệt sạch tâm kêu mạn mới thành tựu trọn vẹn hạnh Bồ Tát Đề Bà bằng lòng đọa địa ngục vì làm việc phá hoại xấu ác cho Đức Phật thăng hoa trên đường giác ngộ. Quả thật Ngài là Đại ân nhân, là đại thiện tri thức của Đức Phật, là người đáng được cung kính cúng dường, thể hiện hình ảnh của Bồ Tát nghịch hạnh, không phải con người mang tâm ác thật sự như phàm phu…
Điều cần thiết đối với chúng ta khi gặp khó khăn phải phát triển niềm tin về Tam Bảo mạnh hơn, sám hối nghiệp chướng cầu Chư phật Bồ Tát gia bị cho chúng ta đủ sức chịu đựng những gì trần gian đổ trút lên, chúng ta đừng làm kẻ quỵt nợ, muốn ăn mà không chịu trả, không thể được vì nghiệp theo ta như bóng với hình. Chúng ta nhất định trả nợ quá khứ và không tạo nghiệp tương lai, cuối cùng không còn là còn nợ – Trái lại khi ta có thừa của cải, thừa tri thức, việc tốt đẹp tất nhiên chào đón chúng ta.
Phật dạy nên thân cận những chỗ tăng trưởng tri thức chúng ta, theo Phật dạy Bồ Tát an trú pháp không nghĩa là sống với trí bát nhã là chỗ an trú tốt nhất của Chư Phật ba đời…
Bồ Tát sử dụng trí bát nhã qua lảng kính thập nhị nhơn duyên, thấy rõ nguyên nhân thúc đẩy ta đi thọ sanh hiện hữu trên cuộc đời, nguyên nhân cấu hợp của ngũ uẩn xa hơn quan sát ngũ ấm thế gian để biết vũ trụ là gì, đó là pháp không.
Trên bước đường tu học hành trì kinh Pháp Hoa Bồ Tát đối trước ba hạn thù nghịch này cũng phải rung sợ, đó là:
1- Tục chúng tăng thượng mạn
2- Đạo môn tăng thượng mạn
3- Tiếm thánh tăng thượng mạn.

Kết quả:
1 – Là người ngoài Phật Pháp
2 – Là hạn thế tục không hiểu đạo, chống ta
3 – Là những tu lâu lớn tuổi có nhiều tệ ác..
(Trích lược giải kinh Pháp Hoa của Thượng Tọa Thích Trí Quãng)

Kinh điển giáo pháp Đức Phật

Dùng để soi sáng tâm con người, thường được như ngón tay chỉ mặt trăng hay thuyền dùng qua sông.
Ngón tay hay thuyền dùng để diễn tả giáo pháp là phương tiện và soi sáng, nghĩa là tâm từ mở rộng, trí tuệ phát sinh mới chính yếu, ai nghe pháp mà trí tuệ không phát triển, đạo đức không tăng trưởng, người đó đã kẹt phương tiện. Vấn đề quan trọng ở điểm biết vận dụng giáo lý làm phương tiện sống của mình như ăn cơm, hay hơi thở hàng ngày để giúp chúng ta sống khoẻ mạnh. Nếu cơm và hơi thở này cứ mang vô mà không thải ra chắc chúng ta sẽ chết, cũng vậy phật pháp cứ gom vô làm cho chúng ta mắc bệnh giáo điều chẳng khác gì người chết vì bội thực, ăn không tiêu, cũng từ ý thức này Tổ có day:
Kinh điển lưu truyền tám vạn tư, học hành không thiếu cũng không dư, đến nay tính lại đã quên hết, chỉ nhớ trên đầu một chữ như.
Học cũng không thiếu cũng không dư mới quan trọng, nghĩa là học để tu, còn học nhiều để phiền não nhiều cũng vô ích.
Học đủ nhưng không giữ lại, vì giữ lại sẽ thành bệnh, nên chỉ nhớ trên đầu một chữ Như là tâm chơn như bình đẳng tuyệt đối, hay đó là trí tuệ của Phật, là đại viên cảnh trí của Duy thức học như một cái đài gương sáng, một viên ngọc MaNiChâu của Pháp Hoa.
Tất cả màu sắc hình ảnh đều hiện đủ trong đó, hành giả không giữ một cái nào nhưng có đủ, không có gì không biết. Học xong và tu là được rồi, tất cả bỏ lại phía sau lời nói là phương tiện để tâm hành giả thanh tịnh dần. Chỉ dạy bằng thân giáo. Ba năm ở Ma Kiệt Đà Đức Phật làm thinh không nói, Bồ Tát nhìn việc của Ngài mà làm theo, lần hồi đi sâu vào trạng thái tu hành, Tâm đây là Thân Giáo.
Thiền sinh, học hạnh thiền sư, không qua ngôn ngữ gọi là giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự không thuyết pháp, vì càng nói nhiều càng vướng mắc giáo tướng, ngôn ngữ vướng mắc nhiều trở thành hí luận tâm vọng động thêm…
“Dồn sinh hoạt cho việc phát triển trí tuệ, phiền não tự tiêu hao dần, đèn trí tuệ tự sáng, những phiền não nuôi tâm Bồ Đề, giám giáp mặt với phiền não, ăn nuốt tất cả phiền não, để biến thành trí giác làm lợi khí cho mình và tha nhân”.

Đọc Tụng Kinh Pháp Hoa Là Ứng Nghiệm

“Tất cả các Vua ác hay Vua thiện, Đề Bà xô Đá Đức Phật – A xá Thế thả voi say giết Phật – sát nhân vô não hại Phật hay người đàn bà mang bụng chửa vụ oan Phật, người hớt tóc hay một dâm nữ..v.v..
Tất cả là những người đóng kịch trên sân khấu cuộc đời, vì dù tệ ác đến đâu sau cùng họ đều đắc quả La Hán, vì rõ ràng chỉ có một sát nhân vô não đắc A La Hán, một dâm nữ thành thánh (Ma đăng già) một người hốt phân đắc quả…..
Vì thế dưới nhãn quan của Phật giáo Đại thừa, tất cả những người này đều là diễn viên xuất sắc làm sáng danh hình ảnh đạo đức thánh thiện của Đức Phật.
Tất cả đều chứng minh nghịch duyên là thắng duyên giúp hành giả mau đắc quả vô thượng Bồ Đề. Những Bồ Tát vào đời dưới dạng sát nhân, hạ tiện, vượt lên quả vị hiền thánh nhằm khích lệ khơi dậy tâm Bồ Đề cho những giai cấp thấp.
” Trong lịch sử tôn giáo chưa có vị giáo chủ nào ký thác người bài xích mích thành Phật (giáo chủ) bao giờ, chỉ có phật giáo Đức Phật mà thôi, như sát nhân vô não, Đề Bà Đạt Đa.v.v…
Chưa có tôn giáo nào, ai giám chui vào địa ngục bao giờ chỉ có Phật giáo mà thôi như: Ngài Địa Tạng đã phát nguyện “Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật, chúng sanh độ tận phương chứng Bồ Đề”.
Đã phát tâm Bồ Đề rồi thì không bao giờ mất Bồ Đề tâm. Một khi đã phát tâm kết duyên với Phật hạt giống Bồ Đề chỉ mạnh hay yếu, chứ không mất, hành giả sanh chỗ nào, có Bồ Tát thị hiện theo hướng dẫn tu hành vì đó là hạnh nguyên của các Ngài, Ngay như ở thế gian chúng ta nói phật nhập diệt nhưng thật sự Ngài thành Phật ở cõi khác, bao nhiêu ứng hoá thân trong bốn loài khắp pháp giới, Ngài đều hiện hữu ai có căn lành đều gặp Ngài.
“Tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật. Trên lộ trình giác ngộ, các con hãy tự thắp đuốt lên mà đi, trong đại dương luân hồi các con là Hải đảo của chính mình, Như Lai chỉ là Bậc Đại Sư trên nguyên tắc”
Lời Phật dạy.

Thiền Định
“Tất cả các quan năng đều khép lại, sự mống khởi của tư duy cũng chẳng còn chỉ có suối nguồn tâm linh đang trôi chảy trong giòng tương tục của chánh niệm và tĩnh giác”.
Trong xác thân dài một tượng này. Cùng với trí giác và tư tưởng, ta tuyên bố: Thế gian, nguồn gốc của thế gian, sự chấm dứt thế gian và con đường đưa đến sự chấm dứt thế gian.
Rohytassa Sutha.
(Trích Nguyệt san giác ngộ số 2 tháng 5 năm 1996. Phật lịch 2540)

Khi đã phát nguyện làm Huynh Trưởng.
Phải hiểu rằng:

Phát nguyện làm Huynh Trưởng là thực hành pháp thí của chư Phật, chư Bồ Tát.
Đức Đệ nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết.
Hoà Thượng Uỷ viên Giáo dục Tăng Ni
Thích Thiện Siêu
Hoà Thượng Cố vấn GĐPT Thích Đức Tâm.
Đều dạy rằng:
“Sự góp công góp sức xây dựng chùa tháp, cúng dường Tăng Ni là quý hóa, nhưng sự cúng dường của các vị sau đây lại quý hóa hơn.
Công khai hoặc âm thầm truyền bá Đạo Pháp, Đạo Pháp mới trường tồn.
Thường xuyên đến Chùa từ trẻ đến già không quản ngại khó khăn là trực tiếp hoặc gián tiếp giúp cho đồng đạo giữ vững tín tâm.
Làm Huynh Trưởng đào tạo một thế hệ trẻ tiếp nối đạo nghiệp của Phụ Huynh. Những người này có đức tính dõng mạnh, tín tâm bất thối mới làm được”.
(Tiếp nhận ánh sáng Tuệ Đăng nhân ngày Thọ Cấp Tín,
Tại Chùa Bảo Quốc 1974)
SỨC MẠNH THẦM LẶNG

“Ai loan cô đồng thượng.
Thanh âm triệt cửu thiên”.

