Đại lễ tưởng niệm Tổ Sư Liễu Quán tại TX- Long Khánh.


Vào ngày 21 tháng 11 năm Canh Dần (26-12-2010), tại chùa Bảo Sơn, thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng nai, chư Tôn Đức Tăng Ni Phật giáo Long Khánh và các tỉnh thị lân cận thuộc dòng thiền phái Liễu Quán đã vân tập trang nghiêm long trọng cử hành lễ giổ lần thứ 269 của tổ Sư Liễu Quán.
Tổ sư Thiệt Diệu-Liễu Quán sinh năm 1667 tại làng Bạch Mã, huyện Ðồng Xuân, tỉnh Phú Yên, xuất gia tại chùa Hội Tôn, sau đó tầm sư học đạo tại Thuận Hóa-Phú Xuân-Huế, đắc pháp với Tổ sư Minh Hoằng Tử Dung (khai sơn chùa Ấn Tôn-Từ Đàm). Tổ là người khai sơn Tổ đình Thiền Tôn và các chùa Viên Thông, Viên Giác-Huế và là người khai mở chi phái thiền Thiên Thai Thiền Tôn, tức chi phái Liễu Quán thuộc phái thiền Lâm Tế chánh tông với bài kệ: “Thật Tế Ðại Ðạo, Tánh Hải Thanh Trừng, Tâm Nguyên Quảng Nhuận, Đức Bổn Từ Phong v.v…” làm pháp hệ truyền thừa cho Phật giáo xứ Đàng Trong và đến nay hầu hết các chùa ở vùng Trung và Nam Việt Nam đều thuộc phái thiền Lâm Tế này. Tổ Liễu Quán viên tịch ngày 22-11-Nhâm Tuất (1742), tính đến nay vừa tròn 269 năm.

Đến tham dự lễ giổ tổ sư có HT. Thích Hải Mẫn, nguyên chánh đại diện Phật giáo Thị xã Long Khánh, viện chủ chùa Long Phú. HT. Thích Huệ Tâm, Chánh đại diện Phật giáo Thị xã Long Khánh, trú trì chùa Bảo sơn, truởng Ban Tổ chức. HT. Thích Thiện Cảnh, viện chủ chùa Thiên Ân (Xuân Lộc), HT. Thích Giác Quang trú trì chùa Xuân Thành, HT Thích Minh Tâm, Trú Trì chùa Phật Ân, Long Thành, HT. Thích Viên Chánh, HT Thích Đức Trạch, TT. Thích Phước Tú, TT Thích Thiện Đạo…cùng chư tôn thiền đức Tăng ni trụ trì các tự viện thuộc thiền phái Liễu quán và hơn 500 thiện nam tín nữ Phật tử gần xa đã về tham dự.

Một số hình ảnh trong ngày tưởng niện Tổ Sư.





Chư Tôn Thiền Đức dâng hương tưởng niệm

Ban Nhạc lễ cúng dường

Phật tử tham dự lễ.
Tin ảnh: Mộng Tình Mây ( Q.T)

TIỂU SỬ TỔ SƯ LIỄU QUÁN

1. Thân thế:
Tổ sư; Ngài họ Lê, sanh năm 1667, tại làng Bạch Mã, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên, miền Trung nước Việt, trong một gia đình không mấy được khá giả. Mồ côi mẹ khi ngài vừa lên sáu tuổi.
Năm 12 tuổi, theo cha đi chùa Hội Tôn lễ Phật, nhân duyên gặp thiền sư Tế Viên, ngài cảm mến và xin phụ thân xuất gia tại đây. Ngài được thiền sư Tế Viên thương mến và hết lòng dạy dỗ. Tu tập ở đây được chín năm thì thiền sư Tế Viên viên tịch, lúc đó Ngài tròn 19 tuổi. Sau khi chu tất tang lễ của thầy, ngài từ giả quý huynh đệ đồng tu rồi một mình lên đường tìm thầy học đạo.
Năm 1690, vượt Trường Sơn ra đất Thuận Hóa, đầu sư với Giác Phong Lão tổ ở chùa Thiên Thọ, núi Hàm Long (tức Phật học đường Báo Quốc bây giờ). Được một năm thì phụ thân thọ bệnh, ngài xin phép được trở về nhà để săn sóc. Hằng ngày vào rừng lo đốn củi đổi gạo và thuốc men để chăm sóc cho phụ thân. Bốn năm sau, phụ thân mãn phần, Ngài đã lo tang chay báo hiếu và giao hết nhà cửa hương hỏa cho bà con quyến thuộc xong xuôi, ngài tiếp tục lên đường học đạo.

