“Cứ đi là sẽ tới”

Trần Thị Trường

Tôi không ngờ lại có được chuyến hành hương xứ Phật vào những ngày năm hết Tết đến rồi đi luôn qua Tết. Hội Nhà văn VN cử một đoàn đi tham dự Triển lãm sách quốc tế tại Kolkata, Ấn Độ…

Ngần ấy thủ tục, ngần ấy đường sá không lẽ đi rồi về ngay, chúng tôi quyết định đi tiếp, từ Kolkata qua Bodh Gaya, Rahspur sang Nepal rồi quay đến New Delhi. Triết lý của Phật có câu “Cứ đi là sẽ tới”, chúng tôi không nghĩ sẽ tìm được Phật, thỉnh được kinh ở bốn “Tứ động tâm” nổi tiếng, những thánh tích ghi dấu bước chân đạt đạo của Đức Thích Ca Mâu Ni, bởi Phật không ở trong tim thì có tìm mãi cũng không bao giờ gặp. Nhưng với ý nghĩ tôn giáo lớn là kết tinh của văn hóa, thì đi đến những nơi có dấu vết tôn giáo lớn ngoài ý nghĩa tâm linh sẽ thấy được những tinh hoa văn hóa.

Kolkata – thành phố văn học

Ngày đầu tiên ở Kalkota chúng tôi dự lễ duyệt binh nhân kỷ niệm ngày Hiến pháp Ấn Độ bắt đầu có hiệu lực (26.1.1950). Lễ duyệt binh không chỉ diễn ra ở Kolkata mà còn ở New Delhi và một số tiểu bang khác, nhưng riêng ở Kalkota ngoài những binh chủng diễu hành còn có một xe rước ảnh nhà thơ Rabindranath Tagore bởi đây là thành phố văn học. Những ngày ở Kolkata tôi cứ băn khoăn không hiểu tại sao Ấn Độ lại được coi là quốc gia có nền kinh tế lớn của thế giới bởi trước mắt tôi là một cuộc sống đông đúc, chậm rãi, bừa bộn và nhiều thiếu thốn.

Sáng sáng người dân uống trà ngoài đường, giống như một dạo chúng ta uống trà ở vỉa hè. Đàn bà Ấn Độ không đi làm, gần như 100% mặc váy (sari) thướt tha và đeo những đồ kim loại óng ánh. Chỉ có đàn ông làm việc và hầu hết họ mặc váy (dhoti), nếu không mặc váy thì cũng mặc áo dài phủ ra ngoài chiếc quần thụng.

Song, tôi đã lầm. Tôi đã chỉ nhìn thấy một Ấn Độ qua một thành phố đông dân với bề mặt của nó. Sau khi trò chuyện với một số giáo sư tiến sĩ, những người có mặt trong hội chợ sách quốc tế và sau khi đi qua những vùng đất đai trù phú, những tiểu bang khác tôi mới hiểu với một lực lượng lao động hùng hậu tới gần nửa tỉ người, nông nghiệp Ấn Độ đã sản xuất được một lượng lớn gạo, lúa mì, hạt dầu, cốt tông, sợi đay, chè, mía, khoai tây…

Các ngành công nghiệp chính gồm dệt may, hóa chất, chế biến thực phẩm, thép, thiết bị vận tải, xi măng, mỏ, dầu khí và cơ khí vừa đủ dùng vừa có khả năng xuất khẩu. Và thật không ngoa khi người ta nói rằng những dịch vụ khách hàng (customer service) của Hoa Kỳ được nối máy từ Ấn Độ.

Với khả năng tiếng Anh chuẩn, trình độ học vấn cao, ngưỡng chịu đựng tốt, người Ấn đáp ứng được dịch vụ gia công (outsourcing) của các công ty toàn cầu, đem về một nguồn thu nhập đáng kể. Ấn Độ đồng thời cũng là một nước xuất khẩu hàng đầu về nhân lực trình độ cao trong lĩnh vực dịch vụ phần mềm, tài chính và chế tạo phần mềm… Tuy nhiên, do chênh lệch về trình độ lao động, về khả năng, về cơ hội việc làm, nông thôn và thành thị nên ở Ấn Độ khoảng cách giàu nghèo của người dân còn cách nhau khá xa.

Sông Hằng

Kết thúc những ngày hội sách chúng tôi mua vé tàu đi Bodh Gaya, bang Bihar, địa danh nổi tiếng nằm ở phía đông bắc, nơi có một trong Tứ động tâm quan trọng và hấp dẫn nhất của phật tử toàn thế giới (người Việt gọi là Bồ đề đạo tràng). Đây là nơi Đức Phật giác ngộ sau 7 tuần ngồi thiền. Chúng tôi cúi đầu trước ngôi chùa Phật giáo nổi tiếng, được xây dựng trên nền của ngôi chùa cổ hơn do Vua Asoka xây vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Chùa Mahabodhi này có đỉnh tháp bằng đá trắng cao 50 mét, bên trong có các gian thờ Phật, bên ngoài có rất nhiều tượng Phật nhỏ trên tường và các tháp nhỏ xung quanh.