NGÀI CƯU MA LA THẬP
Kinh nghiệm sinh hoạt của Gia Đình Phật
TửViệt Nam quá trình mấy mươi năm, sinh hoạt vượt qua biết bao nhiêu gian khổ để tồn tại cho đến ngày nay là kinh nghiệm chuyển mình trong thầm lặng, càng xa mọi hào nhoáng của hình thức bề ngoài, càng dể trút bỏ những vuớng mắc để từng bước đi đến đích, đạt được mục tiêu, yêu cầu cụ thể từng nơi, từng lúc.
Hàng chục năm qua, biển tình tàn nhẫn đã tước đoạt mất của Gia Đình Phật Tử Việt Nam cái quyền sống về cả hai mặt củng cố tinh thần và phát triển tổ chức; nhưng đối trị bạo động chỉ có bất bạo động – Thế giới thầm lặng thật kỳ diệu! Hai con rồng tranh châu, có thể xẩy ra tình trạng trầy vi, xẻ trán, nhưng đối với con rồng nằm (tiềm long) là con rồng ẩn (ẩn long) thì không hề hấn gì và rất dũng mạnh. Cuộc đời của Ngài Đạt Ma, cái thời tả xung hữu đột “ tổ sư võ thuật Phái Thiếu Lâm” không bằng cái thời “bích diện-Thiền Sư”, suốt nhiều năm thầm lặng nhìn vào vách. Quãng đời của Ngài truyền đạo tại Trung hoa cũng có nhiều phiền muộn, nhưng cuối cùng sức mạnh thầm lặng lắng đọng từ Ngài là sức mạnh toàn thắng. Ngài Cưu Ma La Thập, tiếng nói thầm lặng từ đời Ngài với sự nghiệp phiên dịch vĩ đại, tân kỳ, mầu nhiệm; dẩu trong quá trình hóa đạo về phương đông, lắm lúc cũng gặp nhiêu trắc trở buồn phiền: Rồi dẫu
(Như con chim loan buồn thảm
Kêu trên cây Ngô đồng
Âm thanh của nó cũng thấu triệt, đến tận chín tầng trời)

“Ai loan cô đồng Thượng
Thanh âm triệt cửu thiên”
Từ bài học thầm lặng truyền thống trong Phật giáo, cấp lảnh đạo Trung ương Gia Đình Phật Tử Việt Nam đã vận dụng như thế nào, trong cơn tai biến đầy lầm than, chua xót từ mấy mươi năm nay!
Nhớ lại cố Huynh trưởng Nguyễn Khắc Từ, bấy giờ hai mắt đã mù, trong khuôn khổ một hội đồng Huynh trưởng cấp Tấn GĐPT Việt Nam, thúc đẩy anh chị em cùng nhau rèn luyện, trau dồi thân tâm theo truyền thống tĩnh lặng của Đạo Pháp và Dân Tộc, tạo ra cái thế sinh hoạt thầm lặng, tổ chức thuần nhất theo cấp, từ Hội đồng cấp Tấn ở Trung ương, mở rộng Hội đồng cấp Tín ở tỉnh và thị xã, loan dần ra cả nước. Hình thức tổ chức vừa thầm lặng vừa tự nguyện, liên đới chịu trách nhiệm trong tinh thần tuơng thân tương trợ – Hình thức chỉ đạo và điều động trong thầm lặng vừa là phương pháp cũng vừa là chiến lược và chiến thuật; cứ lặng lẽ mà đi, cứ âm thầm mà làm việc từ tỉnh huyện, thị xã đến hạ tầng cơ sở, các đơn vị gia đình. Vì sinh hoạt không chú trọng hình thức bề ngoài, không địa vị, chức vị, bản vị cá nhân, nên tinh thần hòa đồng càng rộng rãi, sự thầm lặng càng thuần nhất, thu về đầu mối chỉ đạo, chặt không đứt, rựt không rời, do đó mà dễ tồn tại Đấy là sức mạnh thầm lặng, đấy cũng là lực lượng thầm lặng mà các Ban Hưóng Dẫn GĐPT trong một số tỉnh hiện nay cần học tập và rút kinh nghiệm. Điển hình là GĐPT Thừa Thiên trong mọi khó khăn hiện tại. Nên chăng các Huynh trưởng cấp Tấn, các Huynh trưởng cấp Tín của GĐPT tỉnh nhà nên ngồi lại, cùng chung lưng đấu cật với châm ngôn hoạt động:
1 – Thầm lặng xây dựng lực lượng GĐPT.
2 – Thầm lặng nung đức trí tuệ cấp Tấn
3 – Thầm lặng triển khai sinh hoạt Hội đồng
cấp Tín!
Trong miên trưởng sinh hoạt thầm lặng “Dẫu buồn thảm như con chim loan cô quạnh Kêu trên cây Ngô đồng, âm thanh nó vẫn thấu triệt đến tận chín tầng trời.
TÂM ĐẠO.
*****

Sơn bất tại cao hữu tiên tắc danh, Thuỷ bất tại thâm hữu Long tắc linh.

Nghĩa là:
Núi không cần cao, có Tiên ở thì nổi tiếng, Đầm chẳng cần sâu, có Rồng ẩn thì linh thiêng.

Đố, Giải Câu Đối Vui.
Rằng: Một em học sinh lớp 4 đi học ngan qua Bác thợ rèn, gặp trời mưa nên xin Bác vào ẩn, thấy Bác làm việc không nghĩ tay. Em thưa Bác mỗi ngày Bác làm được bao nhiêu tiền.
Bác thợ rèn thương tâm nói với em học sinh: Cháu giải câu này Bác thưởng ngày công Bác đang làm.
Em học sinh xin vâng ạ!
Bác ra câu đối sau:
“Than trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò, cũng nên sắt”
Em học sinh, cháu xin trả lời (Đối lại)
“Vở trong cặp, mực trong cặp, viết loáy hoáy cũng
nên sách”.
(Bác nói cháu đối giỏi quá Bác thưởng em ba đồng là tiền công 1 ngày của Bác đấy)

Chuyện kể: Nguyên Phương

******

“Làm thầy thuốc sai chỉ chết một người
Làm thầy địa sai chỉ chết một gia tộc.
Nhưng: Làm văn hoá sai thì chết cả nhân loại”

******

“Việt Nam là một nước có nhiều tôn giáo, trong đó đạo Phật là chủ đạo. Văn hóa Phật giáo có từ lâu đời ở nước ta, đa số người dân theo đạo ông bà và đạo Phật. Gai đình tôi theo đạo Phật, tôi không phải là Phật tử nhưng bản thân tôi có thiện cảm với tôn giáo nầy bởi lẽ đây là tôn giáo hòa bình, bao đung độ lượng, gần gủi và hài hòa giữa con người với thiên nhiên, do đó cũng rất hiện đại”.
(Trích Văn Hóa Phật Giáo số 46. năm 2007 Phật lịch 2551)

Câu đối:

Bút thụ hữu hoa huynh đệ lạc
Thư điền vô thuế tử tôn canh
Giải:
Bút thành cây dễ trổ ra hoa, mặc sức anh em
vui thú
Sách là ruộng không cần nộp thuế, tha hồ con cháu cấy cày…

Hội Đồng Hương Tộc, Làng, đại diện 43 họ tộc và quý đạo hửu phật tử
ở trong và ngoài nước tham dự lễ cầu an đầu năm Đinh Hợi (2007)
tại chùa An Bằng

Mái Chùa Che Chở Hồn Dân Tộc
Hay Mái Chùa Việt Nam

Từ mấy ngàn năm nay, Phật giáo và Dân tộc Việt Nam gắn liền nhau. Phật giáo thịnh Dân tộc thịnh Phật giáo suy Dân tộc suy, như dòng sữa ngọt, nuôi dưỡng tinh thần dân tộc Việt Nam, như dòng suối mát thấm sâu vào lòng đất mẹ Việt Nam.
Phật giáo, ngoài kho tàng kinh điển cao thâm, ngoài giáo lý nhiệm mầu, người ta còn nghỉ đến mái Chùa cong cong, cổ kính, nép mình khiêm nhường trong thôn xóm đìu hiu.

Thấp thoáng đâu đây cảnh tượng làng
Có con đường đỏ chạy lang thang
Có hàng tre gợi hồn sông núi
Yên lặng chùa tôi ngập nắng vàng

Có những cây mai sống trọn đời
Bên hàng tùng bách mãi xanh tươi
Nhìn lên phản phất hương trầm toả
Đức phật từ bi mĩm miệng cười.
(Huyền Không nhớ Chùa)

Thật là đạo vị biết bao! Dễ thương biết bao ngôi chùa là tất cả cái gì cao qúi của dân tộc Việt. Chùa tượng trưng cho quê hương dân tộc.
Quê tôi có gió bốn mùa
Có trăng giữa thán, có chùa quanh năm
Chuông hôm gió sớm trăng rằm
Chỉ thanh đạm thế, âm thầm thế thôi
(Nguyễn Bính – mây tần)
Ngôi Chùa với mái phủ rêu xanh vẫn trơ gang cùng tế nguyệt qua tháng năm, như dầu trải qua bao cuộc thăng trầm trong lịch sử quốc gia Việt Nam vẫn trường tồn:

Chùa đứng hiền lành tự thưở xưa
Hồn dân gởi gắm tự bao giờ
Tổ tiên bồi đắp qua năm tháng
Nối tiếp không ngừng lớp tuổi thơ.
“ Huyền Không ngày vui Dân tộc”.

Vào những đêm trăng thanh sân chùa thật đẹp dân làng đi lễ chùa thật đông.

Lễ tắm Phật nhân ngày Đản Sanh của Ngài

Mỗi tối dân quê đón gió lành
Khắp chùa dào dạt ánh trăng thanh
Tiếng chuông thức tỉnh lan xa mãi
An ủi dân lành mọi mái tranh
(Huyền Không – Nhớ Chùa)
Và nhớ đi tìm đàn em bé, nô đùa dưới ánh trăng ngà, ngoài đồng ruộng hay dưới ánh trăng ngà, trong sân chùa: Nhạc phẩm – Tìm Đâu?
Ngày mười bốn, ba mươi người dân quê lo tắm gội sạch sẽ, sửa soạn hương hoa, lên Chùa lễ phật lạy sám hối. Đây là dịp để cho người ta thăm hỏi nhau, cho tình láng giềng ngày thêm thân mật.
Trầm đốt hương thơm bay ngạt ngào
Thôn trên xóm dưới dạ nao nao
Dân làng tắm gội lên chùa lễ
Mười bốn, ba mươi mỗi tối nào
(Huyền Không – Nhớ Chùa)
Ngày xuân, chùa cũng là nơi để cho các cô gái đến lạy phật, nguyện cầu cho duyên may phận đẹp. Chùa lại được điểm tô thêm tà áo đủ màu của các cô gái đang độ thanh xuân:
Đầu xuân cùng em đi
Lễ chùa này vườn nắng tung bay
Và ngàn lau vàng màu khép nép
Bãi sông bay một con bướm đẹp
(Phạm Thiên Sư – Nhạc Phẩm. Em Đi Lễ Chùa Này)

Phật tử các giới tham dự lễ Phật Đản tại chùa An Bằng

Chùa như điệu nhạc linh thiêng dẫn tâm hồn con người vào cõi thanh tịnh:
An tịnh làm sao khúc nhạc thuyền.
Lắng lòng tu niệm vượt trần duyên
Trăng trong khêu gợi hồn thanh tịnh
Gió mát ngân vang đạo diệu hiền
(Thích Thiền ấn – Nhạc Thuyền)
Đặc biệt nhất là tiếng chuông chùa, tiếng chuông như giọt nước cành dương xóa tan bao u sầu phiền não trong lòng nhân thế.
Giữa cuộc đời lầm tham đầy tham lam ích kỷ, tội lỗi xấu xa, người người chạy theo bã lợi danh, quay quần theo nếp sống phi nhân phi nghĩa, tiếng chuông chùa làm lòng người dịu xuống, tâm hồn bớt căng thẳng.

