CHÙA THUYỀN LÂM -Thuận Hóa Cố Đô nơi lưu dấu bước chân hoằng pháp của Đại Sư Thạch Liêm – hiệu Đại Sán( 1633- 1704) và kỷ niệm ngày giỗ tổ 07.11 Âm Lịch hằng năm.

THẠCH LIÊM VÀ TÀO ĐỘNG Ở ĐÀNG TRONG

Ở Ðàng Trong Ðại Việt, người đầu tiên truyền bá thiền Tào Ðộng có lẽ là thiền sư Hưng Liên. Ông lập đạo tràng ở chùa Tam Thai Quảng Nam và được tôn làm quốc sư. Chương trước đã nói về ông. Tiếc là hiện nay chưa khảo cứu được về công trình hoằng pháp và sự truyền thừa của ông. Chùa Tam Thai bị đổ vỡ hủy hoại trong cuộc chiến tranh vào cuối thế kỷ thứ mười tám, tài liệu thất lạc hết. Chùa này được trung tu năm 1825 đời vua Minh Mạng.

Thiền sư Thạch Liêm hiệu Ðại Sán Hán Ông, người Giang Tây, sinh năm 1633, xuất gia hồi thiếu niên ở chùa Thượng Lam, theo hầu thiền sư Giác Lãng(89). Năm mười sáu tuổi Giác Lãng Giác qua đời, không biết ông đã được tiếp tục và Thụ giới với vị nào. Sau ông nhập chúng làm giảng sư chùa Trường Thọ ở Quảng Ðông do thiền sư Thực Hành trú trì. Sau khi Thực Hành mất, ông được thừa kế trú trì chùa Trường Thọ. Nhờ tài hội họa và kiến trúc sẵn có, Thạch Liêm đã biến chùa Trường Thọ thành một nơi danh thắng ở Quảng Ðông.

Theo lời đề nghị của quốc sư Hưng Liên, chúa Nguyễn Phúc Trăn đã hai lần mời ông sang Ðại Việt, nhưng ông chưa đi được. Mãi đến năm 1694, khi chúa Nguyễn Ðăng Chu cho người sang mời ông mới quyết định ra đi. Cùng đi với ông có độ một trăm người, trong đó hơn phân nữa là tăng chúng. Ðoàn người đi trên hai chiếc thuyền buôn mang theo rất nhiều pháp khí kinh tượng để tổ chức giới đàn. Thuyền của ông tới đảo Tiêm Bút La vào ngày 27 tháng giêng năm Ất hợi (1695). Chúa Nguyễn Phúc Chu cho thuyền đi đón, rước về định cư ở chùa Thiền Lâm, Thuận Hóa(90). Khoảng một ngàn người thợ làm việc trong ba ngày đêm, cất mười gian phương trượng và lưu xá cho đoàn tăng khách tạm trú.

Trong những công tác mà Thạch Liêm đã thực hiện được trong thời gian lưu trú tại Ðàng Trong, có thể nói rằng công tác quan trọng nhất là tổ chức giới đàn Thiền Lâm. Giới đàn này tổ chức từ mồng một đến ngày mười hai tháng tư năm Ất hợi (1965). Giới đàn có đến ba ngàn giới tử trong đó số giới tử xuất gia lên tới 1.400 vị vừa tỳ khưu vừa sa di. Chương trình của giới đàn như sau:

– Ngày 24 tháng ba các giới tử xuất gia nhập giới đàn.

– Ngày mồng một truyền giới sá di. Thạch Liêm thượng đàn thuyết pháp, có chúa và các quan đến nghe.

– Ngày mồng sáu truyền giới tỳ khưu. Quốc mẫu và vương huynh thiết lễ trai tăng cúng dường các vị tăng sĩ mới thụ giới, và ghi chép lời pháp ngữ của Thạch Liêm.

-Ngày mồng tám tháng tư, Phật đản, làm lễ trao Bồ Tát giới cho chúa Nguyễn Phúc Chu, quốc mẫu, công chúa và những người quyến thuộc trong nội cung. Lễ truyền giới được tổ chức ở chùa Giác Vương Nội Viên trong phủ Chúa. Thạch Liêm viết cho chúa một cuốn sách ngắn, chỉ bày cách tu tập, gọi là Hộ Pháp Kim Thang Thư. Buổi chiều, lễ truyền giới Bồ Tát cho các vương huynh là Lệ Truyền Hầu và Thiều Dương Hầu cùng một số các quan được tổ chức tại chùa Thiền Lâm.

– Ngày mồng chín tháng tư, lẽ truyền giới Bồ Tát cho chư tăng được cử hành tại chùa Thiền Lâm. Các vương huynh công chúa cúng dường trai tăng và thỉnh Thạch Liêm thuyết pháp, rồi ghi chép pháp ngữ.

– Ngày mười hai tháng tư, Thạch Liêm và quốc sư Hưng Liên thống suất hai dãy tân giới tử, tất cả một ngàn năm trăm vị tăng đều mang bình bát, chống tích trượng làm lễ “cổ Phật khất thực” trong thành phố, và đến phủ chúa tạ ơn chúa Nguyễn đã thành tựu công đức cho đại giới đàn. Lễ cúng dường cơm chay được thiết lập tại phủ chúa. Giới đàn bế mạc chiều hôm ây.

Trong giới đàn này, giới điệp cấp phát cho giới tử đều có đóng kèm ấn của phủ chúa.

Một giới đàn khác sau đó đã được tổ chức tại chùa Di Ðà ở Hội An ngày mồng bảy âm lịch năm ấy. Khoảng trên ba trăm người đã xin thụ giới. Giới đàn ở đây được tổ chức rất đơn giản, nhưng giới điệp cũng được đóng kèm ấn chúa.

Giới đàn Thiền Lâm có một tầm quan trọng lớn. đó là một giới đàn tổ chức cho cả nước; các tỉnh đều có giới tử về thụ giới. Ta nhớ là thiền sư Liễu Quán cũng đã từ Phú Yên ra để thụ giới sa di ở giới đàn này. Phái Tào Ðộng trước kia chỉ có ảnh hưởng ở Quảng Nam, nay đã lan ra khắp xứ.

Ðáng lý thiền sư Thạch Liêm đã về từ tháng bảy âm lịch năm đó, nhưng vì gió bão cản trở nên ông lưu lại Ðại Việt để dưỡng bệnh. Từ Hội An ông được chúa Nguyễn Phúc chu cho người vào đón ra chùa Thiên Mụ. Ông ở Thiên Mụ cho đến ngày 24 tháng sáu năm tới mới xuống thuyền về Quảng Ðông, Thạch Liên qua Ðại Việt năm 62 tuổi, mất năm 71 tuổi (1704).