Ngoài ý nghĩa tâm linh thì những thánh tích còn cho chúng tôi những ngạc nhiên về hình dáng kiến trúc, vật liệu xây dựng và cảnh quan thiên nhiên. Có lẽ không nhiều người trong một lần đi như chúng tôi mà viếng thăm được cả bốn Tứ động tâm vì đều ở cách nhau khá xa: Vườn Lâm Tỳ Ny ở Nepal, nơi Đức Phật đản sanh, Bồ Đề Đạo Tràng ở Bodh Gaya, nơi Đức Phật đắc đạo, và Kushinagar, nơi Đức Phật nhập Niết bàn, ở Varanasi nơi Đức Phật chuyển pháp luân… Varanasi có sông Hằng chảy qua và là nơi có ngôi đền Hindu với những kiến trúc cổ đại, nơi được coi là điểm đến của người Hindu với nghi lễ tiễn đưa người chết.

Sông Hằng đã nổi tiếng thế giới từ xa xưa, giống như độ dài hơn 2500km và sự huyền bí thăm thẳm của nó. Được tạo thành bởi hai con sông đầu nguồn chảy từ dãy Hymalaya qua nhiều thành phố với thượng nguồn là con sông băng có tên gọi là Gangotri và hạ nguồn là cửa sông ở vịnh Bengal.

Không phải vì tin đến sông Hằng, uống và tắm ở đây mọi tội lỗi sẽ được gột bỏ nhưng với chúng tôi được nhìn tận mắt một dòng sông có nhiều huyền thoại và cực kỳ nổi tiếng là điều vô cùng thôi thúc. Ở Varanasi vào sáng sớm nhiều sương mù và rất lạnh giá. Chúng tôi thức dậy, theo xe đi xuyên sương từ một ngôi chùa Phật giáo đến bến tắm và thiêu người, nơi có ngôi đền Hindu nổi tiếng kia. Hàng trăm chiếc xe du lịch chở hàng ngàn người đủ các màu da đã đậu san sát ngoài bến.

Xuống đến sông, thuyền bè đầy người đã dập dềnh mặt sông. Tiếng vỗ cánh của đàn vịt giời, sáo, hải âu xôn xao cả một vùng sông nước. Người trên thuyền mua những túi bỏng lúa tung lên cao, vãi đầy mặt nước, đàn chim reo mừng bay tới. Tất cả đều mờ ảo trong sương sớm, bình minh chưa lên. Bình minh là khoảnh khắc hiếm hoi ở đây nên ai nấy đều đi sớm để không trượt giây phút đó.

Thoả mãn với những việc chụp ảnh, uống nước, rửa mặt, xem người tắm, giặt (không chỉ có người Hindu, mà không ít người da trắng cũng ngụp lặn ở quãng sông này) thuyền chúng tôi dịch chuyển sang chỗ thiêu xác, cách bến tắm chừng 30m. Lúc đó có 3 cái xác đang thiêu, còn 2 cái nữa, đã xong nghi lễ 3 lần tắm nước sông Hằng, đã nằm trên cáng bằng củi, trên phủ 1 tấm vải nhỏ và 1 vòng hoa cúc đang chờ được thiêu. Thiêu ở đây chỉ tốn 300 rupees (tương đương 150.000 đồng VN) tiền củi và 50 rupees tiền dầu thơm đặc hiệu. Đứng chờ thiêu chỉ có đàn ông thân nhân của người chết chừng 5-7 người. Từ lúc bật lửa đến lúc hoàn tất chừng 3 giờ. Khi tro đã nguội người ta thả nó xuống nước ngay bến đó.

Người ta tin rằng người chết sẽ trở lại, thế gian này không phải là duy nhất. Tro thiêu của người chết được rải lên dòng sông. Nơi chúng tôi đang có mặt là nơi sinh động nhất của sông Hằng, bởi là một trong những nơi những người Hindu hành hương đến các thành phố thánh của Varanasi, nơi các nghi lễ tôn giáo thường được cử hành. Nghe nói mỗi 12 năm, một lễ hội Purna Kumbha (Vạc Đầy) được tổ chức, có tới hàng triệu người đến để tắm trong sông Hằng.

Cho dù ngày nay dân số và sự phát triển công nghiệp dọc theo các sông Hằng và sông Hugli (đoạn chảy qua Kolkata) đã nhanh chóng phát triển và nước thải công nghiệp và sinh hoạt đã đổ thẳng vào sông với số lượng khổng lồ thì niềm tin về sự sạch sẽ vô nhiễm của sông Hằng vẫn không giảm đi. Hằng ngày người ta đến tắm, giặt, uống và đem nước về để làm những nghi lễ thờ cúng khác. Ngay các cửa ngõ dẫn vào khúc sông này đều có bán rất rất nhiều những can nhựa rỗng. Những người trong đoàn chúng tôi đã vục nước ngay cạnh mạn thuyền để uống, rửa mặt và mang theo một chai về nhà.