Ta hãy nghe thi sĩ Trúc Điệp mô tả tiếng chuông chùa:
Đây dư âm của hồn chuông quá khứ
Đương gào hôn thức tỉnh mộng thiên thu
Hởi sinh linh trong kiếp sống mê mù
Say đắm mãi cỏi lòng thêm đau khổ.
Chuông cảnh tỉnh vang lên lời kể lễ
Như khuyên cơn an ủi vạn linh hồn
Khắp trần gian mà vọng lại cố thôn
Cho tất cả một cái gì linh động.
(Trúc điệp – Tiếng chuông ngân)
Dân làng sống êm đềm theo nhịp chuông sáng, chiều, đời sống hiền hoà như tiếng chuông chùa:
Vì vậy làng tôi sống thái bình
Sớm khuya gần gũi tiếng chuông linh
Sắn khoai gạo bắp nuôi dân sống
Xây dựng tương lai xứ sở mình
(Huyền không – nhớ chùa)
Hoà với tiếng chuông tiếng mõ cũng ấm áp không kém, mõ và chuông hoà thành âm thanh thật đặc biệt: Thanh tịnh trong đêm thâu
Sự im lặng nhiệm mầu
Không gian vừa thoát đặng
Tiếng mõ vọng từ đâu

An tỉnh tâm hồn ta,
Vủ trụ gần như xa
Duy nhất trong tỉnh lặng
Thời gian là tiếng gà
(Thuyền Ấn – Tiếng mõ vọng từ đâu)

Oanh Vủ GĐPT Văn Nghệ cúng dường Lễ Phật Đản

Trong khung cảnh tịch mịch, tiếng chuông chùa ngân nga không làm tan mất không khí đạo vị chốn Thiền môn mà càng làm tăng thêm sự thanh thoát trong tâm hồn mọi người. Tiếng chuông chùa như lời nhắc nhở tha thiết của đấng Từ bi khuyên chúng sanh nên quay về Bến giác:
Trong làn không khí yên tĩnh, êm đềm, tiếng chuông thong thả, ngân nga, như đem mùi Thiền làm tăng vẻ đẹp của cảnh thiên nhiên. Lá cây rung động, ngọn khói thướt tha, bông lúa sột soạt, như cảm tiếng gọi của Mâu Ni muốn theo về nơi hư không tịch mịch.
(Khái Hưng – Hồn bướm mơ tiên)

Chuông chùa, vượt thời gian và không gian, bao giờ cũng là thông điệp tình thương của bậc Đại giác:
Chuông không ngại ngày đêm mưa gió thổi
Chuông không vì sông bể núi đèo ngăn
Tiếng của chuông là bản thể xa xăm
Đây vọng lại mấy nghìn năm âm hưởng
(Trúc điệp – tiếng chuông ngân)
Suối từ tuôn chảy theo tiếng chuông dập tắt lửa hận thù cuồn vọng:
Tiếng chuông ngân nga trong bóng hoàng hôn xuống, hỡi Daniel ! Thanh Lương ở bên trời xa, anh có nghe tiếng chuông Chùa vọng lại không? Anh cứ tin tưởng ở tương lai nhân loại, hãy cầu nguyện cho suối từ của Đức Phật mau dập tắt lửa cuồng bạo của mọi người
(¬Nhất Hạnh – Tình người)

Thiền sư Nhất Hạnh đã một lần về thăm chùa An Bằng
Trong lịch sử truyền giáo, phật giáo chưa từng làm đổ một giọt máu đào. Tín đồ đến chùa tin phật là vì Giáo lý cao thâm của đức Thế Tôn, vì niềm tin, vì đạo Phật tượng trưng cho Từ bi chứ không vì bạo lực hay vì danh vì lợi. Phật giáo đến đâu là thích hợp ngay với phong tục tập quán của dân tộc đó và trở thành tôn giáo của dân tộc đó. Đạo Phật chỉ có tình thương chứ không có hận thù.
Có những lúc vì kế sinh nhai, hoặc vì hoàn cảnh chiến tranh, chúng ta phải xa quê hương yêu dấu thật là đau lòng cho kẻ ly hương:
Mai này tôi bỏ quê tôi
Bỏ trăng, bỏ gió, chao ôi bỏ chùa
Đem thân đi với giang hồ
Cây đa bến củ con đò lênh đênh
(Nguyễn Bính)

Lễ Tắm Phật tại chùa An Bằng vào dịp Lễ Phật Đản
Xa quê hương, lòng ai khỏi thiết tha mong nhớ, nhưng nhớ quê là nhớ chùa:

“Chuông vắng nơi nao nhớ lạ lùng
Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung”
(Huyền không – Nhớ chùa)
Chùa của thi sĩ Trúc Điệp thật hiền hoà, thật đạo vị.
Viếng cảnh chùa xưa quá nhiêm mầu
Thiền Sư nhập định nói gì đâu
Chim kêu suối chảy hòa muôn điệu
Lá rụng thu về vẽ mấy câu
Không có trăng kia chìm đay nước
Thực hư đây nọ buột đêm thâu
Nam kha giấc mộng nay vừa tỉnh
Nước biếc non xanh đã bấy lâu.
(Trúc Điệp – Mộng Du Tăng Viên)

Huynh trưởng đang trình diễn văn nghệ mừng Chu niên lần thứ 37
Dù có việc chi hờn giận nhau, đến chùa, ai cũng thấy lòng hoan hỹ, không khí ở chùa hiền lành quá, không ai có thể ôm hờn giận trong lòng;
Cổng chùa bao giờ cũng mở rộng không sợ trộm cắp, vì chùa quá nghèo, và có lẽ dưới lòng từ bi không ai còn có thể sanh lòng tham lam khi vào chùa.
Một cảnh chùa nghèo nàn như vậy không thể ban phát vật chất lợi lộc cho ai hết, nhưng nhờ đó mà nó trở nên thân mật với mọi người. Ai muốn ghé chùa chơi cũng được, ghé vào giờ nào cũng được, cửa Tam quang gần như không bao giờ đóng. Nhà chùa không phải coi chừng kẻ trộm cắp, vì chẳng có gì đáng để trộm cắp…
(Võ Hồng – Mái chùa xưa)

Dân làng xem chùa như mái nhà thứ hai của mình, vì không khí ở chùa quen thuộc như ở nhà. Đó là tình quê, tình dân tộc:
Thuyền của toàn dân chính quốc hồn
Là ngôi chùa nhỏ ở hương thôn
Tháng năm bao bọc tình sông núi
Ngăn gió ngàn xa bớt dập dồn
(Huyền không – Đây một con thuyền)

Chùa là tình cảm dịu hiền suối tuôn chảy dòng nước Từ bi, là nơi chất chứa bao tình cảm dịu hiền, nhưng chan hòa đạo vị, nơi mà lợi danh tiền bạc phải bỏ ngoài cổng:

“Quê hương tôi miền trung, sớm hôm chuông chùa nhẹ rung, tiếng muôn đời hồn tổ tiên kiêu hùng. Ôi! Uy nghiêm bóng chùa Từ Đàm, nơi yêu thương phát nguồn đạo vàng, qua bao giông tố, chùa Từ Đàm tôi vẫn còn.
Quê hương tôi là đây, sớm hôm hương trầm nhẹ bay vấn vương lời kinh chiều nay vơi đầy. Ôi! Thân yêu bóng chùa Từ Đàm, nơi Bắc Nam nối liền một nhà tay trong tay quyết vì loài người, đời lầm thang!!….
(Nguyên Thông vì Tâm Đại nhạc phẩm Từ Đàm Quê Hương)

Đất nước Việt Nam nơi bốn ngàn năm Văn hiến, có một lịch sử đầy kiêu hùng, anh dũng. Do đó tình yêu nước bao giờ cũng rạt rào trong lòng người dân Việt. Bảo vệ chùa đồng nghĩa với bảo vệ đất nước:

Lễ Cầu An đầu năm Đinh Hợi (2007)

Muốn sống còn lâu phải hướng về
Gắn liền nếp sống với quê hương
Chung lưng bảo vệ ngôi chùa cổ
Bên mái đình xưa ruộng bốn bề.
(Huyền Không – Đây một con thuyền)

Trong cơn chinh chiến, mái chùa thân yêu sao tránh khỏi được lằn tên mũi đạn, mái chùa có thể bị sụp đổ, hoang tàn. Nhưng không vì sự tiêu điều đó mà chùa mất đi vẻ trang nghiêm cổ kính muôn đời; trái lại có khi nhìn thấy chùa bị đổ nát mà lòng dân càng yêu quê hương đất nước hơn.
Nhìn ngôi chùa mà mái trường lổ đổ, vết đạn đang nhẫn nhục cố khép mình sau bốn bức tường hàng rào cắt ngan.
Trân: Thấy rờn rợn và mũi lòng như đứng trước cảnh hăm doạ của tội ác chiến tranh, đối với niềm đạo đức hoà bình, trong khung cảnh nhuốm về suy vong ấy, bỗng dâng Trân thấy thương ngôi chùa một cách tràn ngập sâu xa, như thương một cái gì cao quí đẹp thuần tuý nhất của gia đình của quê hương chàng, hơn thế nữa của toàn nhân loại.
(Trương Tú – trở về ánh sáng).
Mái chùa hoang của thi sĩ Lê Nghị cũng lạnh lẽo, rêu phong như thắm đượm tình đạo:

Mái chùa cũ chút hồn xưa
Ngói rêu cỏ mọc trên trưa nắng hồng
Trúc đào nở đỏ từng bông
Bên khe giếng mục biệt dòng nhạn bay
Mây trời trắng tượng ngủ say
Nắng mưa dưới núi tháng ngày có không
Ngõ chùa vắng áo Sư ông
Gió tung năm trước có mong chi về”
(Lê Nghị – Chùa Hoang)
Chùa là gia đình
Chùa là quê mẹ
Chùa là quê hương
Chùa là tình thương
Chùa là quốc gia dân tộc.