Hoà Thượng Thạch Liêm,
chúa Nguyễn Phúc Chu
và chùa Thiên Mụ

Nguyễn Hữu Vinh biên soạn

Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Dù trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ”. Cho đến bây giờ, chùa Thiên Mụ đã nổi tiếng từ lâu, ít ai không biết đến, dù chưa một lần được đến tận nơi để nhìn tận mắt. Tiếng chuông chùa và bóng tháp bảy tầng cao ngút đã đi vào lịch sử, văn học và cũng đã trở nên hai biểu tượng riêng của đất Huế. Nói đến chùa Thiên Mụ, từ phong cảnh, di tích lịch sử, huyền thoại, giai thoại văn học, ca dao, tục ngữ v.v, có thể mọi người có thể đều biết rõ, nhưng khi nói đến Hoà Thượng Thích Đại Sán (釋大汕), hiệu Thạch Liêm (石濂和尚), vị sư mà hiện giờ được phụng thờ như là vị tổ sư của chùa, thì rất ít ai biết tới, ngoại trừ những người nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam. Vị sư này là ai, gốc gác ở đâu, có công trạng gì đối với chùa mà được tôn thờ vinh dự như là vị sư tổ? Về danh hiệu của sư Thích Đại Sán, sách Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên (quyển 6, tờ 24) (2) viết rằng: “Thạch Liêm Hán Ông, người nhà Thanh, quê Chiết Giang. Thông minh đỉnh ngộ, tinh thông các môn chiêm tinh, luật tịch, lý số, thư pháp, hoạ vẻ, nhất là về môn thơ phú. Thời Minh mạt, nhà Thanh xâm chiếm Trung Quốc, Liêm giữ nghĩa không chịu làm tôi, bèn từ giã mẹ già, xuất gia đầu Phật, vân du khắp các nơi danh thắng…”. Sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên (quyển 8, trang 17) (2) chép việc trùng tu chùa Thiên Mụ vào năm 1714 có ghi “…Thời ấy Hoà Thượng ở Chiết Tây tên Đại Sán hiệu Thạch Liêm đem thiền đạo đến yết kiến, được chúa yêu mến, khi ông về nước được chúa tặng nhiều gỗ quý đem xây cất chùa (Trường Thọ), nay còn di tích…”. Nhiều người lầm tưởng sư Đại Sán là tổ sư và trụ trì chùa Thiên Mụ. Thật ra, sư chỉ ghé đến tại chùa Thiên Mụ trong một khoảng thời gian rất ngắn, để dưỡng bệnh trong lúc chờ đợi mùa gió thuận lợi để trở về Quảng Đông. Sư chưa bao giờ trụ trì chùa Thiên Mụ cả. Việc nhầm lẫn này có thể do người đời sau vì không biết rõ lai lịch của sư nên người ta viết nhầm địa vị và công lao của sư lên bài vị để thờ trong chùa. Bài vị của sư được viết như sau: “Tự Động Thượng, chánh tông nhị thập cửu thế, khai sơn Linh Mụ tự, thượng Thạch hạ Liêm huý Đại Sán lão tổ hoà thượng giác linh” (嗣洞上正宗二十九世開山靈姥寺上石下濂諱大汕老祖和尚覺靈). Chùa Thiên Mụ trải qua nhiều đời, có gần 150 trăm năm trước khi sư Đại Sán đến chùa hoằng pháp chỉ trong 1 thời gian ngắn. Do vậy, sư không thể là lão tổ sư của chùa được. Căn cứ vào tên chùa trong bài vị, chúng ta nghi rằng sự nhầm lẫn này đã xảy ra vào thời hoặc sau đời Tự Đức. Vua Tự Đức không có con, nghĩ rằng mình phạm tội với trời nên xuống chiếu đổi chữ Thiên ra chữ Linh. Bảy năm sau, không thấy hiệu nghiệm gì, do đó vua Tự Đức lại cho đổi lại thành Thiên Mụ (3). Hiện giờ sư Đại Sán được tôn thờ như một vị tăng cang hay là sư tổ của chùa, có thể vì do sự nhầm lẫn đáng tiếc như đã nói ở trên. Theo sách “Eminent Chinese of the Ching Period” (4) thì “sư Đại Sán là người giúp đở đắc lực nhất cho Ngô Ỷ trong việc xuất bán sách. Sư Đại Sán giàu có, một phần là nhờ sự cung dưỡng của bọn Thượng Chi Tín và của bọn quan viên quản lý việc mua bán với nước An Nam. Y dùng của cải đó để giúp đỡ cho các văn nhân đương thời nên rất nổi tiếng”. Giáo sư Trần Kinh Hoà (Chen Ching Ho), một sử gia Việt nam, gốc Taiwan, đã từng giảng dạy tại các đại học như Sài Gòn, Huế, Hongkong và Soka University ở Tokyo trong sách “Thập Thất Thế Kỷ Quảng Nam Chi Tân Sử Liệu” (5) viết rằng: ”…khoảng giữa triều đại Khang Hy, ở xã hội vùng Lĩnh Nam và trên thi đàn, sư Thạch Liêm tiếng tăm lừng lẫy. Ngoài những kẻ có liên hệ với chùa Trường Thọ, còn có những bọn thương gia Tàu và Nhật chuyên đi lại buôn bán với Quảng Nam (chỉ Thuận Hoá của Đại Việt). Đọc sách của sư còn lưu truyền lại như Hải Ngoại Kỷ Sự (海外紀事)(6) và Ly Lục Đường Thi Tập (離六唐詩集) (7), chúng ta nhận thấy rõ vị sư này tự phụ, đắc ý tỏ ra ngoài mặt, quyết chẳng phải một nhà tu hành khiêm tốn… Đối với bọn trí thức thời bấy giờ, vì sư sinh sống xa xỉ, tính ương gàn tự thị, dua nịnh quan trường, lời lẻ kiêu căng, nên có nhiều người phiền trách và xem y như là yêu tăng…Các quan lại nghi ngờ y buôn lậu với An Nam. Cứ theo Hải Ngoại Kỷ Sự kể thì lúc khởi hành từ Quảng Đông đi Hội An thì :”…Tăng chúng đi theo hơn 50 người, hành lý cũng nhiều, thuyền chủ nhìn nhau chẳng biết sắp đặt cách nào…” Đoạn văn nầy chứng thực được hàng hoá Đại Sán đưa qua Đại Việt khá nhiều…. Kết quả chuyến du hành An Nam, chở về nhiều thuyền châu báu như tê giác, sừng voi, san hô, châu ngọc v.v. không phải là ít, khó lòng tránh khỏi sự kinh ngạc của giới nhân sĩ Lĩnh Nam. Do những lời đồn đại về buôn lậu vớí Quảng Nam (An Nam) nên đã gây ra mầm mống tai hoạ cho y sau này…. Sau cùng Đại Sán bị quan đương thời bắt giam và chết trên đường áp giải về quê” (5). Ở đây, chúng ta không luận bàn về những nhận định về hành động và phẩm cách của sư ở Quảng Đông, mà chúng ta chỉ xem xét về sự liên hệ của sư đối với quốc chủ Đại Việt thời ấy là chúa Nguyễn Phúc Chu và Phật duyên với chùa Thiên Mụ.