Taj Mahal

“Cứ đi là sẽ đến” còn cho phép tôi tận mắt gặp được Kỳ quan thứ Bảy của thế giới, đền Taj Mahal, lăng mộ được Hoàng đế Hồi giáo gốc Ba Tư có tên là Shah Jahan, làm để chôn cất người vợ yêu dấu của mình là Mumtaz Mahan. Khu lăng mộ được xây dựng trong 22 năm, với công sức của 20.000 thợ… Taj Mahal được coi là hình mẫu tuyệt vời nhất của kiến trúc Môgôn, một phong cách tổng hợp các yếu tố của các phong cách Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ và Hồi giáo.

Không chỉ khu lăng mộ chính bằng đá cẩm thạch bên trong khảm đá quý và đá bán quý, quần thể kiến trúc tại Taj Mahal còn bao gồm khu mộ của Timur, gọi là Gur-e Amir, các ngôi mộ của các bà vợ khác của Shah Jahan và ngôi đền Jama Masjid của chính ông vua này. Mọi nơi trong vườn đều được bố trí những đường đi với các hàng cây và vòi phun nước. Các đoạn văn trên tường đền Taj Mahal được viết bằng một kiểu chữ rất đẹp nghe nói do một Khan tạo ra. Chúng được khảm bởi các loại đá quý như đá hoa và cẩm thạch này. Ở cổng Taj Mahal, có một dòng chữ: “O Soul, thou art at rest. Return to the Lord at peace with Him, and He at peace with you” (Có thể hiểu: Này linh hồn, mi đang yên nghỉ. Hãy trở về bên Thượng đế, bình yên với Ngài, và Ngài bình yên với mi.)…

Taj Mahal là một tổng hợp các phong cách kiến trúc. Chúng là kết quả của một truyền thống hợp nhất mọi yếu tố từ mọi phần của quốc gia. Đứng trước vẻ đẹp kiến trúc tổng thể của ngôi đền 100% cẩm thạch, với những đường nét chạm khắc tinh xảo bên trong, với sự kết hợp tinh tế của ánh sáng tự nhiên (bình minh và hoàng hôn) tôi cúi đầu vái ba vái cầu cho sự yên nghỉ vĩnh hằng của vinh quang âm thầm kiến trúc sư Ustad Ahmad Lahauri, người được coi là tổng công trình sư của Taj Mahal. Cũng như cách đây 7 năm tôi đã ngửa mặt lên trời khi bước ra khỏi khu đền thờ Thánh Phêrô ở Vatican (Italia) để ba lần gọi tên Leonardo de Vinci.

Lotus, đạo Baha’i và khoa học…

Tôi đã nhầm lẫn khi chỉ biết tới nhà hát opera ở Sydney. Ngày cuối cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình, Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ đã cho chúng tôi một ngày xe để đi thêm những điểm du lịch ở New Delhi. Sau khi thăm Bảo tàng Quốc gia Ấn Độ chúng tôi đến khu Lotus. Nơi có một ngôi chùa (đền- nhà thờ, gọi thế nào cũng đúng) hiện đại có vóc dáng của bông sen khổng lồ nằm trong một khuôn viên rộng lớn. Ngôi chùa không có sư, không có linh mục, mục sư, nhà thông thái… Cũng như vào mọi đền chùa khác ở Ấn Độ chúng tôi phải gửi giày dép ngoài, nhưng khác ở chỗ nơi đây dòng người xếp hàng để vào trong dài như vô tận. Vào trong, không có gì ngoài những hàng ghế trống. Ngồi vào đấy 5 phút tự mình tĩnh tâm soi vào lòng mình để hồi hướng về một cõi mà nếu cứ vật vã con người không bao giờ tới được.

Người ta gọi là The Bahai’i Faith (đạo Baha’i). Đạo mới được khai sáng vào cuối thế kỷ XIX, hiện có tín đồ ở khắp thế giới. Tôi cứ suy nghĩ mãi về câu: “Người Baha’i tin rằng tất cả các tôn giáo trên thế giới đều có nguồn gốc thiêng liêng. Tất cả đều do thượng đế mặc khải ở những nơi và những thời gian khác nhau tuỳ theo nhu cầu và khả năng tiến hóa của con người… Tôn giáo và khoa học hòa hợp với nhau… Cả hai là những mặt hỗ tương của chân lý…”.

Hai tuần là quãng thời gian quá ngắn trong một đời người, nhưng nếu không có một chuỗi dài những “luyện công” thì không có đủ sức khoẻ để đi, không đủ trí lực để nhìn, để nhớ, để suy tưởng và vì thế hai tuần khiến cho tôi bước được một bước lên một trạng thái khác. Đấy là nói một cách logic vật thể, có người bảo rằng bởi đi được Tây trúc thỉnh kinh, bởi rửa được cái mặt vốn nhiều bụi bặm đời thường của mình bằng nước sông Hằng. Có thể lắm!

http://laodong.com.vn/Tin-Tuc/Cu-di-la-se-toi/33082

This entry was posted in Văn hóa and tagged . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s