Mái chùa tượng trưng cho tất cả thắm tình chất chứa trong trái tim, trong tâm hồn người dân Việt. Tình yêu quê hương gắn liền với tình yêu đạo Phật, yêu mái chùa thật đúng như lời nhà thơ Đạo Huyền Không:
“Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của Tổ ông”

Sưu Tập
19 tháng hai Kỹ mão (5/4/1999)

Lời Phật Dạy
Mọi vật ở đời không có gì ¬quí giá, thân thể rồi sẽ tan rả, chỉ có Đạo ta là quí báu, chỉ có chân lý Đạo ta là bất di bất dịch. Hãy tinh tấn lên để giải thoát…

Niên Lịch Của Phật Thích Ca
(Theo kinh điển Đại Thừa)

Phật giáng sinh nhằm ngày 08 tháng 4 trước Chúa giáng sinh 642 năm. Nếu tính năm đức Phật nhập diệt thì trước chúa giáng sinh 544 năm.
19 tuổi xuất gia nhằm ngày 08/2
05 năm tầm học các đạo
06 năm tu khổ hạnh
49 ngày nhập định dưới cội Bồ đề
30 tuổi thành đạo nhằm ngày 08 tháng 12
49 năm thuyết pháp độ đời
80 tuổi nhập niết bàn nhằm ngày 15/2.
“Im lặng, nói năng như chánh pháp”.

Sự Tồn Tại Của Tôn Giáo
“Tôn giáo trong tương lai phải là một tôn giáo của vũ trụ. Nó phải siêu việt một thượng đế cá nhân và tránh xa giáo điều thần học. Nó phải bao quát tự nhiên và tinh thần, nó phải dựa trên một ý thức tôn giáo, xuất phát từ thực nghiệm, thấy mọi sự vật và tinh thần như một thể thống nhất có ý nghĩa.
Đạo phật đáp ứng một định nghĩa tôn giáo như vậy. Và nếu có một tôn giáo nào phù hợp với nhu cầu khoa học hiện tại, thì đó là đạo phật”
Lời phát biểu của Aeiestein là nhà bác học số 1 của kỹ nguyên hạt nhân.
(Ghi lại trong dịp lễ thành đạo tháng 12 năm Canh Ngọ.)
Năm cái Triền cái là:
Năm sự ngăn che chướng ngại cho sự tu học đó là: Tham, sân, hôn, trầm trạo cử và hoài nghi. Còn gọi lại triền cái (triền là trói buộc).
Năm thừa:
Nhân thừa (tu ngủ giới)
Thiên thừa (10 thiện)
Thanh văn (4 đế)
Duyên giác (quản 12 nhân duyên)
Bồ Tát (Tu sáu Pháp Ba La Mật)

Năm thông: 5 sự thông suốt, 5 thần thông và ngoại đạo cũng có:
Thiên nhãn thông
Thiên nhĩ thông
Thần Túc Thông
Tha Tâm Thông
Túc mạng thông.

Năm minh: 5 tài nghệ tinh xảo mà Bồ tát cần học:
– Công xảo minh: Giỏi thủ công nghệ.
– Y phương minh: Giỏi về nghề thuốc y dược
– Ngữ minh (thanh minh), giỏi ngôn ngữ địa phương.
– Nhân minh: Giỏi lý luận biện bác
– Nội minh: rành tâm lý con người hay giỏi về phật pháp.
Năm Uẩn: 5 loại mắt mà Đức Phật đạt được:
– Nhục nhãn
– Thiên nhãn
– Huệ nhãn
– Pháp nhãn
– Phật nhãn
* Nhục nhãn: Thấy sự vật trước mắt như con mắt phàm phu, nhưng Phật thì không bị đánh lừa.
* Thiên nhãn: Thấy cả sự vật sau lưng, và cách vách, cách xa ngàn dặm.
* Huệ nhãn: Thấy rõ tục đế các pháp.
* Pháp nhãn: Thấy rõ pháp giới, vạn hữu thế gian, xuất thế gian.
* Phật nhãn: Thấy rõ chân đạo đệ nhất nghĩa đế.
Năm dục: 5 sự ham muốn: Tài, Sắc, Danh, Thực, Thùy là: (Tiền, sắc đẹp, tiếng tốt, ăn và ngũ) 5 yếu tố này gọi là 5 dục: “Công đức” (gu na) hay “dục tương dưỡng” vì nó nuôi lớn dục vọng đối với thế gian.

Năm đạo: 5 Cõi trái sinh “Người, Atula, Địa ngục, Ngạ quỹ, Súc sanh”.

Năm lợi tử: Là thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ và tà kiến:
Đây là năm chấp trước của tu sĩ ngoại đạo có thể trừ khử nhanh chóng, lợi khi gặp Phật khai thị:
– Thân kiến: Là chấp thân này là tôi của tôi.
– Biên kiến: là thấy một bên (có, không) tôi có thân (vật) hoặc không có thân (tâm).
– Kiến thủ: là giữ chặt cái thấy của mình
– Giới cấm thủ: là giữ giới không đưa đến giải thoát, ví dụ hành thân hoại thể để diệt tội.
– Tà kiến: Thấy sai
Năm căn:
– Tín căn
– Tấn căn
– Niệm căn
– Định căn
– Tuệ căn.

Năm lực:
– Tín lực
– Tấn lực
– Niệm lực
– Định lực
– Tuệ lực

Năm Uẩn: (nhóm)
– Sắc
– Thọ
– Tưởng
– Hành
– Thức
Trong đời sống thường nhật ” Thức ” là cái biết của sáu giác quan, và cái biết này không ai giống ai, do hoàn cảnh, do huân tập như cùng đi vào một khu rừng, mà nhà địa chất thấy khác, người tìm trầm thấy khác, người đi săn thấy khác, nghệ sĩ thấy khác v.v…
” Nhất niệm tam thiên: Ba ngàn thế giới hiện hữu trong khoảnh khắc của sự sống.
Nhưng có thể nói chắc chắn rằng cách thức sống như trên có thể hiện, nhận thấy trong tâm thức của mọi người.
Trong trường hợp Đức Thích Ca như bóng đêm bắt đầu dừng lại để nhường chỗ cho những tia sáng ban mai đầu tiên, cảnh thức Phật chứa trong vũ trụ và chứa trong bản thân Phật Thích Ca đã hoà đồng làm một khối hài hoà và bừng nở.
Theo quan niệm của tôi (Daishkuikeda) quả chánh giác của Đức Phật Thích Ca là một cảm ứng xảy ra giữa hai cảnh thức Phật.
Đáp ứng tương đồng hay hoà nhập của các cảnh thức về sự sống không chỉ xảy ra ở trường hợp Đức Thích Ca – Đức Chúa Giêsu dường như cũng trãi qua đều đó, mặt dù mức độ chính xác của Ngài có vẽ khác với Đức Thích Ca. Sự chính xác của Giêsu khiến Ngài có nhận thức về sứ mạng của mình, do khiến Ngài có nhận thức về Sứ mạng của mình và do đó. Theo quan niệm của Phật giáo là sự hoà đồng cảnh thức Bồ Tát ở ngoài vũ trụ, với cảnh thức Bồ Tát ở trong tâm trí Ngài vì Bồ Tát là cảnh thức tồn tại dưới cảnh thức Phật, Bồ Tát thề nguyện cứu vớt chúng sanh trước khi bản thân Ngài tiến vào cõi Phật”
(Sách tham khảo. Sự thật nhà xuất bản chính trị quốc gia
Hà Nội 1996 trang 96).

Phật Dạy:
Cho người tại gia 4 pháp an lạc cho hiện tại là:
-Tháo vác
-Phòng hộ của cải bằng nghề chân chính
-Làm bạn với thiện
-Sống đều hoà thăng bằng và bốn pháp tạo hạnh phúc cho tương lai đời sau là:
Lòng tin; Giới đức; Bố thí; và Trí tuệ có đủ tám đều như vậy thì giờ phút nào ở đâu chúng ta cũng xứng đáng là phật tử, không những lợi ích cho chính mình, mà còn lợi ích cho nhiều người khác nữa, cho nên Phật tử muốn hộ trì chánh pháp phải cần có trí tuệ thì việc làm mới thành tựu viên mãn….

Tổng Kết Về Đạo Đế Hay 37 Món Trợ Đạo:

Tứ Niệm Xứ
1. Quán thân bất tịnh
2. Quán tâm vô thường
3. Quán pháp vô ngã
4. Quán thọ thị khổ.

Tứ Chánh Cần
1. Tinh tấn ngăn ngừa những điều ác chưa phát sinh.
2. Tinh tấn dứt trừ những điều ác đã
phát sinh
3. Tinh tấn làm phát sinh những điều lành chưa phát sinh
4. Tinh tấn tiếp tục phát triển những điều lành đã phát sinh.

Tư Như Ý Túc
1. Dục như ý túc
2. Tinh tấn như ý túc
3. Nhất tâm như ý túc
4. Quán như ý túc.

Ngũ Căn
1. Tín căn
2. Tấn căn
3. Niệm căn
4. Định căn
5. Hụê căn.

Ngũ lực
1. Tín lực
2. Tấn lực
3. Niệm lực
4. Định lực
5. Huệ lực.

Thất Bồ Đề Phần
1. Trạch pháp
2. Tinh tấn
3. Hỹ
4. Khinh an
5. Niệm
6. Định
7. Xã.

Bát Chánh Đạo
1. Chánh kiến
2. Chánh tư duy
3. Chánh ngữ
4. Chánh nghiệp
5. Chánh mạng
6. Chánh tinh tấn
7. Chánh niệm
8. Chánh định

Mặc dù người ở quốc độ nào đi nữa, khi muốn vào nước Phật phải có một giấy thông hành giống nhau, cùng đóng một khuôn dấu giống nhau đó là:
Tam pháp ấn. Không thể tự xưng là phật tử mà không chấp nhận sự “vô thường, vô ngã, niết bàn tịnh tịch” tất cả chúng sanh đều có khả năng thành phật và thật tướng…

Tổ thường dạy:
“Kiến sắc phi can sắc, văn thanh bất thị thanh”
Nghĩa là: Thấy sắc đẹp không hệ lụy về sắc, nghe tiếng hay không dính dấp gì đến tiếng.
Hay câu:
“Ngộ thanh ngộ sắc như thạch thượng tài hoa, kiến lợi kiến danh như nhãn trung trước tiết”
Nghĩa là: Nghe tiếng thấy sắc như hoa hồng trên đá, thấy lợi thấy danh như bụi rơi trong mắt.