Bắt đầu từ giữa thế kỷ 17, không những ở nước Đại Việt mà còn ở Trung Quốc, là thời loạn lạc triền miên. Ở Trung Quốc, nhà Thanh chiếm cứ đánh đuổi nhà Minh. Vua Thanh Thái Tổ diệt được nhà Minh và lên ngôi năm 1644. Từ đó, những phong trào phò Minh diệt Thanh xảy ra khắp nơi. Đấy là vào thời dân Tàu thờ nhà Minh tràn qua lánh nạn nhà Thanh ở Đại Việt ta, sinh ra lượt sóng di dân từ miền nam Trung Quốc sang. Cũng vào thời đó, chính là lúc Trịnh Nguyễn phân tranh. Ở đàng trong các chúa Nguyễn tìm cách củng cố đế nghiệp để chống chọi với Trịnh ở phương bắc. Các chúa Nguyễn ngoài việc lo chống cự với phương bắc, nhưng đồng thời cũng lo bành trướng thế lực vào phương nam. Thế nên các chúa Nguyễn đã rất khôn khéo trong việc sử dụng nguồn nhân lực và tài lực từ ngoài vào. Các chúa đã sử dụng các người gốc nhà Minh này để khai khẩn và sử dụng như những đạo tiền quân, vừa khai khẩn vừa chống chọi với Chân Lạp. Do đó sự thông thương giữa Trung Quốc và Đại Việt vào thời bấy giờ đã trở nên cấp bách và cần thiết, dù rằng đường bộ gặp sự cách trở vì thế lực của Trịnh và Lê ở đàng ngoài. Nhưng vì thế mà cảng Hội An đã trở thành một thương cảng quốc tế tấp nập để thông thương bằng đường biển với Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Dương, Ấn Độ v.v. Thế lực của các chúa Trịnh đã làm lu mờ vai trò của vua Lê đối với các chúa Nguyễn ở đàng trong. Nho giáo không còn đủ sức cứu giúp nhà Lê. Nho giáo suy đồi, nên nhu cầu Phật giáo càng ngày càng quan trọng. Trong bối cảnh luồng sóng thông thương từ Trung Quốc và Nhật Bản vào Đại Việt, Phật giáo Đại thừa (Mahayana) (8) cũng theo vết chân di dân đó bành trướng đến miền trung nước Đại Việt. Sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên (quyển 8, trang 17) chép việc trùng tu chùa Thiên Mụ vào năm 1714 có ghi: ”…sai người qua Tàu mua Kinh, Luật và Luận hơn 1000 quyển…”. Đây cũng là kết quả rõ ràng nhất về việc Phật giáo Đại thừa bành trướng vào đàng trong, sau khi việc sư Đại Sán được mời đến Thuận Hoá và tạm trú một thời gian ở chùa Thiên Mụ. Sở dĩ sư Đại Sán nổi tiếng trong giới Phật giáo, được tôn sư cho tới bây giờ và được phụng thờ ở chùa Thiên Mụ chẳng phải hoàn toàn do tài đức hoằng pháp của sư đối với Đại Việt ta, nhưng vì sư có một người đệ tử tài ba, lỗi lạc và danh tiếng. Đó là Đại Việt quốc chủ chúa Nguyễn Phúc Chu. Chúa Nguyễn Phúc Chu là người có công lớn trong công việc đại trùng tu chùa Thiên Mụ, dựng bia, đúc chuông lớn, còn lưu truyền cho đến ngày nay. Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí (9) quyển Kinh Sư, phần Tự Quán chép rằng: “…Chùa Thiên Mụ ở ngoài kinh thành, trên gò núi xã An Ninh (bây giờ thuộc làng Xuân Hoà), nguyên trước có chùa Phật. Gia Long năm thứ 14 xây lại…Nay xét bản triều Thái Tổ Hoàng Đế (tức chúa Tiên Nguyễn Hoàng) Tân Sửu năm thứ 44 (tức năm 1601) xa giá đến viếng Hà Khê, thấy giữa đồng bằng nổi một gò đất cao như hình đầu rồng quay lại, nhìn thẳng ra sông, phía sau có hồ, cảnh trí đẹp đẽ, nhân hỏi chuyện, người địa phương bảo rằng: …gò này linh thiêng, tương truyền ngày xưa ban đêm có người trông thấy một vị tiên bà mặc áo đỏ quần lục ngồi trên gò nói rằng: “Sau này sẽ có vị chân chúa đến sửa lại chùa này, tụ linh khí để giữ long mạch cho được bền vững”, nói xong biến mất, nhân đó đặt tên là Thiên Mụ Tự…Thái Tông Hoàng Đế (tức chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần) Ất Tỵ năm thứ 17 (1665) sửa chữa lại, Hiển Tông Hoàng Đế Canh Dần năm thứ 19 (1710) đúc chuông lớn, năm Giáp Ngọ năm thứ 23 (1714) trùng tu chùa…”. Hiển Tông hoàng đế tức là Hiển Tông Hiếu Minh hoàng đế, đế hiệu của chúa Nguyễn Phúc Chu. Chúa Nguyễn Phúc Chu lên ngôi năm 1691, trẻ tuổi , tài ba xông xáo ra bắc vào nam, mở mang bờ cõi nhưng cũng rất tôn sùng đạo Phật. Do vậy chuyện mời sư học đạo cũng là chuyện tất nhiên. Chúa Nguyễn Phúc Chu nhân lúc sư Đại Sán còn ở Đại Việt đã quy y học đạo, tôn sư làm thầy. Nhân duyên này đã khiến chúa cho trùng tu lại chùa Thiên Mụ trong tinh thần nhớ ơn vị thầy mà mình đã quy y. Chúa đã cho khắc vào bia (10) những dòng chữ trịnh trọng như sau: “…Nhớ lại năm xưa, mời được Đường đầu đại sư, tên chữ là Đại Sán, hiệu Thạch Liêm. Ngài là bậc thầy, nguyện lực thâm sâu, lòng thương rộng lớn, y báo chánh báo vô biên, đạo thấu ba thừa, tu có tông chỉ như cây có gốc, nước có nguồn. Ngài được truyền tâm ấn ở đất Chiết Tây Trung Quốc…”. Và những hàng chữ nhớ thương vô vàn: “…Thầy ta đã đi rồi, ta cứ hoài thương nhớ vị cao tăng, đã từng chống gậy vượt qua núi non, quan ải, dùng thuyền chở đạo, vượt biển, băng suối đi đến trời Nam, đem câu kinh kệ tuyệt diệu để ca tụng đạo mầu…”. Mối liên hệ giữa chúa Phúc Chu và sư Đại Sán khá mật thiết. Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên (q. 6, trang 24) còn ghi lại thi văn của sư, sau khi sư đã trở về lại Quảng Đông, gửi cho chúa để tỏ lòng thương nhớ. Những bài thi văn này trích trong hai tập sách của sư là Hải Ngoại Kỷ Sự và Ly Lục Đường Thi Tập vẫn còn lưu truyền cho tới ngày nay. Theo Tổng mục đề yếu Tứ Khố Toàn Thư (四庫全書) (tập hợp sách sử của vua Càn Long, hoàn thành năm 1782) (11), loại địa lý, mục 7 chép rằng” Hải Ngoại Kỷ Sự gồm 6 quyển do quốc triều Thích Đại Sán biên soạn. Tuần Phủ Chiết Giang tìm thấy đem dâng: “…Đại Sán là sư chùa Trường Thọ, tỉnh Quảng Đông. Mùa xuân năm Ất Hợi triều đại Khang Hy, Đại Việt Quốc Vương mời qua thuyết pháp, hơn một năm lại trở về. Sách chép những điều tai nghe mắt thấy, phong tục tập quán nước ấy. Tiên vương của nước Đại Việt là rể của nước An Nam (chỉ Nguyễn Hoàng) (12), chia cứ miền nam, xưng hiệu là Đại Việt. Đầu sách có bài tựa của Nguyễn Phúc Chu, dưới cuối đề tháng 5 năm Bính Tý, tức là Khang Hy năm thứ 35 vậy…”. Chính nhờ hai cuốn sách này, nhất là cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự, chúng ta biết được một ít về con người và khúc phim lịch sử về cuộc hành trình của sư Đại Sán qua Thuận Hoá cùng mối liên hệ của sư đối với chúa Nguyễn Phúc Chu. Nhiều người lầm tưởng sư Đại Sán được chúa Nguyễn Phúc Chu mời sang. Nhưng thật ra, bắt đầu từ thời vua cha của chúa Phúc Chu là Anh Tông hoàng đế (tức chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Trăn (Thái) 1687-1691) khi đang còn tại thế đã từng hạ lệnh cho Tạ Nguyên Thiều (謝元韶) qua Quảng Đông mời Đại Sán sang Đại Việt hoằng pháp. Bia của chúa Nguyễn Phúc Chu dựng tại chùa Quốc Ân, Huế, đời Lê Dụ Tông thứ 10 có viết: “Hoán Bích Thiền Sư Tạ Nguyên Thiều ở chùa Hà Trung (Thừa Thiên) vâng lệnh chúa Nghĩa sang Quảng Đông mời Đại Sán Hoà Thượng”. Sách Đại Nam Nhất Thông Chí quyển Thừa Thiên, phần tăng lữ viết: “…Tạ Nguyên Thiều tên chữ là Hoán Bích, người gốc Triều Châu tỉnh Quảng Đông, nhà Thanh, xuất gia lúc 19 tuổi. Qua Đại Việt thời Thái Tông Hoàng Đế (tức chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần), đến Qui Ninh (Nay Quy Nhơn) xây chùa Di Đà, hoằng dương Phật pháp… Sau đó ra Thuận Hoá, xây chùa Quốc Ân. Tạ Nguyên Thiều vâng lệnh Anh Tông Hoàng Đế sang Quảng Đông mời cao tăng Thạch Liêm Hoà Thượng. Khi về lại Thuận Hoá, ra trụ trì chùa Hà Trung. Khi mất Hiển Tông Hoàng Đế tặng tên thuỵ là Hạnh Đoan Thiền Sư”. Trong bối cảnh lịch sử loạn ly của cả Trung Quốc và Đại Việt thời đó, với dòng người di dân gốc Minh sang, văn hoá chính trị của Đại Việt đã bị ảnh hưởng rất nhiều. Nhưng tại sao vua Anh Tông cho Tạ Nguyên Thiều sang Trung Quốc tìm kiếm cao tăng, vì lý do chính trị hay là tôn giáo, chúng ta hiện tại khó tìm ra được nguyên do. Các chúa Nguyễn kế vị vua Anh Tông tiếp tục muốn tìm cách dùng ảnh hưởng của nhà Thanh để kềm chế vua Lê chúa Trịnh chăng? Điều này cũng có thể là một nguyên do, hay là do tôn giáo tính của người thời bấy giờ thúc đẩy . Nhưng Đại Sán, tức Thạch Liêm Hoà Thượng qua Thuận Hoá không phải là kết quả trực tiếp của chuyến đi của họ Tạ, mà là do nhân duyên của chúa Phúc Chu với sư. Trong bài Tự (tựa), do chúa đề tặng trên sách Hải Ngoại Kỷ Sự thì: “…Ta khi còn làm Thái Tử vẫn thường hay ngưỡng mộ thầy ta ở chùa Trường Thọ. Vua cha ta lúc trước đã gửi thư hai lần mời mà không được. Mùa thu năm Giáp Tuất ta muốn thọ Bồ Tát Giới nên nối chí vua cha, ta đưa người qua rước, may được Hoà Thượng nhận lời mời…” (長壽本師老和上余自居儲來積慕有年先王書聘至再弗顧甲戌秋欲受菩薩戒法繼志敦請果適我願). Trong Hải Ngoại Kỷ Sự quyển một, cũng có ghi hàng chữ như sau: “…Ngày mùng 4 tháng 8 năm Giáp Tuất, người nhà gõ cửa tin cho biết có khách là sứ giả nước Đại Việt đến. Sứ giả người tỉnh Phúc Kiến, tay nâng phong thư giấy vàng cung kính, sụp lạy dâng lên cùng với các lễ vật… thưa rằng “Đại Việt Quốc Vương từ lâu ngưỡng mộ Hoà Thượng. …Kể từ tiên vương (tức Nghĩa vương) đã có thư mời, đến nay nữa là ba lần cả thảy. Mời đến ba lần cũng đã thành tâm lắm vậy…”. Đối với sự ân cần mời rước, sư Đại Sán dĩ nhiên vui lòng tiếp nhận lời mời của chúa Nguyễn Phúc Chu. Câu văn trên giúp ta suy nghĩ rằng chuyện vị sư Tàu này qua Đại Việt, có thể do vấn đề tôn giáo hơn là chính trị. Cuộc hành trình đầy sóng gió và thú vị từ Quảng Đông đến Thuận Hoá đã được ghi lại trong tập Hải Ngoại Kỷ Sự tất cả những điều tai nghe mắt thấy trong lúc Đại Sán du hành vào đất Thuận Hoá. Sư từ Hoàng Phố tỉnh Quảng Đông, đáp thuyền buôn đi Hội An vào đêm treo đèn rằm tháng giêng năm Ất Hợi (Khang Hy thứ 34, tức ngày 27 tháng 2 năm 1695), khoảng hơn hai tuần lễ lênh đênh trên biển, thuyền đến Cù Lao Chàm ngoài cửa biển Hội An, rồi chuyển sang chiến thuyền của chúa Nguyễn Phúc Chu, đi thẳng vào đất Thuận Hoá vào ngày 29 tháng 1 năm Ất Hợi (ngày 13 tháng 3 năm 1695), ngụ tại chùa Thiền Lâm, Huế và làm quốc khách của chúa Phúc Chu. Đến ngày 28 tháng 6 năm đó (ngày 7 tháng 8 năm 1695) sư vào Hội An chuẩn bị đáp thuyền buôn trở về Quảng Đông, song bị đau nên phải lưu lại. Chúa Nguyễn Phúc Chu nghe tin bèn khẩn hoảng mời sư từ Hội An ra lại Thuận Hoá, tạm trú tại chùa Thiên Mụ từ ngày 16 tháng 10 (ngày 22 tháng 11 năm 1695) để dưỡng bệnh và hoằng pháp cho tới hạ tuần tháng 6 năm sau (1696) mới trở về lại Quảng Đông. Chúa Nguyễn Phúc Chu là vị vua tuổi trẻ, tài ba nhưng lại có lòng tu Phật, mong đem tâm Phật mà trị nước, quy y đầu Phật với sư. Trong bài Tự sách Hải Ngoại Kỷ Sự, chúa Phúc Chu viết: “…Đại Việt Quốc Vương Nguyễn Phúc Chu thọ Bồ Tát Giới pháp danh Hưng Long đãnh lễ, viết vào ngày tháng năm năm Bính Tý…” (丙子蒲月大越國王阮福週受菩薩戒弟子法名興龍頂禮). Trong Ly Lục Đường, bài tựa của Đường Hóa Bằng viết rằng: “…Hoà thượng là đời thứ 29 dòng Tào Động, con của Trượng Nhân…”. Cho đến khi chúa Phúc Chu đại trùng tu chùa Thiên Mụ, chúa xưng là dòng Tào Động thứ 30 và khắc danh vào bia đá như sau (10): “…Chúa dựng chùa Thiên Mụ, Chúa Nguyễn Phúc Chu kế truyền chính tông phái Động Thượng đời thứ 30, pháp danh Hưng Long, hiệu Thiên Túng Đạo Nhân ghi văn bia và dựng bia bền vững ở chùa Thiên Mụ xứ Thuận Hoá…”. Trong suốt hơn một năm ở lại Thuận Hoá, hoạt động chính của sư Đại Sán là việc triệu tập tăng chúng toàn quốc, mở ba pháp đàn truyền giáo là trọng yếu. Việc ấy nhằm mục đích nhắm vào việc chấn hưng Phật giáo, thanh trừng những phần tử truỵ lạc và cũng để đáp lại lời than phiền của chúa Nguyễn Phúc Chu nêu lên về những tệ đoan trong giới Phật giáo thời ấy. Nhân dịp đó chúa cùng mẹ và con gái quy y, thọ Bồ Tát Giới và nhận pháp danh do sư đặt ra. Ngoài những hoạt động Phật pháp, có lẻ những điều giúp ích nhất cho chúa Nguyễn Phúc Chu là những điều chỉ vẽ, đề nghị liên quan đến việc trị nước trong những lần đôi bên đàm đạo với nhau. Cuối quyển hai của Hải Ngoại Kỷ Sự viết rằng “…Ta bèn đem những việc chính trị bàn luận mấy ngày nay, chép ra từng điều một, làm thành bản điều trần “Lập Quốc Chính Ước” (立國政約) gồm 18 điều, đều là những chuyện thương lính, yêu dân, thông thương lợi quốc, kỷ cương pháp độ, chép từng chi tiết rõ ràng. Vương đọc xong mừng rỡ, bảo Nội quan Chưởng Sự rằng “Pháp độ, dân tình nước ta đều chưa được đúng đắn, nay nhờ lão Hoà Thượng đem phép lễ Trung Quốc chỉ dạy, liệt kể 18 điều, nên khắc yết lên cửa phủ, hiểu dụ quan dân đều biết, và khắc 24 thẻ bài, chia loại rõ ràng. Hễ ai làm trái điều lệ, phạm phép, cho kẻ bị thiệt hại cầm thẻ bài đến kêu. Bất kể là quân dân, hoàng thân quốc thích đều theo pháp luật mà trị tội. Vĩnh viễn lấy đó làm quốc chánh vậy…”. Thật đáng tiếc trong Hải Ngoại Kỷ Sự không thấy ghi lại nội dung bản “Lập Quốc Chính Ước” này! Ngoài ra, khi mớí đặt chân đến Thuận Hoá, sư dâng lên cho chúa bản điều trần “Điều trần về việc của nước Đại Việt (大越事宜)”có nội dung rõ ràng như sau:

1. Nên tiến cống nhà Thanh để chính danh
2. Đặt đồn thú để củng cố biên thuỳ
3. Thương yêu quân sĩ để cổ võ lòng trung dũng
4. Mở mang trường học để giáo dục nhân tài

Chúa Nguyễn Phúc Chu, đối với sư Đại Sán rất đổi kính trọng, tôn kính và dốc lòng học hỏi. Ngược lại, trên cương vị quốc khách Đại Sán dù có phần tự kiêu, tự đại, tự phụ, nhưng đối với chúa và các đại quan trong triều, sư Đại Sán vẫn có lòng thành và kính nể. Trong bản điều trần trên, sư viết “…Người xưa bảo rằng “Kẻ ngu nghĩ ngàn điều cũng có một điều được”, tôi đã nhận lời mời của nhà vua đến đây, nếu biết mà không nói, ấy là phụ lòng vua, mà cũng tự phụ mình. Sau đây trích ra vài điều bày tỏ, tạm gọi là tỏ chút lòng thành…”. Điều đặc biệt nên nhắc tới là trong Hải Ngoại Kỷ Sự, sư gọi chúa Nguyễn Phúc Chu là Quốc Vương, Đại Vương, Vương v.v, còn xưng nước ta là Đại Việt. Trong bài Khải (啟), sư dâng lên cho chúa lúc mới đến Thuận Hoá có những câu: “…Quý Vương quốc từ xưa khai sáng Thuận Hoá, Thanh Hoá, tám trấn Tam Giang, hùng cứ bốn mươi bảy châu. Quý Đại Vương nối nghiệp đã có, Kiến Bình, Tân Bình bao la, thiên sơn vạn thuỷ…Nay kính, Đại Việt đức chúa điện hạ ngân an…”. Việc xưng hô này cũng là một điều rất hiếm xảy ra đối với nhân sĩ Trung Quốc lúc xưa, khi mà họ đang còn gọi các nước vùng ven biên Trung Quốc là Rợ, Di, Man v.v. Đây cũng chính là một trong những “tội trạng” mà nhân sĩ Quảng Đông thời bấy giờ buột tội sư!. Trong bài khảo cứu về “Tiểu Sử của Thích Đại Sán”, GS Trần Kinh Hoà dẫn chứng: “…Trong bài của Mậu Thuyên Tôn (về sự lược Thạch Liêm Hoà Thượng) có dẫn bài kể tội Đại Sán của Phan Thứ Canh gửi cho Đại Đương Sự tỉnh Việt (Quảng Đông) có câu như sau “…Xét lúc An nam Mạc thị (chỉ Mạc Đăng Dung) mới quy thuận, chỉ phong Đô Thống Sứ, nay Nguyễn Phúc Chu chưa xin phong, chưa chịu sắc mạng triều đình, sao được xưng là “Vương phủ”, nghiễm nhiên ngang hàng với các thân vương Trung Quốc,…hay sao?…”. Ảnh hưởng của sư đối với chúa Nguyễn Phúc Chu như thế nào, xem bài Tự trong Hải Ngoại Kỷ Sự, chúa viết “…Từ lúc đến vào mùa xuân năm Ất Hợi cho tới mùa hạ năm Bính Tý, được gần gũi cung dưỡng. Ngoài chuyện ngày đêm giảng dạy đạo lý, còn chỉ bảo cương kỷ luân thường. Từ chuyện to đến chuyện nhỏ đều vạch lối chỉ đường, phân tích rõ ràng mạch lạc, khác nào dẫn dắt người từ nơi tối tăm ra nơi ánh sáng, giúp ích cho ta trong công việc chính cương trị nước biết chừng nào…” (從乙亥春抵國迄丙子夏供養親近靡間晨夕禪論之餘大而綱常倫紀小而事物精粗莫不條分縷析理明詞暢若人從幽暗中挈諸青天皎日之上其為裨益政治實多). Xem tổng quát những sự việc ghi chép trong sách Hải Ngoại Kỷ Sự, chẳng những sư Đại Sán được vua tôi quan dân Thuận Hoá nhiệt liệt hoan nghênh, những lời nói trong những cuộc đàm đạo với chúa, với các quan đại thần, cho đến phong tục, tập quán, tình hình sinh hoạt của dân chúng, kiến trúc của vương phủ, những hoạt động luyện tập quân lính, sự phong phú của tài nguyên thiên nhiên, khí hậu cay nghiệt, ngay đến cả tình trạng hoạt động của ngoại kiều (Hoa, Nhật), cũng như sự tấp nập của cảng Hội An thời đó, đều được đôi nét chấm phá ghi lại. Sách còn thu góp tất cả những bài thơ tức cảnh, thơ đối đáp, đề vịnh, rất phong phú gần cả 120 bài. Đặc biệt trong thời gian lưu lại chùa Thiên Mụ, sư có làm hai bài thơ tả cảnh chùa Thiên Mụ rất hay như sau:

Bài số 1

梵王宮闕阮王開

玉殿朱門生緣苔

一代榮光餘草木

千秋花雨結香臺

庭前雲影山連水

檻外帆飛去復回

未識謫仙天姥賦

夢遊可是此中來

Bài số 2

當年王氣出中流

霸業還歸梵貝修

石闕不畱秦歲月

敕書尚載漢春秋

海潮沙界三千里

風雨鐘鳴百八州

佛火一龕燒栢子

坐消寒月不知愁

Bài số 1

Phạn vương cung khuyết Nguyễn vương khai

Ngọc điện chu môn sinh duyên đài

Nhất đại vinh quang dư thảo mộc

Thiên thu hoa vũ (1) kết hương đài

Đình tiền vân ảnh sơn liên thuỷ

Hạm ngoại phàm phi khứ phục hồi

Vị thức trích tiên Thiên Mụ phú

Mộng du khả thị thử trung lai

Bài số 2

Đương niên vương khí xuất trung lưu

Bá nghiệp hoàn qui phạn bối tu

Thạch khuyết bất lưu Tần tuế nguyệt

Sắc thư thượng tải Hán xuân thu

Hải triều (2) sa giới (3) tam thiên lý

Phong vũ (4) chung minh (5) bách bát châu

Phật hoả nhất kham thiêu bá tử

Toạ tiêu hàn nguyệt bất tri sầu

Bài số 1 dịch thơ:

Phật Tổ chùa đây chúa Nguyễn xây

Cửa son điện ngọc mọc rêu đầy

Cỏ cây vương dấu dòng vinh hiển

Hương án thờ ghi nghiệp đế dày

Sông núi ngoài sân mây lộn bóng

Đi về ngoài cổng cánh buồm bay

Chưa nghe huyền thoại bà Thiên Mụ

Mộng tưởng thì đây lại chốn này

Bài số 2 dịch thơ

Ở đây vương đế dấy từ lâu

Việc lớn làm nên bởi nghiệp tu

Năm tháng Tần xưa bia mất dấu

Xuân thu Hán cũ sách còn lưu

Câu kinh bay rộng ba ngàn dặm

Tiếng kệ vang xa trăm tám châu

Đốt củi bách tùng khêu lửa Phật

Nhìn trăng thanh thản suốt đêm thâu

Bản dịch của Hữu Vinh

Chú thích:

1. Hoa vũ: Mưa hoa, nhiều hoa. Lấy ý danh từ Phật giáo: Hoa, chỉ một trong 6 loại dùng để cúng dường. Kinh Đại Nhật (大日經) viết: Hoa, gợi ý từ bi, là hạt nhân của lòng thanh tịnh. Chỉ việc cúng thờ.

2. Hải triều: do chữ Hải Triều Âm (海潮音), chỉ tiếng tụng kinh lớn như sóng biển ỳ ầm

3. Sa giới: chỉ số nhiều, nhiều như cát sông Hằng.

4. Phong vũ: Lấy từ tên kinh “Chỉ phong vũ kinh” (止風雨經), chỉ việc tụng kinh

5. Chung minh: Lấy từ chữ “Chung phạn (鐘梵)”. Trong Tính Linh tập (性靈) có câu: “Kinh phạn đoạn nhi diệc tục”, chỉ việc kiên trì kinh kệ.

Cuộc hội ngộ giữa chúa Nguyễn Phúc Chu và sư Đại Sán, được ghi lại trong Hải Ngoại Kỷ Sự đã để lại trong lịch sử bang giao Trung Việt một đề tài đặc biệt, kỳ thú và hấp dẫn. GS Trần Kinh Hoà trong sách “Thập Thất Thế Kỷ Quảng Nam Chi Tân Sử Liệu” viết rằng: “…Cuộc đời của Đại Sán ly kỳ biến ảo, về già lại bị tù tội. Tuy thái độ, hành vi của y khá khen nhưng chê cũng nhiều. Song chúng ta nhận thấy, y có một nhân cách phóng đãng, không chịu bị gò bó. Thực như bài đề yếu Hải Ngoại Kỷ Sự trong Bút Ký Tiểu Thuyết Đại Quan Bản đã viết: “…Tuy có những tiếng tăm không ngờ, nhưng ông vẫn là một người mượn cớ để lánh đời, muốn mượn văn chương để tỏ chí mình, điều đó thực rõ như ban ngày vậy…”. Chuyện du hành qua Quảng Nam Đại Sán đã làm cho vua tôi chúa Nguyễn cảm mến và long trọng cung dưỡng, cho đến thái độ thành thực của Đại Sán đối với họ, dù rằng những ghi chép trong sách có phần tô vẽ ít nhiều, đôi khi bộc lộ kiêu căng, nhưng cũng có thể được xem như là một trang phụ, thú vị trên lịch sử quan hệ Trung Việt. Sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên quyển 6 trang 24 chép rằng: “… Vào triều Minh Mạng, vua sai Trương Hiếu Hợp đi sứ sang Trung Quốc, có ghé lại Quảng Đông đến thăm chùa (Trường Thọ). Các tăng trong chùa vẫn còn nhắc lại chuyện sư Thạch Liêm…”, đó là một chứng cớ rõ ràng”.

Hiển nhiên, sư Đại Sán có ảnh hưởng không nhỏ đối với chúa Nguyễn Phúc Chu trong công việc chấn chỉnh triều cương, chấn hưng và truyền bá Phật giáo. Nhưng xét lại những lời lẽ và những việc làm ghi trong sách Hải Ngoại Kỷ Sự, sư Đại Sán chỉ có thể được xem như là một cố vấn được chúa Nguyễn Phúc Chu trọng dụng và kính nể, chứ không đáng được để tôn thờ như là một vị tổ sư của chùa Thiên Mụ. Đây hẳn là một sự nhầm lẫn đáng tiếc! Xem sách Đại Nam Nhất Thống Chí, sách được tu bổ sau các sách Đại Nam Thực Lục, cũng chỉ ghi lại công lao hoằng pháp của sư Tạ Nguyên Thiều (Hạnh Đoan Thiền Sư) mà thôi.

Tham khảo:

1. “Ô Châu Cận Lục”, Dương Văn An, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1997

2. “Material on the Sino-Vietnamese relations in the DAI NAM THUC LUC (Veritable Record of Vietnam”, Wen-Tang Shiu, Academia Sinica, Taipei, Taiwan, 2000 (Tóm lược sự liên hệ giữa Việt nam và Trung Quốc trong Đại Nam Thực Lục)

3. “Huế, vài nét cố đô”, Mai Ưng, nhà xuất bản Hội Nhà Văn Công Ty Quản Lý Di Tích Huế, 1991

4. “Eminent Chinese of the Ching Period”, Arthur W. Hummel ,Taipei, 1991, SMC Publishing Inc.