2. Sự nghiệp tu học:
Trãi qua một thời gian chuyên cần học hỏi giáo pháp. Năm 1695, Ngài đuợc thọ Sa Di thập giới tại giới đàn chùa Thiền Lâm, cố đô Huế với Hoà thượng thiền sư Thạch Liêm làm đàn đầu.
Năm 1697, Ngài thọ cụ túc giới với thiền sư Từ Lâm làm Đàn đầu Hòa thượng, lúc đó ngài tròn 27 tuổi, với đạo hiệu thượng Liễu hạ Quán húy Thiệt Diệu, thuộc dòng Lâm tế chánh tông đời thứ 35. Đắc giới xong, ngài ở lại đây hai năm để cầu học những giới pháp đã thọ chưa được thông suốt rồi lại tiếp tục tham cầu Phật pháp với các bậc tôn sư khắp nơi.
Năm 1672, ngài gặp thiền sư Tử Dung tại chùa Ấn Tôn (tức tổ đình Từ Đàm bây giờ), ở núi Long sơn, cố đô Huế, tổ Tử Dung dạy cho ngài tham cứu câu thoại đầu : “Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ ?”. Nghĩa là : “Muôn pháp về một, một ấy đi về đâu ?”
Từ câu thoại đầu nầy, làm cho Ngài ngày đêm suy nghĩ. Cuối cùng, Ngài lại phải trở về chốn cũ Phú Yên để tịnh tu và tham cứu cho được câu mà Tổ đã trao. Suốt năm năm liền mà vẫn chưa liễu ngộ được thâm ý của câu thoại đầu, lòng tự hổ thẹn. Một hôm, nhân đọc cuốn Truyền Đăng Lục, khi đọc đến câu : “Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hồi xứ” Nghĩa là: “Chỉ vật mà truyền tâm, chính vì vậy mà người ta không hiểu” thoạt nhiên ngài tỏ ngộ và buông sách xuống với một tâm niệm an lạc.
Năm 1708, ngài tìm ra núi Long Sơn để gặp tổ Tử Dung và trình bày ý của ngài cho Tổ rõ về công phu đã tu tập trong mấy năm qua. Tổ nghe xong lấy làm đẹp ý và hết lời khen ngợi và rất bằng lòng về sự tu tập của ngài và được Tổ truyền tâm ấn cho.
3. Hoằng hóa độ sanh:
Sau khi được Tổ Tử Dung truyền tâm ấn, Ngài lên ngôi Tổ vị, liền khai hội giáo hóa, xuất kệ lập thành pháp phái Liễu Quán.
Thiệt tế đại đạo,
Tánh hải thanh trừng,
Tâm nguyên quảng nhuận,
Đức bổn từ phong,
Giới định phước tuệ,
Thể dụng viên thông,
Vĩnh siêu trí quả,
Mật khế thành công,
Truyền trì diệu lý,
Diễn xướng chánh tông,
Hành giải tương ưng,
Đạt ngộ chơn không.
Ngài rất tinh tấn hoằng hoá độ sanh, không nề khó nhọc. Liên tiếp những năm Kỷ Sửu (1733), Giáp Dần (1734) và Ất Mão (1735), Ngài đã nhận lời thỉnh cầu của các Ngài trong Sơn Môn cùng các bậc Tể Quan và cư sĩ ở Huế, dự bốn lễ lớn về Đại giới đàn. Qua năm Canh Thìn (1740) Ngài tấn đàn Long Hoa truyền giới, rồi từ đó Ngài trở về núi Thiên Thai, dựng thảo am ẩn náu tu hành, nay tức là chùa Thuyền Tôn. Lúc bấy giờ, chúa Nguyễn Minh Vương (Nguyễn Phúc Khoát) rất mến trọng đạo đức Ngài, thường mời Ngài vào cung đàm đạo.
Năm Nhâm Tuất (1742), mùa xuân năm ấy, Ngài thọ bệnh, khi sắp lâm chung, Ngài gọi môn đồ lại dạy rằng: “ Nhân duyên đã hết, ta sắp đi đây”. Khi thấy Môn đồ khóc thương, Ngài lại dạy: “ các ngươi khóc làm gì? Các Đức Phật ra đời còn nhập Niết bàn, ta nay đi đến rõ ràng, về tất có chỗ, các ngươi không nên khóc và đừng nên buồn thảm”. và Ngài đã nói kệ từ biệt:
Thất thập dư niên thế giới trung,
Không không sắc sắc diệc dung thông,
Kim triêu nguyện mãn hoàn gia lý,
Hà tất bôn mang vấn tổ tông ?
Nghĩa là :
Ngoài bảy mươi năm trong thế giới,
Không không, sắc sắc đã dung thông,
Hôm nay nguyện mãn về chốn cũ,
Nào phải ân cần hỏi tổ tông?
Sau khi, ngài làm truyền kệ xong, dùng trà. Đại chúng đảnh lễ và đứng hầu quanh ngài. Ngài dạy: “Sau khi ta đã đi rồi, các ngươi phải nghỉ đến sự vô thường nhanh chóng của cuộc đời mà siêng năng tu tập trí huệ, các ngươi hãy cố gắng tới, chớ bỏ quên lời ta”.
Ngài dặn dò xong, thân ngồi kiết già và nhắm mắt thị tịch, tiêu diêu thoát hoá vào ngày 22 tháng 11 giữa mùa đông năm Nhâm Tuất. Chúa Nguyễn Minh Vương nghe tin, sắc làm bia ký và dựng tháp phụng thờ Ngài trên núi Thiên Thai cạnh tổ đình Thuyền Tôn, xóm Ngũ Tây với thụy hiệu : Đạo Hạnh Thụy Chánh Giác Viên Ngộ Hòa Thượng. Tháp của ngài được xây gần Tổ đình Thuyền Tôn, trên núi Thiên Thai.
Tổ Liễu Quán đã làm cho thiền phái Lâm Tế trở thành một tông phái đặc thù và linh động, Thiền Phái Liễu Quán cứ phát triển và lớn dần lên mãi. Bằng lý tưởng độ sanh, Ngài đã vân du hóa độ đó đây. Từ kinh thành Phú Xuân đến Phú Yên rồi từ Phú Yên đến Huế, từ vua quan đến thứ dân, xã hội có bao nhiêu giai tầng là Ngài có bấy nhiêu ứng thân hóa hiện. Ánh sáng của tổ sư dần dần in đậm dấu ấn trên mọi nẻo đường quê hương, viết nên trang sử sáng ngời trong sự nghiệp xây dựng ngôi nhà lịch sử Phật giáo Việt Nam.
Khi đất nước được mở rộng về phương Nam thì đã có rất nhiều vị danh Tăng mang pháp danh theo dòng kệ pháp phái Liểu Quán đi theo dòng Nam tiến của dân tộc, đem chánh pháp truyền đến tận những vùng xa xôi của tổ quốc, và cũng chính những vị này theo dòng phù sa, đã gieo trồng chánh pháp trong lòng người dân hiền hòa, trung hậu khắp vùng đồng bằng châu thổ.
Chiêm nghiệm cuộc đời hành đạo và tu chứng của Ngài, hàng con cháu chúng ta không những kính mộ mà còn có nhiều suy ngẫm về hành trạng của Tổ. Những sự kiện phi phàm trong đời của Ngài đã minh chứng một điều rằng: không phải bậc Thánh nhân, chân nhân, các vị xuất trần thượng sĩ thì hạng phàm phu hạ liệt không thể có được.
Hôm nay, kỷ niệm 269 năm (1742-2010) ngày thị tịch của Tổ sư, Phật giáo Long Khánh long trọng tổ chức ngày giổ Tổ, Với mục đích nhắc nhở cho đàn hậu tấn xuất gia và tại gia biết về sự diễn tiến chánh pháp từ sơ khởi cho đến lúc huy hoàng của Thiền Phái Liễu Quán, đồng thời ghi nhớ và cảm niệm ân đức cao dày của Tổ Sư vậy.

Nam mô Sắc tứ truyền Lâm tế Chánh tông tam thập ngũ đợi, thượng Liễu hạ Quán, huý Thiệt Diệu, thuỵ Chánh Giác Viên Ngộ, Hoà thượng tổ sư chứng minh.

Nam Mô Chứng Minh Sư Bồ Tát Ma Ha Tát

(Chư Tăng Chùa Bảo Sơn Cẩn soạn quý đông năm Canh Dần)

Advertisements

About Kinh Tâm

Từng bước hoa sen nở
Bài này đã được đăng trong Thông tin và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s