Nhất Thiết Chư Pháp Vô Phi Phật Pháp.
“Tất cả các pháp đều là phật pháp”
Người tu hành xem nghịch cảnh là phương tiện tốt nhất, để giúp mình chóng thành Phật quả.
Bởi thế Phật dạy: Đề Bà Đạt Đa là thiện hữu của ngài, vì nhờ có Đề Bà Đạt Đa mà ngài mau thành Phật, nếu không có những hạn người như chàng vô nảo, cô gái ngoại đạo vu oan cho Ngài, Vua A Xà Thế tìm cách hãm hại Ngài thì làm sao thấy được đức tính Đại hùng, Đại lực, Đại trừ bi của ngài.
Cũng vậy: Nếu không có nàng Kỉnh tâm thì làm sao biểu lộ được Đức tính nhẫn nhục của Ngài Quan Âm Thị Kính?.
Nếu không có sa mạc Qua bích, Núi Hy Mã Lạp Sơn, thì làm sao thử thách được ý chí cầu đạo dũng mạnh của ngài Đường Tam Tạng.
a/ Người học đạo, muốn được cứu cánh rốt ráo, phải tim tòi học hỏi, không quản ngại gian lao nguy hiểm.
b/ Những thuận duyên, thuận cảnh giúp cho chúng ta dể tu, dễ học. dễ hành, mà những nghịch, duyên nghịch cảnh lại giúp cho chúng ta thành đạo quả….
“Thọ khổ để cứu vớt chúng sanh là hạnh tu, học duy thức chúng ta nắm vững lòng tin, chúng ta thấy rõ giá trị cao siêu của nó, nên lại càng tin tưởng mạnh mẽ vào tôn giáo của chúng ta, một tôn giáo không phải dựa trên giáo điều độc đoán, mà dựa trên thực nghiệm và lấy ngay nội tâm của con người làm nền tảng cho sự tu học của chính mình”.
Xem ” gương hy sinh của Bồ Tát Thích Quảng Đức” tự thiêu ngày 11/6/1963.

*****

Vifassana Mesitation
Và sự quay về Phật giáo ở Ấn Độ
Nhờ vào sự đau khổ của con người những lời giảng dạy của Đức Phật một lần nữa được đề cao tại Ấn Độ nơi cách đây hơn 2500 năm.
“Nhà lãnh đạo tinh thần toàn cầu đã lập nên nền Phật giáo thế giới. Mặc dù kỹ nghệ thiền định Vipassana được đức Phật giảng dạy từ lâu nhưng việc hiện tại, việc áp dụng này để hóa giải các đau khổ và nội kết trong đời sống thực triễn do công lao của SN GÔENKA một cựu kỹ nghệ gia người Miến Điện hiện là một đạo sư nổi tiếng thế giới về thiền định với sứ mạng cao cả là phục hồi nền Phật giáo ở Ấn Độ”.
(Trích báo giác ngộ mới số: 20 năm thứ 21- phật lịch 2540 ngày 17/8/1996 trang 19, phật giáo quốc tế)

“Trong luật pháp của bậc thánh, những ai thấy tội là thú tội mới đúng với chánh pháp và ngăn chặn
ở tương lai

PHẬT TÂM VÔ XỨ BẤT TỪ BI

Từ người nghèo nhất, đến người giàu nhất, từ người giỏi đến người dở đức Phật không bỏ ai.
Tu hạnh xưng tán Như Lai chúng ta không những khen ngợi ông Phật đã chết, nhưng khen ngợi đức Phật pháp thân thường trú đang giáo hoá chúng ta, đang chỉ đạo hàng tỷ người trên thế giới…
Ai là người có tư cách khen ngợi Đức Như Lai, vấn đề tư cách người khen ngợi mới là quan trọng. Ví dụ: Trên bước đường tu chúng ta được những người tài cao đức trọng khen ngợi chúng ta mừng, vì đánh giá phê phán của những vị này mới có giá trị. Ngược lại người ác xấu chê chúng ta càng mừng, mà họ khen chúng ta càng sợ.
Đạo Phật tồn tại và phát triển lâu dài mảnh liệt nhờ những thuyết minh trong sáng để mọi người hiểu được và vận dụng được trong cuộc sống của mình tiến bước trên đường thánh thiện.
(trích lược giải kinh pháp hoa)

Nương Vào Phổ Hiền Lực Để Thấy Phật.
Và khen Phật thì ở trần gian này có bao nhiêu chúng sanh có bao nhiêu Phật, Phật này là Phật tâm không thể xoá được.
Còn Phật đá ở Ấn Độ thì Hồi giáo đập bể như không, Phật tâm có hoạt tính vô cùng, rọi sáng pháp giới, truyền thẳng đến pháp giới, chúng sanh gọi là “Phật Tâm Vô Xứ Bất Từ Bi”.
Một mẫu chuyện Đề Bà Đạt Đa lăn đá hại Phật thả voi say giết Phật, cầm gươm chém Phật, Ma Đăng Già mang bụng chữa đồ thừa Phật “Rốt cuộc sinh ra loài rắn độc”. Đạt Đa luôn luôn đóng vai ác để đức Phật chóng thành Phật bởi vì ngài đã từ bi nhẫn nhục đã đành, phát khởi tâm Phật lại nhanh chóng.
Đem lòng từ bi thương muôn loài không bỏ một ai, ví dụ: như chúng ta ở vào thời nào cũng vậy, ở đâu cũng vậy, dù người dân hay anh em ruột thịt, họ hàng, làng xóm, láng giềng, có lúc cũng sân si tật đố, cải nhau, nhiết mắng nhau, nhưng ai nhẫn nhục, nhẫn nại được, kềm hãm được, đem tâm học Phật ra áp dụng được, nhịn nhục được, chịu sự chê bai được, im lặng được và sau khi yên ổn rồi. Mình lại tốt hẳn với người mà mình tức tưởi, mình giận dữ và nên biết rằng nhờ những người này mà mình thể hiện tâm đến chùa học phật, vì tâm đến chùa học phật khi chúng ta nghỉ đến và phát tâm thì dù súng nổ vang rền bên tai, chưởi bới xô xác lăng mạ mình, “thì chính họ đã lăng mạ họ chứ không phải mình” vì khi đó mình cứ nghĩ đến tâm đến chùa học Phật mà thôi…
Đó là những lời vàng ngọc mà đức Phật dạy chúng ta phải hành trì để thăng tiến trên bước đường tu hành mong cầu giải thoát, bởi vì khi họ sân hận, tật đố, giận dữ mà mình nói lại, mình tranh cải là mình cũng như họ luôn.
Ví như Đề Bà Đạt Đa làm như vậy (như trên) mà đức Phật chống trả lại thì tâm từ của Phật làm gì để lại cho nhân loại hôm nay phải tôn kính tin theo, làm gì có tâm Phật để chúng ta tu hành.
Hạnh phúc thay Đức phật ra đời
Hạnh phúc thay được nghe dịu pháp
Hạnh phúc thay tứ chúng đồng tu

Bốn Địa Điểm Chiêm Bái
Trong bốn địa điểm quan trọng liên hệ đến bốn sự kiện vĩ đại gây chấn động cả vũ trụ Chư thiên và loài người “Tứ động tâm”, nơi đức Phật Đản sanh; nơi đức Phật thành đạo; nơi đức Phật chuyển pháp luân; nơi đức Phật nhập niết bàn.
Phật nói tới bốn địa điễm có liên hệ đến đức Phật mà phật tử có thể đến chiêm bái đó là:
1- Nơi đức Phật giáng sinh ở vườn LumBiNi (Lum tỳ Ni) tại vùng biên giới Ấn Độ -NePan.
2 – Nơi đức phật thành đạo ở Bothigaya (Bồ đề đạo tràng).
3 – Nơi Đức phật chuyển pháp luân (Saranatho), tức vườn Nai gần (Benares)
4 – Nơi Đức phật nhập niết bàn ở Kusinara nay “là Kasia cách 32 dặm nhà ga Gorakhuyne”.
Đức Phật dạy rằng: ” Những người qua đời trong quá trình đi chiêm bái, với lòng có đức tin thì sẽ được sanh lên cỏi trời”.

Duy Tuệ Thị Nghiệp

“Cố nâng đời sống tinh thần theo lời phật dạy, tinh luyện tinh thần trong hiểu biết đặc thù của đức Phật để điều vật theo mô hình điều mà không điều, không qua lời nói cử chỉ, hành động, mỗi ngày sức mạnh tinh thần phát huy rộng lớn thêm, đến một lúc nào đó đắc đạo. Chúng ta sử dụng trọn vẹn Như Lai lực của chính mình đồng với đức Phật vậy”.

Năm Phần Hương

Đức phật dạy chỉ có 5 phần hương:
– Giới hương
– Định hương
– Huệ hương
– Giải thoát hương
– Giải thoát tri kiến hương.
Năm phần hương này mới có khả năng bay ngược gió. Bồ tát không dùng hương nào khác ngoài 5 phần hương này để dâng cúng Phật.
Đức Phật Từng Răn Dạy:
Trạng kinh tỳ ni là mạng sống của tăng già, nếu trạng tỳ ni còn thì phật pháp còn, trạng tỳ ni diệt thì phật pháp sẽ hoại diệt.