5. “Thập Thất Thế Kỷ Quảng Nam Chi Tân Sử Liệu”, Chen Ching Ho, nhà xuất bản Trung Hoa Tùng Thư, 1960 (十七世紀廣南之新史料,陳荊和著)

6. “Hải Ngoại Kỷ Sự”, Thích Đại Sán, nhà xuất bản Tân Văn Phong, Taipei, 1997 (海外紀事 六卷 / (清)大汕厂翁撰),臺北市新文豐出版公司, 1997[民86] )

7. “Ly Lục Đường Tập”, Thích Đại Sán, Bắc Kinh Xuất Bản Xã, Bắc Kinh, 2000(離六堂集 十二卷 / (清)釋大汕撰,北京市北京出版社, 2000[民89] )

8. “Buddhism in Vietnam”, Le Manh That, Budden Gyoshi,. http://www.quangduc.com

9. “Đại Nam Nhất Thống Chí”, Cao Xuân Dục, Đời Duy Tân thứ 3, 1910, Hội Nghiên Cứu Indochina, Tokyo, 1941

10. “Bia chùa Thiên Mụ của chúa Nguyễn Phúc Chu”, Thích Giới Hương dịch, Thích Trí Tựu cung cấp, 1994
11. “Khâm Định Tứ Khố Toàn Thư Đề Yếu”, Vua Càn Long, 1782, Academia Sinica, Taipei, Taiwan (欽定四庫全書提要 一百十四卷, 解題一卷, 補遺一卷, 附錄三卷 / (清)乾隆47年(1782),中央研究院 ,台北,台灣)
12. “Việt Nam Khai Quốc Chí Truyện”, Nguyễn Bảng Trọng, Chen Ching Hao khảo đính, Ecole Francais d’Extreme Orient, Học Sinh Thư Cục xuất bản xã, Taipei, 1992 (越南開國志傳,法國遠東學院,台灣學生書局出版,1986,台北,台灣)
13. “Phật Học Đại Từ Điển”, Phật Quang Văn Hoá Xuất Bản Xã, Taipei, Taiwan (佛學大辭典,佛光文化出版社,台北,台灣)

Phụ Lục: Photocopy bài Tự (Tựa) của chúa Nguyễn Phúc Chu viết ở phần đầu sách Hải Ngoại Kỷ Sự”, có đóng dấu ấn triện của chúa.

Chùa Thiền Lâm chồng chất những bí ẩn
1. Thiền Lâm, ngôi chùa lịch sử

Chùa Thiền Lâm thuộc hệ phái Tào Động, khai sơn vào cuối thế kỷ XVII. Theo các bài vị còn thờ ở chùa Thiền Lâm và bia tháp còn tìm thấy thì chùa do Hòa thượng Khắc Huyền hiệu là Như Tư (viên tịch vào năm 1706) khai sơn. Vị tổ thứ hai là Hòa thượng Hưng Liên hiệu là Quả Hoằng là quốc sư của chúa Nguyễn Phúc Chu [1]. Lúc đầu chùa chỉ là một thảo am dành riêng cho người thân trong gia đình các chúa tụng niệm mỗi lần họ lên trú đông ở Phủ Dương Xuân.

Chùa Thiền Lâm lúc đầu thuộc Phủ chúa, vì thế khoảng năm 1695, chúa Nguyễn Phúc Chu mời Hòa thượng Đại Sán từ Quảng Đông sang, Chúa mời Hòa thượng về trú ở chùa Thiền Lâm. Về sau, trong bút ký Hải Ngọai Kỷ Sự, Thích Đại Sán cho biết chùa chỉ có: “ba gian lợp bạch mao” [2] với vị trí: “dựng ở đầu cao chất ngất, xuyên ngang gò núi một đường thông” với: “đôi dòng nước biếc tưới ven biền” [3]. Vì thế Thích Đại Sán than phiền với chúa Nguyễn Phúc Chu là chùa: “chật hẹp không được khoan khoái” [4] Chúa Nguyễn Phúc Chu liền cho vừa lính vừa thợ chừng một ngàn người làm việc trong ba ngày thì hoàn thành: “một tòa phương trượng 5 gian, 32 cột, bốn phía có hành lang, vách tường, rầm thượng, rầm hạ đều bằng ván, và một nhà hậu liêu 5 gian, 20 cột” [5] . Từ đó Thiền Lâm trở thành một ngôi đại tự. Chùa có thể chứa hàng ngàn tăng chúng đến thọ giới.

A.010(b).- Chân dung Thích Đại Sán

Gần năm mươi năm sau, thời chúa Nguyễn Phúc Hoạt/Khoát chùa Thiền Lâm lại được đại trùng tu. Lần đại trùng tu nầy không được sử sách nhà Nguyễn viết, chúng ta chỉ có thể biết được qua thơ văn của Phan Huy Ích. Mở đầu bài thơ Kinh Thiền Lâm phế tự cảm tác, Phan Huy Ích viết: “Tự tại Dương Xuân xã sơn, thử ư cựu Võ Hiếu Vương thời, viện vũ cao xưởng…” (Chùa ở núi thuộc xã Dương Xuân, bắt đầu dựng từ đời Võ Hiếu Vương, nhà cửa cao to) [6]. (xem A.011).

A.011.- Trong bài thơ Kinh Thiền Lâm Phế Tự Cảm Tác, trong ”Dật thi lược toản”, Phan Huy Ích cho biết chùa Thiên Lâm: “Tự tại Dương Xuân Xã Sơn” (chùa ở núi thuộc xã Dương Xuân) .

Bàn sao tài liệu gốc lưu trữ tại Viện Hán Nôm do Đinh Khắc Thuân cung cấp

Sau năm 1786, Phong trào Tây Sơn chiếm được Phú Xuân, Bùi Đắc Tuyên – cậu ruột của của vua Quang Tỏan lại chiếm chùa Thiền Lâm làm dinh Thái sư. Năm 1795, Bùi bị “đảo chính” bắt giết, chùa Thiền Lâm rơi vào hoang phế tạm dùng làm kho than.

Thời Gia Long, Thừa Thiên Cao Hoàng hậu quyên tiền trùng tu. Đến cuối thế kỷ XIX (khoảng năm 1897-1898), kỷ sư Kiều lộ Sali thực hiện chủ trương của Thực dân Pháp mở Nam Giao Tân Lộ (nay là đường Điện Biên Phủ) [7], con đường mới xuyên qua khu vực xây dựng chùa, chùa bị dời qua phía Tây [8] (số 78B Điện Biên Phủ hiện nay. (Xem A.012A và A.012B), một số lăng mộ, bia tháp các vị tổ cũng bị dời. Thuở khai sáng Thiền Lâm được các chúa chăm sóc, gìn giữ, nhưng gần hai trăm năm qua Thiền Lâm xuống cấp đến nỗi không mấy ai ở Huế biết đến. Cho mãi đến năm 1987, công sức của Tỳ kheo Thích Chơn Trí và đệ tử của ông gây dựng mới có cơ ngơi ngày hôm nay.

A.012A&B: Bức hoàng và chánh điện chùa Thiền Lâm năm 1988

2. Những bí ẩn trong sử sách

Như trên đã đề cập, chùa Thiền Lâm thuở khai sơn tọa lạc trên đất xã Dương Xuân. Vùng đất dựng chùa Thiền Lâm và chùa Từ Đàm ở phía sau, theo tấm bia Sa Thạch dựng năm 1746 trước chùa Thiền Tôn ghi “công hạnh tu chứng và đạo của Tổ Liễu Quán” cho biết đó là vùng núi “Long Sơn”[9]. Theo địa bạ làng Phú Xuân, đặc biệt là địa bạ và bản đồ giải thửa ấp Bình An (nơi Thiền Lâm tọa lạc ngày nay) không nói rõ tên, nhưng gọi chung vùng đó là lâm lộc (chân núi). Đầu thế kỷ thứ XIX, vua Gia Long xây dựng Kinh thành, dân làng Phú Xuân nhường đất trong làng cho vua, đổi lại, vua cho phép dân Phú Xuân được đi lập làng các nơi, làng mới ở bất cứ nơi đâu vẫn trực thuộc xã Phú Xuân huyện Hương Trà như cũ. Một số dân Phú Xuân đã lên lập nghiệp ở phía nam sông Hương thuộc đất xã Dương Xuân. Số dân này lập ra ba ấp Trường Giang, Trường Cửu (hay gọi là Cởi) và Bình An. Phần đất còn lại của Dương Xuân chia làm hai xã Dương Xuân Thượng và Dương Xuân Hạ. Thời Tự Đức, viết Đại Nam Nhất Thống Chí, các sử thần triều Nguyễn ghi địa chỉ chùa Thiền Lâm và các di tích chung quanh theo địa chỉ mới một cách thống nhất là “ấp hoặc gò Bình An” thuộc xã Phú Xuân [10]. Ta cũng biết huyện Hương Thủy ra đời từ năm Minh Mạng 16 (1835) và từ đó hai xã Dương Xuân Thượng, Dương Xuân Hạ và xã Phú Xuân (với 3 ấp Bình An, Trường Cởi, Trường Giang) đều trực thuộc về Hương Thủy.

Căn căn cứ trên bản đồ giải thữa ấp Bình An lập năm Thành Thái thứ 19 (1907) – trước khi Đại Nam Nhất Thống Chí thời Duy Tân ấn hành 6 năm (1907-1913)- trong Bản đồ giải thữa ấp Bình An (Xem A.013), cho thấy khuôn viên đất chùa Thiền Lâm bị Nam Giao Tân Lộ cắt làm ngang, phía đông giáp với Đình ấp Bình An, phía tây gần giáp với đất nhà họ Nguyễn Hữu (nhà ông Oánh sau nầy) và một cụm ba chùa Tịnh Độ, Phổ Phúc (chùa Vạn Phước sau nầy) và chùa Tuệ Lâm.