Đời Huynh Trưởng
Nói rất ít – Làm thật nhiều – Làm những gì cho đàn em thấy được mà noi gương mình.
Phát triển và đi đúng mục đích, Tôn chỉ của GĐPT, uốn nắn Huynh trưởng và đoàn sinh lệch lạc, sinh hoạt tu học theo đúng Nội quy và Quy chế Huynh trưởng, thăng tiến tổ chức ngày càng vững mạnh, không tranh chấp địa vị cấp bậc trong GĐPT. Song cấp bậc, chức vụ trong tổ chức này phải được tôn kính. Đó là những điều cần thiết của người Huynh trưởng điều khiển Huynh trưởng và đoàn viên GĐPT.
Huynh trưởng là đầu não của tổ chức, gia đình còn, mất, hưng thịnh là do ở Huynh trưởng, phải ý thức được sứ mệnh của mình.
1-Sứ mệnh của người huynh trưởng:
Nhìn lại tình trạng của thanh thiếu nhi, văn minh vật chất thao túng kéo luôn một lớp tuổi trẻ vào vòng sa đoạ, trước hết huynh trưởng phải đau xót đến cảnh thương tâm ấy sự đau xót bắt buộc Huynh trưởng phải hành động, do đó sứ mệnh của Huynh trưởng GĐPT là: “Tham hội, lo cho con em của hội”. Lo cho lớp tuổi trẻ, phải can đãm nhận lấy sứ mệnh đó là điều tối cần.
2-Hướng đi của huynh trưởng:
Biết sứ mệnh chưa đủ “phải biết hướng đi của tổ chức”. Có biết hướng đi Huynh trưởng mới mạnh dạn, mới tin tưởng vào việc làm của mình, bầu nhiệt huyết mới sôi nóng để xông pha vào công việc. Muốn nhận được hướng đi, phải nhận xét hoàn cảnh chung quanh, thực trạng của xã hội, tinh thần của dân tộc, những đòi hỏi tuổi trẻ phải có một hướng đi phù hợp, hướng đi của Huynh trưởng phải được xây đắp trên các căn bản chính.
– Thực hiện giáo pháp Đức phật
– Hợp với dân tộc tính
– Thoả mãn nhu cầu tuổi trẻ
a/ Là phật tử, đời sống Huynh trưởng phải là hình ảnh trung thành của đệ tử phật, phải học hỏi giáo lý, áp dụng phương pháp giải thoát vào đời mình và để rồi truyền vào đời các đoàn sinh là đàn em của mình.
b/ Hợp với dân tộc để khỏi phản bội quê hương xứ sở, để hoà đồng với quần chúng, để sống còn với đất nước.
c/ Thỏa mãn nhu cầu của tuổi trẻ, mới thu hút được đoàn sinh.
Nhu cầu tuổi trẻ là động, dùng sự bắt chước để hướng dẫn các em nhận rõ hướng đi của mình rồi, mọi sự sinh hoạt của Huynh trưởng mới hướng về chính đích.
3 – Để thành công:
Điều kiện trước tiên là phải làm gương mẫu “Dỉ thân tác chúng” giáo dục bằng chính hành động của mình, mới tác dụng sâu đậm vào các em. Thứ nữa phải cầu tiến, các em tiến, Huynh trưởng dừng lại tức là đi thụt lùi.
Thứ ba là cần phải kiên tâm, nhẫn nại, từ hoà, biết thưởng mà cũng phải biết phạt.
Thứ tư: Dũng mạnh để kích động các em, gặp khó Huynh trưởng phải lăn vào trước, được vui cho các em hưởng trước, làm sao cho các em thấy được Huynh trưởng hoạt động cho trẻ, vì trẻ.
Kết luận:
“Cứu được một người lớn chỉ cứu được một người, cứu được một trẻ nhỏ là cứu được một bản tính nhân”.
Phải lấy kết quả để gây nhân, và cũng phải nhìn rõ “quả” để tạo “nhân”, thấy được như thế huynh trưởng quả thật đã làm một việc hết sức cao cả, tôn quý đối với đạo pháp, đối với dân tộc…

Thế Nào Là Đáp Đúng Pháp
“Vì đấng Vô Thượng Chánh Đẳng Giác ở đời quá khứ đồng với ta, đấng Vô Thượng Chánh Đẳng Giác ở thời vị lai đồng với ta. Nhưng nếu bảo ở thời hiện tại mà có hai vị phật xuất hiện ở thế gian cùng một lúc thì không thể có sự kiện đó”.
(Trích trường A Hàn trang 626, kinh tự hoan Hỹ).

Định lý duyên khởi

Định lý duyên khởi là một định lý cơ bản của phật giáo do đức Phật đã giác ngộ và chỉ lại cho chúng ta, với một cái quy luật, thử hửu cố bỉ hửu, thử vô cố bỉ vô, thử sanh cố bỉ sanh, thử diệt cố bỉ diệt. Trong kinh pháp hoa có một câu dạy rất đặc biệt câu đó là:
“Các đức Phật chỉ vì một việc trọng đại duy nhất mà ra đời đó là: Vì khai thị cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật”.

Trích Kinh Thiện Sinh

Đối với Nam Nữ cư sĩ, những người có các bổn phận đối với tự thân, gia đình, đoàn thể, tôn giáo và xứ sở, đức Phật đã rất thực tế giảng dạy qua nhiều bước thực tập. Bước căn bản thứ nhất, theo kinh “thiện sinh” (Si gà la ka, Digha nikaya, No 31) là từ bỏ bốn tà nghiệp:
Sát sanh, Trộm cắp, Tà hạnh và Nói dối; không tiêu phí tài sản qua sáu ngõ: Uống rượu mạnh, lang thang trên đường phố phi thời (ngoài giờ sinh hoạt của dân chúng); tham dự các tổ chức đình đám, đánh bạc, làm bạn với kẻ xấu, và nhàn cư.
Ngoài các điều vừa nêu, người cư sĩ cần sống giữ gìn tốt sáu mối liên hệ gia đình và xã hội: Liên hệ giữa bố mẹ và con cái, giữa chồng và vợ, giữa thầy và trò, giữa các bà con thân nhân láng giềng, giữa tu sĩ và cư sĩ, giữa chủ và thợ. Các mối liên hệ ấy xây dựng trên cơ sở tình người, sự chung thủy, sự biết ơn, chấp nhận nhau, sự cảm thông và sự tương kính, chúng liên hệ mật thiết với hạnh phúc và cá nhân trong hiện tại./.

Xuân Chốn Thiền Gia
Mãn đời phiêu bạt tìm mùa xuân đích thực. Hoá ra mùa xuân ấy chỉ có trong cảnh giới thiền của Phật giáo, một mùa xuân phi không gian, phi thời gian. Đó là mùa xuân nằm ngoài cuộc thạnh suy phù phiếm của Thế nhân như bài kệ dưới đây của Thiền sư vạn Hạnh:
Thân như điệu ảnh hửu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hưu khô
Nhận vận thịnh suy vô bố uý
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
Dịch là:
Thân như bóng chớp có rồi không
Cây cỏ xuân tươi tốt thu qua đượm nồng
Mặc cuộc thịnh suy không sợ hãi
Thịnh suy như cỏ hạt sương đông.
Đợi gì hoa nở mới là xuân; giàu mới có mùa xuân, Bậc Đại Nhân thung dung giủ áo xinh xoan, bước ra ngoài càng khôn mà hưởng xuân…
(Trích xuân trong cửa thiền)

Nước mắt của Bồ Tát

Nước mắt của Bồ Tát chỉ chảy vào ba lúc:

Một: Lúc thấy người thực hành lẽ phải, vì kính mến nên chảy nước mắt.
Hai: Lúc thấy người khổ sở, vô phước, vì thương mến nên chảy nước mắt.
Ba: Lúc tự mình đại hạnh bố thí, thì thương mừng tràn ngập nên chảy nước mắt.
Nước mắt ấy của Bồ Tát đã đổ bằng bốn bể đại dương. Người đời cha chết, mẹ chết, khóc không bằng Bồ Tát, thấy người nghèo khổ mà không có của cho họ, bởi vậy Bồ Tát thực hành đại định cứu vớt chúng sanh.
Dũng xuất vô tâm vật dụng tài sản, tất cả người xin tuỳ ý tự tại:
“Thấy người khác bố thí cúng dường và nhận được của. Mà mình phát tâm hoan hỷ thì hưởng phước đức giống người bố thí vậy”.
(Trích luận Đại Trượng Phu)

Tránh gây phiền não, cắt đức phiền não

Bị phiền não chướng ngại thì không lập chí cầu giải thoát, bị nghiệp báo chướng ngại thì không lập chí cầu trí giác.
Đi đường nào tà? Đi đường nào chánh? Tham ái biến tướng, lấy 4 không định làm giải thoát là đường tà, chí nguyện cầu trí giác, thực hành tám chánh đạo là đường chánh. Muốn giàu có thì thực hành bố thí. Muốn vui thì thực hành từ bi. Nhưng muốn cứu vớt an vui tất cả chúng sanh thì phải kiến lập chí nguyện mong cầu trí giác vô thượng.
Không thực hành diệu hạnh thì có 3 điều khó:
1. Khó gần các vị thiện tri thức
2. Khó thực hành từ bi
3. Khó ham trí giác Phật đà
Mà muốn thực hành diệu hạnh thì phải lập chí nguyện, mong cầu trí giác vô thượng, lập chí nguyện mong cầu trí giác vô thượng rồi; là được nhất thế trí vậy.
(Trích luận Đại Trượng Phu).

PHẢI DIỆT TRỪ VÔ MINH

Vô minh hiện hành, đó là ái, thủ. Vô minh hiện hành có diệt được, thì tự nhiên vô minh tiềm năng là cái vô minh duyên hành đó sẽ được diệt trừ. Cho nên trong bước đường tu hành hằng ngày của chúng ta. Muốn diệt trừ vô minh, cái đích thực và trực tiếp là diệt trừ ái, thủ, thì không có hửu, không có hửu là không có sanh, không có lão tử, không bị kết nghiệp về sau nữa, khi đó là được giải thoát.

Tinh Thần Vô Ngã
Ở trong đời này, người có sức mạnh nhất không phải là người có nhiều súng đạn. Người có sức mạnh nhất không phải người có nhiều nhà tù. Người có sức mạnh nhất không phải là người có nhiều võ thuật.
Mà người có sức mạnh nhất trong đời, chính là người dám nhận cái lỗi của mình và dám lắng nghe người khác chỉ lỗi của mình.
Người nào có khả năng nhận lỗi của mình và lắng nghe người khác chỉ lỗi mình, người đó là người có sức mạnh phi thường, sức mạnh đó được trang bị từ tinh thần vô ngã.
Đức Phật Vị Giáo Chủ Đứng Toàn Năng
Trong lịch sử tôn giáo, chưa có một tôn giáo nào thọ ký cho người bài xích mình, chống bán mình làm Phật bao giờ, chỉ có đạo Phật mà thôi. Đức Phật ngài đã thọ ký cho Đề Bà Đạt Đa làm Phật.
Và trong tất cả mọi tôn giáo, chưa có tôn giáo nào dám lao mình vào nơi địa ngục, chỉ có đạo Phật mà thôi, tôn giáo nào cũng sợ địa ngục hết, mà chỉ có đạo Phật không sợ địa ngục. Bồ Tát Địa Tạng nguyện rằng “Địa ngục vị không thệ bất thành Phật, chúng sanh độ tận phương chứng Bồ đề”
Ngài nguyện rằng nếu cõi địa ngục còn có tội nhân, thì Ngài chưa bao giờ thành Phật.
Đó là cái Dũng của đạo Phật mà hàng đệ tử xuất gia, tại gia phải làm cho được, nuôi dưỡng cho được để chúng ta xứng đáng làm đệ tử của Phật….
Tam Giới Hay Ba Cõi Là:

Dục Giới – Sắc Giới – Vô Sắc Giới.
Có 12 loại chúng sanh ở Dục giới. 12 loại ấy là gì ?
1. Địa ngục, 2. Súc sanh, 3. Ngạ quỷ, 4. Nhân, 5. A tu luân, 6. Tứ thiên vương, 7. Đao lợi thiên, 8. Diêm ma vương, 9. Đâu xuất thiên, 10. Hoá tự tại thiên, 11. Tha hóa tự tại thiên, 12. Ma thiên.
Có 22 loại chúng sanh ở sắc giới, 22 loại ấy
là gì ?
1- Phạm Thân Thiên
2- Phạm Phụ Thiên
3- Phạm Chúng Thiên
4- Đại Phạm Thiên
5- Quang Thiên
6- Thiểu Quang Thiên
7- Vô Lượng Quang Thiên
8- Quang Âm Thiên
9- Tịnh Thiên
10- Thiểu Tịnh Thiên
11- Vô Lượng Tịnh Thiên
12- Biến Tịnh Thiên
13- Nghiêm sức thiên.
14- Tiểu Nghiêm Sức Thiên.
15- Vô Lượng Nghiêm Sức Thiên.
16- Nghiêm Thắng Quả Thật Thiên.
17- Vô Tưởng Thiên.
18- Vô Phiền Thiên.
19- Vô Nhiệt Thiên.
20- Thiện Kiến Thiên.
21- Đại Thiện Kiến Thiên.
22- ACaNiTra Thiên.

Có bốn loại chúng sanh ở cỏi vô sắc giới, bốn loại ấy là gì ?
1 – Không trí thiên
2 – Thức trí thiên
3 – Vô sở trí thiên
4 – Hửu tưởng vô tưởng trí thiên.

Có bốn Đại thiên thần, bốn vị ấy là:
1 – Địa thần
2 – Thuỷ Thần
3 – Phong thần
4 – Hoả thần.
(Trích kinh trường A Hàm. Tập 2 trang 419)
Có ba trung kiếp. những gì là ba:
1 – Kiếp đao binh
2 – Kiếp mễ cốc khang hiếm
3 – Kiếp bệnh dịch
Ở thế gian này con người vốn sống bốn vạn tuổi (40.000), sau đó giảm lần 20.000 (hai vạn tuổi), 10.000 (một vạn tuổi) 1000 (một ngàn tuổi), 500 (năm trăm tuổi), 300 (ba trăm tuổi), 200 (hai trăm tuổi), như hôm nay con người sống 100 (một trăm tuổi), tăng ít giảm nhiều
Về sau tuổi thọ giảm dần chỉ còn 10 (mười tuổi) là dừng lại, khi đó người nữ sinh 5 tháng đã lấy chồng.
(Trích Kinh Trường A Hàm – tập 2 trang 477)

Chữ Tiết, Nghĩa
Tiết là khí tiết của con người, phải noi theo chánh đạo mà lập thân hành sự. Gái phải nêu cao phẩm chất con người tiết trinh mẫu mực. Trai phải lo cho có khí chí tinh thần vượt bậc cầu tiến, giữ cho khỏi hổ tiếng râu mày, tư tưởng phải dứt khoát, lập trường phải rõ ràng, đi đứng nói năng hành động phải chánh đạo quang minh. Gặp chuyện biến không thay lòng, đổi dạ, thủy chung như nhất. Ấy là cái tiết của người công tử, của chàng trai thế hệ nghĩa là hòa mình vào nhân quần, xã hội thấy việc trái phải can, việc chính phải giúp, không cầu danh vụ lợi, không cầu đắt thất thành bại, dù phải thiệt thòi, phải hy sinh đến cùng để đạt mục đích, sống phải có lý tưởng, đã chọn con đường chánh nghĩa thì sống chết với chánh nghĩa đó mới xứng đáng là người có nghĩa…
Người quân tử thấy việc nghĩa phải làm. Kiến nghĩa bất vi.
“Kiến nghĩa bất vi, vô dũng giã, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng”
Dịch là
Làm việc nghĩa chớ tính lợi hại.
Luận anh hùng chớ kể hơn thua.
Gương xưa tích cũ, nếu nói về tình nghĩa anh em ở với nhau có nghĩa thủy chung như nhất thì có “Đoàn viên kết nghĩa giữa Lưu, Quan, Trương là tấm gương sáng hơn hết”.

Hay là Bàn Đức muốn trọn nghĩa với Tào Tháo, sai quân khiên quan tài ra mặt trận quyết tự chiến với Quan Công. Giữ nghĩa được như thế mới trọn tiết nghĩa với người mà mình đã thụ ơn, thụ nghĩa.

Chữ Hiếu, Trung

Hiếu: Cũng cảm hóa được lòng người như: ” Tích Mạnh Mẫu, trạch lân sử, tử bất học, đoạn cơ trử “.
Thầy Mạnh Tử lúc nhỏ ham chơi không chịu học, bà mẹ một hôm cắt đứt cái khung cửi mà bảo con: ” Con còn nhỏ không lo học thì lớn lên không nên người, giống như bức dệt này đang dệt nửa chừng rồi bỏ vậy, mẹ chịu cực khổ nuôi con ăn học mà con không chăm chỉ lo học thì từ nay mẹ cũng dẹp nghề luôn không dệt nữa”.
Thầy Mạnh Tử ăn năn không bỏ đi chơi nữa cố gắng lo học tập. Tuy bà mẹ có lời dạy hay, nhưng người con có hiếu với mẹ mới làm được như vậy..
“Điều thiện nào cao hơn, không gì cao hơn hiếu
Việc ác nào cũng cực, không gì bằng bất hiếu”.
Trung:
“Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung. Phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu”.
Dịch là:
“Vua sử bầy tôi chết, bầy tôi không chết là bất trung. Cha sử con chết, con không chết là bất hiếu”
Trung hiếu thời xưa là theo chế độ phong kiến, kiểu này cũng không đúng trái với nền luân lý đạo đức.
Ví dụ: Một ông Vua hại nước buôn dân, tàn nhẫn độc ác, Trung thần khuyên can không nghe, rồi Vua cho vị ấy bất trung đem ra chịu chết hay sao?
Lại nữa một người cha ham mê tửu sắc, bỏ rơi vợ con, hạnh phúc gia đình tan nát. Người con khuyên cha không nên làm như vậy, người cha tức giận con bảo con chết, nhưng người con không chịu chết thì người con bất hiếu hay sao?
(Tôi) Thần can Vua như vậy chính là trung.
(Tử) Con can cha như vậy chính là Hiếu

Trích kinh Na Tiên Tỳ Kheo
Sau cuộc đối thoại công minh giữa Na Tiên Tỳ Kheo cùng Vua DiLanĐà. Vua DiLanĐà phải chấp nhận ngay thái độ đối thoại của một hiền giả như Tỳ Kheo Na Tiên vừa trình bày, Vua vừa nêu lên câu hỏi:
Bạch Đại đức vậy Trẫm xin hỏi một câu?
– Đại Vương hỏi đi?
– Trẩm đã hỏi rồi
– Bần đạo đã đáp rồi
– Đại đức đáp thế nào
– Đại Vương hỏi thế nào
– Trẩm không hỏi gì hết
– Bần đạo không đáp gì hết.
Không hỏi mà hỏi, hỏi mà không hỏi, đáp mà không đáp. Đó là cách hỏi đáp tranh biện không bị điều động bởi ngã chấp hẹp hòi của người muốn tranh luận, để cầu đạt đến chân lý vô ngôn. Tranh luận như vậy há không phải là điều lợi ích lắm ư…

Ngưỡng Vọng Về Giác Linh Bổn Sư
Thượng Chơn Hạ Thức Húy Pháp Danh Tâm Thành.
Xin chứng giám lòng thành của con là Nguyên phương Văn Tiến Nhị.
(Trích lại lễ tang của bổn sư)
Câu đối này của thầy Thiện Tấn giám tự Tổ Đình Huyền Tôn Huế, viếng lễ tang cố Thượng Tọa Thích Chơn Thức giám tự Tổ Đình Tường Vân, Nguyên Đặc uỷ Thanh niên Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Thừa Thiên Huế Năm 1973. Tôn sư đồng pháp lữ với Bổn sư hồi đó. Nội dung lời cảm đề.

Vẫn biết tử ly là thế đó.
Nhưng:
Hạnh nguyện còn dở dang
Tường Vân còn vướng lệ
Đám tang cố chưa nguôi niềm kính tiếc
Bất thần Sài gòn anh đi không một lời
giả biệt
Môn đồ cần hướng dẫn
Giáo hội cần có anh.
Vết đau thương vẫn âm ỉ chưa lành
Bàng hoàng xứ Huế tôi buồn bi thiếc khóc phân ly.
Ngưỡng vọng giác linh anh chứng giám.
(Thuyền tôn tự pháp đệ Thiện Tấn cẩn bái-1973).

Cảm lòng.
Tặng bác Văn Công Kỉnh, người mà cách đây 50 năm tôi tặng bức hình Quan Âm Bồ Tát, này.

Mấy mươi năm, giờ đây gặp lại,
Một tâm hồn, kỉnh Phật chuộng Tăng.
Đã hết lòng , tin Phật Quan Âm,
Ngày ấy, tôi tặng hình đức Phật.
Dặm đường đời, lắm phen cơ cực,
Bác một lòng, niệm Phật Quan Âm.
Bức hình ấy, vật bất ly thân,
Bác gìn giữ, đến nay nguyên vẹn.
Đưa tôi xem, chuyện thật bất ngờ!.
Bác kể rằng, gặp nạn đều qua,
Và may mắn, thường khi xảy đến.
Với một lòng, tin Phật nhất tâm,
Việc làm, đều nghĩ nhân với quả.
Hôm nay đây, Phật đài rạng tỏa!,
Ngày khánh thành, hội ngộ bốn phương.
Tôi cảm lòng, đề thơ kính tặng,
Một tâm hồn , quí trọng trong tôi.
Hạnh kiêm nhường, Bồ Tát Bất Khinh,
Đi đâu cũng, chấp tay bái Phật,
Tôi cầu mong, bác tròn hạnh nguyện,
Trên đường tu, viên mãn đạo thành…
Nam Mô Linh cảm Quan Thế Âm Bồ Tát, Ma Ha Tát
Nhân lễ Khánh tạ, tượng đài Quan Thế Âm Bồ Tát Mùa hạ Tân Mão – 2011.

Nguyên Ngộ Đào Hoài.