A. 013.- Khuôn viên chùa Thiền Lâm sát bên Đình ấp Bình An bị Nam Giao Tân Lộ cắt ngang Theo bản đồ giải thữa ấp Bình An lập năm Thành Thái XIX-1907, trích trong Địa bộ ấp Bình An do Võ Văn Sơn 9người địa phương) cung cấp.

Tài liệu lịch sử, tư liệu bản đồ và thực địa rõ ràng đến như thế nhưng chúng tôi phải mất nhiều năm mới tìm được đích xác nơi toạ lạc chùa Thiền Lâm. Bởi vì chúng tôi đã bị Sách Đại Nam Nhất Thống Chí in thời Duy Tân “ghi nhầm địa chỉ” thuộc xã An Cựu.

Để có thể thấy sự “nhầm” khó hiểu đó xin xem bản kê địa chỉ các chùa chung quanh chùa Thiền Lâm sau:

Ấp Bình An là một trong ba ấp nối liền nhau Trường Giang, Bình An, Trường Cửu (Cởi) mới thành lập từ sau ngay vua Gia Long xây dựng Kinh Thành Huế (1804) trên đất của xã Dương Xuân (thuộc huyện Hương Trà) và 3 ấp không thuộc xã Dương Xuân mà trực thuộc xã Phú Xuân có Đình làng tại làng Phú Xuân cũ (nay thuộc Phường Tây lộc ở phía Tây bắc Kinh thành Huế). Thời Minh Mạng (1835) thành lập huyện Hương Thủy, 3 ấp của xã Phú Xuân nầy thuộc huyện Hương Thủy.

Sách Đại Nam Nhất Thống Chí soạn thời Tự Đức viết 5 ngôi chùa Kim Tiên, Tuệ Lâm, Từ Đàm, Viên Giác Thiền Lâm đều ở ấp Bình An;

Sách Đại Nam Nhất Thống Chí soạn thời Tự Đức được biên soạn lại và chính thức xuất bản đời Duy Tân, 4 chùa ở chung quanh chùa Thiền Lâm là Kim Tiên, Tuệ Lâm, Từ Đàm, Viên Giác vẫn giữ nguyên địa chỉ cũ là ấp Bình An, riêng chùa Thiền Lâm cho qua xã An Cựu (Xem A.014B).

A.014A.- Sách Đại Nam Nhất Thống Chí, Thừa Thiên Phủ t.Thượng, biên soạn đời Duy Tân, viết chùa Thiền Lâm ở xã An Cựu (tr.44a)

A.014B.-Sách Đại Nam Nhất Thống Chí (tr.66a và 66b) biên soạn đời Tự Đức, viết về chùa Thiền Lâm ở Ấp Bình An.

Vì sao có sự thay đổi như đánh tráo như vậy ? Thực hiện việc thay đổi một cách phi thực tế như thế để làm gì ? Phải chăng chùa Thiền Lâm quan hệ đến một di tích nào đó mà triều Nguyễn muốn che giấu tại ấp Bình An ?

3. Bia lăng mộ tháp các vị tổ chùa Thiền lâm vì sao bị đục phá ?

Khảo sát thực địa chùa Thiền Lâm hiện nay, chúng tôi phát hiện có một số bia tháp các vị tổ chùa Thiền Lâm đã bị vi phạm như sau:

– Bia tháp hòa thượng Khắc Huyền – vị tổ khai sơn chùa Thiền Lâm dựng năm Chính Hòa thứ 27 (1702) (phía đông vườn nhà 79 Điện Biên Phủ, Huế), phần lạc khoản chung quanh giữ như cũ, phần chính ở giữa bị khắc lại (không rõ vào thời nào) (Xem A.015).

A.015.- Mộ tháp Hoà thượng Khắc Huyền-khai sơn chùa Thiền Lâm. Bia khắc: “Sắc tứ Động thượng chính tông khai sơn Thiền Lâm viện Khắc Huyền Lão Tổ Hòa Thượng chi tháp”. Dòng lạc khoản bên tay trái ghi “Chính Hòa nhị thập thất niên, tứ nguyệt cát nhật” (1702). Bình luận: Theo Hà Xuân Liêm bia nầy có thể chỉ được khắc lại năm khi làm đường Nam Giao tân lộ (khoảng 1878-1898).

Bia lăng mộ vị hòa thượng nào đó dựng trên cồn Bông sứ (phía tây chùa Thiền Lâm, phía nam chùa Vạn Phước hiện nay, đế bia là một con rùa đá trắng, cùng một thứ đá với tai bia, mặt bia là đá sa thạch) bị mài nhẵn không còn bất cứ một chữ nào. (Hiện nay để trên sân sau chùa Thiền Lâm. (Xem A.016).

A.016.- Tấm bia đá granít đã bị “mài” nhẵn mất hết chữ đặt trên lưng rùa tại Cồn Bông Sứ (trước năm 1988). Sau đó được Nhà Bảo tàng Thành phố Huế chở về Nhà Bảo tàng trước khi giao lại cho chùa dựng ở sân sau chùa Thiền Lâm như còn thấy ngày nay. (9-2006)

Đặc biệt, phía trước sân chùa Thiền Lâm có một tấm bia sa thạch nằm úp mặt xuống đất hàng trăm năm qua. Vào khoảng năm 1990 nhà chùa cho dựng dậy mới thấy mặt bia bị đục nát. Những chữ còn có thể đọc được là “Lâm Tế chánh tông […] bổn sư …Hoằng lão hòa thượng chi tháp” (Bia cao 8 tấc, rộng 6 tấc). Phải chăng đó là bia tháp của HT Quả Hoằng – vị tổ thứ hai của chùa Thiền Lâm…? (Đến nay, bia đã bị thất lạc, nhà chùa nghi đang bị vùi lấp sau cái am sau chùa).

Chùa Thiền Lâm và các vị tổ phạm tội gì mà bị trừng phạt như thế ?

Nghiên cứu sách Đại Nam Thực Lục CB, chúng tôi thấy triều Minh Mạng đã lệnh cho bộ Công triệt bỏ bia chùa Trấn Vũ (Hà Nội) do chúa Trịnh dựng lên, phải: “mài đục chữ đi, cái biển đề thơ cũng đốt”. Và, những ở Hà Nội, mà ở khắp miền Bắc từ Hà Tĩnh trở ra): “phàm các đền, từ nếu có bia, biển của họ Trịnh làm ra” cũng làm như thế [11]. Đối với những di tích có liên quan đến chúa Trịnh, nhà Nguyễn cho “mài đục” hết các bia biển. Những bia biển ở chùa Thiền Lâm Huế thuộc các chúa Nguyễn không liên quan gì đến chúa Trịnh, vì lý do gì cũng bị “mài đục” như thế ?

A.017B.- Hỏi chuyện tt Thích Chơn Trí về những gạch , đá phát hiện dưới lòng đất chùa Thiền Lâm từ sau năm 1987.

Chùa Thiền Lâm có được cơ ngơi như ngày hôm nay là nhờ công sức của thầy trò Tỳ kheo Thích Chơn Trí. Tỳ kheo là người có công phát hiện những bí ẩn dưới lòng đất sân vườn chùa Thiền Lâm. Vì thế chúng tôi đã thực hiện một cuộc phỏng vấn về nhiều vấn đề có liên quan đên lịch sử chùa Thiền Lâm. Xin trích một đoạn:

NĐX.- NĐX.- Kính nhờ thầy nói rõ cho hoàn cảnh của thầy và các đệ tử lúc đó (Lúc Tỳ kheo Thích Chơn Trí và đệ tử từ Tổ đình Tường Vân ra tiếp nhận chùa Thiền Lâm năm 1987 !

Tỳ kheo Thích Chơn Trí.- Khi thầy trò tôi ra đây thì chùa chỉ có một chánh điện và một điện thờ mẫu mục nát. Không có nơi ăn ở, không đủ lương thực để ăn mà tu, thậm chí rau cũng không có. Thầy trò phải xới đất vườn chùa trồng rau mà ăn. Không ngờ đào ở đâu cũng trúng các hố gạch vồ, đá cổ. Nhân đó thầy trò tận dụng lấy gạch đá dưới lòng đất lên rửa sạch. Gạch lành thì xây tường, gạch bể thì dập ra đúc táp-lô, lấy đá xây hồ nước hay làm đôn để kê các chậu hoa.

NĐX.- Lúc đó các thầy có đặt câu hỏi là những gạch đá đủ loại đó của một kiến trúc cổ nào không ? Và vì sao những gạch đá đó tốt như vậy mà người xưa không dùng lại chôn sâu xuống đất ?