Giếng Tau cách Am Bà Chúa 100 mét

Giếng Bộn ở phường Dưới làng An Bằng

Giếng Chùa cạnh ngôi chùa làng xưa đã phục chế lại.
Nhưng bộ móng cũ vẫn còn giữ nguyên.

Giếng cổ
An Bằng có giếng cổ xưa,
Giếng Tau, giếng Bộn, giếng Chùa là ba.
Khi chưa có giếng ai đào,
Nước từ ba giếng, dùng cho cả làng.
Nước giếng ngon ngọt, thơm lừng,
Mạch từ lòng đất tuông trào vọt lên.
Có khi ba bốn lổ liền,
Trông rất ngoạn mục, linh thiêng hiển bày.
Nghĩ về quá khứ lạ thay!
Chỉ có ba giếng, mà nuôi cả làng.
Ngày nay uống nước nhớ nguồn,
Đi đâu cũng nhớ, An Bường giếng xưa

4/2011 Nguyên ngộ Đào Hoài.

Ghi chú: Giếng Chùa nằm cạnh chùa làng.
(Ngôi chùa xưa, nay đã khôi phục, nhưng bộ móng củ vẫn còn)
Giếng Tau: ở Lầm Bùi, gần giếng Chùa.
Giếng Bộn: nằm ở cuối làng, gần Am bà Thủy ( Am Phật Bà) Am Bà Thủy hiện không còn, làng đã xây lại ở vị trí khác. Hiện nay ngôi tượng đài Quan Thế Âm, dựng đúng trên khu đất Am Bà Thủy xưa của làng.
******

Lối Về
Qua Cầu đi đến tượng đài.
Nhìn sang giếng Bộn nhớ Người năm xưa.
Nơi đây đấu tích truyền thừa,
Ngày nay tu sửa, quê hương nhiệm mầu.
Cây đa giếng nước con thuyền,
Người đi người ở, vấn vương cõi lòng

Nguyên Nhật Hoàng Tân

XIN GHI NHẬN QUÍ BÁC, QUÍ ANH CHI EM ĐÃ HỖ TRỢ
IN TẬP SÁCH NẦY

– Bác Trương Công Châu: 10 quyển
– Anh chị Đặng Tuân, Dị 5quyển
– Anh chị Lê Tây, Xoan 10quyển
– Anh chị Nguyễn Tôn, Hà 15 quyển
– Anh chị Nguyễn Tông ,Vân 20 quyển
– Anh chị Trương Viết Tha, Nhiểu 20 quyển
– Anh chị Nguyễn Lương, Xuê 5 quyển
– Anh chị Phạm Dũng, Chanh 25 quyển
– Ban Bảo trợ GĐPT An Bằng 20 quyển
– Đoàn Thanh Nữ GĐPT/AB 20 quyển
– Em Văn Thị Hiếu, Dũng 20 quyển
– Anh chị Phạm Úy, Nữ 15 quyển
– Anh chị Văn Hồng, Gái 15 quyển
– Anh chị Lê Duyệt, Hà 5 quyển
– Anh chị Hồ Đẩu, Phòng 15 quyển
– Anh chị Nguyễn Cách Khỏe 10 quyển
– Anh chị Văn Công Kỉnh, Phòng 2o quyển
– Em Hồ Tuấn, Huệ 10 quyển

GHI CHÚ : HỆ THỐNG CÁC PHẦN, BÀI THEO MỤC LỤC ĐÃ ĐIỀU CHỈNH
Ở SOẠN TẬP NẦY

MỤC LỤC
Trang

1 * Lời Giới Thiệu 7
2 * Lời Tựa 11
3 * Phần Một 17
4 * Tổng Thể Làng An Bằng 19
5 * Sơ Lượt Sự Hình Thành Làng An Bằng
( Văn Đình Xuân ) 27
6 * Sự Phát Triển Phật Giáo Làng An Bằng 45
7 * 1- Giai Đoạn Từ Năm 1740 – 1742-1955 54
8 * 2- Giai Đoạn Từ Năm 1956 – 1962 57
9 * 3 – Giai Đoạn Từ Năm 1963 – 1968 60
10 * 4 – Giai Đoạn Từ Năm 1969 – 1974 62
11 * 5 – Giai Đoạn Từ Năm 1975 – 1995 69
12 * 6 – Giai Đoạn Từ Năm 1996 – 2005 75
13 * Điếu Văn Của Khuôn Và GĐPT An Bằng 79
14 * Hôi Phật Tử An Bằng Hải Ngoại 84
15 * Phần Hai 87
16 * GĐPT với Khuôn Hội Phật Giáo An Bằng 89
17 * Sơ lượt Lịch Sử GĐPT Việt Nam 89
18 * Tổ Chức GĐPT Với Khuôn Hội
Phật Giáo An Bằng 97
19 * Lịch Sử GĐPT An Bằng 98
20 * Đào Tạo Huynh trưởng
GĐPT An Bằng 1957-2011. 103
21 * Đề Tài Hội Thảo 121
22 * Chương Trình Huấn Luyện Trong GĐPT 141
23 * Lễ Chu Niên Lần Thứ 24 GĐPT An Bằng
( Diễn văn) 151
24 * Diễn Từ Lễ Khánh Thành Chùa An Bằng 160
25 * Lễ Vu Lan Tại Khuôn Hội
Phật Giáo An Bằng 174
26 * Ngôi Tượng Đài Quan Thế Âm Bồ Tát
Tại Bãi Biển Làng An Bằng 182
27 * Gởi Bạn Một Niêm Tin( Nguyên Sơn Văn Hưng ) 192
28 * Hình Ảnh Lễ An Vị Tượng Đài
Quan Thế Âm Bồ Tát Tại Làng An Bằng 197
29 * Những Dòng Tâm Tư
Gởi Quí Bác Gia Trưởng 203
30 * Diễn Từ Lễ Khánh Thành Tượng Đài
Quan Thế Âm Bồ Tát Tại Chùa An Bằng 210
31 * Ngôi Chùa Mới 223
32 * Ý Nghĩa Ngày Hiệp Kỵ Của Khuôn Hội
An Bằng 234
33 * Nội Quy Và Điều Lệ Của K H P G /An Bằng 237
34 * Tư Liệu Liên Quan Đến Tài Sản Bất Động Sản
Của Khuôn Hội Phật Giáo An Bằng 248
35 * Lời Tâm Sự 274
36 * Niềm Tin và Hy vọng 299

MỤC LỤC PHẦN PHỤ LỤC

37 * Những Câu Kinh Pháp Cú, Câu Đối Văn Xuôi 305
38 * Câu Đối Thiền Môn(HòaThượng T hích Thiện Siêu) 329
39 * Lưu Phương Đạo Tình ( Thơ Tuệ Minh ) 356
40 * Tiễn Bạn ( Thơ Bác Trương Công Châu ) 356
41 * Nhớ Vinh An (Thơ Văn Nhân Đạo ) 358
42 * Nhớ Mẹ ( Thơ Văn Thị Lệ Hiếu ) 359
43 * Sáng Trong Cõi Lòng (Thơ Nguyên ngộ Đào Hoài ) 360
44 * Hương Từ Bi ( Thơ Tuệ Minh ) 361
45 * Mái Âm Nhà Lam 362
46 * Sắc Không ( Thơ Nguyên Ngộ Đào Hoài ) 363
47 * Mẹ vào Đời ( Thơ Tuệ Minh ) 363
48 * Có và Không ( Thơ Nguyên Ngộ Đào Hoài ) 364
49 * Khắc Tên Ai ( Thơ Tuệ Minh ) 364
50 * Bài Thơ Dâng Mẹ (Nguyên Ngộ Văn Nhân Đạo ) 365
51 * Dâng Mẹ ( Thơ Tâm Nguyên An ) 366
52 * Giữ Lòng Vui (Thơ Nguyên Ngộ Đào Hoài ) 366
53 * Định Lý Duyên Khởi 367
54 * Tránh gây Phiền não, Cắt đứt Phiền não 368
55 * Câu chuyện 370
56 * Tượng Đá ( Đào Hoài ) 372
57 * Lời Nhắn Nhủ 373
58 * Sự Phân Chia Xá Lợi 374
59 * Trong Thập Mục Ngưu Đồ 375
60 * Trong 21 Ngày Tại Cội Bồ Đề 376
61 * An Lạc Thân 378
62 * Trích Lược Giải Kinh Pháp Hoa 379
63 * Kinh Điển Giáo Pháp Đức Phật 382
64 * Đọc Tụng Kinh Pháp Hoa Là Ứng Nghiệm 384
65 * Thiền Định 385
66 * Khi Đã Phát Nguyện Làm Huynh trưởng 386
67 * Sức Mạnh Thầm Lặng 387
68 * Giải Câu Đố Vui 389
69 * Mái Chùa Che Chở Hồn Dân Tộc.
Hay Mái chùa Việt Nam 392
70 * Niên Lịch Của Phật Thích Ca 405
71 * Năm Triền Cái Là: 406
72 * Tổng Kết Về Đạo Đế, Hay 37 Món Trợ Đạo 410
73 * Nhất Thiết Chư Pháp Vô Phi Phật Pháp 413
74 * Phật Tâm Vô Xứ Bất Từ Bi 415
75 * Nương Vào Phổ Hiền Lực Để Thấy Phật 415
76 * Bốn Địa Điễm Chiêm Bái 417
77 * Duy Tuệ Thị Ngiệp 417
78 * Đời Huynh Trưởng 418
79 * Thế Nào Là Đáp Đúng Pháp 421
80 * Định Lý Duyên Khởi 421
81 * Trích Kinh Thiện Sinh 421
82 * Xuân Chốn Thiền Gia 422
83 * Nước Mắt Của Bồ Tát 423
84 * Tránh Gây Phiền Não 424
85 * Phải Diệt Trừ Vô Minh 425
86 * Tinh Thần Vô Ngã 425
87 * Đức Phật Vị Giáo Chủ Đấng Toàn Năng 426
88 * Tam Giới hay Ba Cõi Là 426
89 * Chữ Tiết Nghĩa 428
90 * Chữ Hiếu Trung 430
91 * Trích Kinh Na Tiên Tỳ Kheo 431
92 * Ngưỡng Vọng Giác Linh Bổn Sư 431
93 * Cảm Lòng ( nguyên Ngộ Đào Hoài) 433
94 * Giếng Cổ ( Nguyên Ngộ Đào Hoài) 435
95 * Lối về ( Nguyên Nhật Hoàng Tân ) 436
95 * Quí Bác, quí anh chị hỗ trợ in Tập sách nầy 437

HẾT

About Kinh Tâm

Từng bước hoa sen nở
This entry was posted in Lịch sử and tagged . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s