Tỳ kheo Thích Chơn Trí.- Trước hiện tượng đó tôi cũng hơi khó hiểu, nhưng rồi cũng không tìm hiểu làm gì. Chùa nghèo, đào được đá và gạch dưới đất lên thì mừng có vật liệu xây dựng cho có chỗ ăn, chỗ ở để mà tu thôi. Đâu có tìm hiểu làm gì.

NĐX.- Kính bạch thầy, thầy có nhận xét gì về những gạch đá khai thác dưới lòng đất chùa Thiền Lâm ?

Tỳ kheo Thích Chơn Trí.- Những viên đá táng cột lớn, một số gạch vồ có khuôn dấu, chất gạch, chất đá rất tốt. […] Gạch, đá đó phải là của những kiến trúc lịch sử quan trọng có liên quan đến vua chúa. Còn dân thường ta ngày xưa làm gì có được những thứ vật liệu tốt rất quý hiếm đó !”

Tôi may mắn được chứng kiến hầu hết các hiện vật lấy từ lòng đất sân vườn chùa Thiền Lâm từ năm 1987 đến nhiều năm sau đó. Hằng ngàn viên gạch vồ, hàng mấy chục viên đá táng, hàng chục viên đá khối . Hầu như toàn bộ gạch vồ đã được tận dụng lại để xây chỗ ăn, chỗ ở cho nhà chùa, số gạch vỡ được đập nhỏ đúc táp-lô xây nhà, phần lớn đá táng và đá khối lớn quá không tái sử dụng được nên sau gần 20 năm vẫn nằm trong sân vườn chùa hoặc dùng làm đôn kê các chậu hoa. (Xem A.018, A.019, A.021. và A.027)


A.018.-Hố đào lấy gạch vồ và đá táng cột trong vườn chùa Thiền Lâm. Ành của nhà báo Thanh Tùng 12/1988

A.019.-Gạch đá vỡ không dùng được Ành của nhà báo Thanh Tùng 12/1988

A.021.- Đá táng cột, đá khối và nhiều loại đá khác thu được dưới lòng đất trong sân vườn chùa Thiền Lâm.

Ành của nhà báo Thanh Tùng 12/1988

A.024.- Những viên đá táng cổ phát hiện dưới lòng đất chùa Thiền Lâm năm ấy (1987) nay được dùng làm đôn kê các chậu hoa đặt trước sân điện thờ chùa Thiền Lâm (9-2006).

Qua những hiện vật phát hiện ở chùa Thiền Lâm chứng tỏ lúc mở đường Nam Giao Tân Lộ (1897-1898), chùa Thiền Lâm cũ đã được dời xây dựng lại về phía tây và dựng trên một khu đất đã từng vùi lấp một kiến trúc nào đó đã bị triệt phá. Và, đúng như nhận định của Tỳ kheo trụ trì chùa Thiền Lâm Thích Chơn Trí: “Gạch, đá đó phải là của những kiến trúc lịch sử quan trọng có liên quan đến vua chúa !”

Thế kiến trúc quan trọng ấy là kiến trúc gì ? của các triều đại trước nào ?Vì sao không sử dụng lại những vật liệu tốt ấy ? Và, vì sao lại chôn sâu xuống đất rồi dựng chùa lên trên ?

Chú thích

[1] Trần Đại Vinh-Nguyễn Hữu Thông-Lê Văn Sách , Danh lam xứ Huế, Nxb Hội Nhà văn, HN 1993, tr. 220.

[2] Thích Đại Sán, “Hải ngoại kỳ sự”, UB phiên dịch Sử liệu Việt Nam, Viện Đại học Huế, 1963, tr.42;

[3] Như [2]

[4] Như, tr.41

[5] Như [2] tr.42;

[6] Phan Huy Ích,”Dật thi lược toản”, bản chữ Hán (Viện Hán Nôm)

[7] L. Cadière, Les Tombeaux Annamites dans les environs de Huê, BAVH 1928, tr.22, 27, 40, .

[8] Xem Bản đồ Giải thữa ấp Bình An H.013B

[9] Từ Đàm, “Thiền sư Liễu Quán chùa Thiền Tôn, Huế”, tập san Phật giáo (?), tr.56

[10] ĐNNTC, thời Tự Đức, bản dịch của Viện Sử học, tr.180

[11] Đại Nam Thực Lục Chính Biên, t.XXII, KHXH, H. 1969, tr.159
© http://vietsciences.free.frhttp://vietsciences.org Nguyễn Đắc Xuân

NGHIÊN CỨU THAM KHẢO

Đi tìm mộ Vua Quang Trung: Cung điện Đan Dương và những bí mật chưa từng khám phá (3)

Ghi chép của Lương Mỹ Hà
Giadinh.net.vn
Cùng với nghiên cứu lăng mộ Vua Quang Trung của ông Trần Viết Điền, tại khu vực gò đồi Bình An, gần Chùa Thiền Lâm, Nhà nghiên cứu Huế Nguyễn Đắc Xuân cũng đã khai quật ra nhiều bí ẩn chưa từng được công bố.

Một đường huyền đạo chạy xuyên dưới nền nhà, nhiều gạch đá lạ có hoa văn đẹp và một số phiến đá như những tấm bao quanh quách quan tài. Những phát lộ này phần nào vén bức màn bí mật về một Phủ Dương Xuân tráng lệ và dưới đó có an táng Vua Quang Trung.

Khám phá của ông Xuân đã được nhiều nhà sử học xem là đúng đắn và các di vật được công nhận là có giá trị lớn, xác thực. Tuy nhiên, một số ý kiến nghiên cứu cho rằng, không phải Phủ này đã bị Gia Long quật phá mà nó đã được ai đó chủ động di dời cải táng.

Bí ẩn quanh chốn Thiền Lâm

Chùa Thiền Lâm được khai sơn vào cuối thế kỷ 17, trên gò đồi Bình An thuộc làng Bình An – Huế. Tương truyền, đây là nơi dành cho gia đình các chúa tụng niệm mỗi lần họ lên trú đông tại Phủ Dương Xuân gần đấy. Trong sử sách, Chùa Thiền Lâm và Phủ Dương Xuân của thời Nguyễn là hai ngón tay trên một bàn tay. Cùng với sự biến mất một cách bí ẩn của Phủ, ngôi chùa cũng đã bị xoá sổ trong một thời gian dài trước đó. Điều kỳ lạ, khoảng năm 1987, khi Tì kheo Thích Chơn Trí đến đây khai hoang, dựng lại ngôi chùa, ông đã phát hiện nhiều kỷ vật bí ẩn dưới lòng đất, cùng nhiều lăng bia bị đục nát.

Nơi đầu tiên chúng tôi tìm đến là ngôi chùa chất chứa toàn bộ bí mật về hành trình tìm mộ Quang Trung của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân. Chùa nằm trên đỉnh gò đồi Bình An, thuộc xã Dương Xuân và bị cắt ra làm hai bởi con đường Điện Biên Phủ. Hoà thượng Thích Chơn Trí giờ đã là trụ trì chùa Thiền Lâm kể: Khi ông cùng một số đệ tử đến đây, chùa chỉ có một chánh điện và một điện thờ mẫu mục nát, không có nơi ăn, ở. Xung quanh chùa toàn là mộ địa. Thầy trò ông phải đào đất trồng rau chống đói. Khi đặt những nhát cuốc đầu tiên, ông bàng hoàng thấy đầu cuốc nẩy lên toé lửa vì chạm phải gạch đá lạ. Đào bất cứ chỗ nào trong vườn chùa, ông cũng chạm phải các hố gạch vồ, đá cổ. Hàng ngàn viên gạch vồ, mấy chục viên đá tảng và hàng chục viên đá khối khác đã được khai quật. Điều lạ lùng là các viên gạch có màu đỏ như son. Thậm chí nhiều viên còn nguyên cả khuôn dấu cổ.

Thầy trò ông mang những viên gạch son này rửa sạch, những viên còn lành ông để xây tường, những viên bị bể thì đem đập ra đúc bờ lô. Các viên đá tảng, đá khối được dùng xây hồ nước, làm đôn kê chậu cảnh.

Điều đáng ngạc nhiên, tại ngã ba đường lên chùa Vạn Phước (cạnh chùa Thiền Lâm) cũng có hai phiến đá táng cột cỡ 45x45cm được chôn xuống mặt đường. Những viên đá này được nghi ngờ là có xuất xứ từ một cung điện lớn hiếm có. Gần đây, khi TP Huế kiên cố hoá lại đường sá, hai viên đá quý này bỗng dưng biến mất. Người dân xung quanh khu vực đất chùa Thiền Lâm cho biết, ở vùng này trước kia người ta đào được hàng trăm viên đá như thế và đã bán dần cho các thợ làm bia mộ. Những viên xấu không làm bia được, dân mới đem ra lát đường. Đi theo con đường này khoảng vài chục mét, người ta phát hiện ra nhiều đống gạch ngói, vôi vữa cũ được vun thành bờ rào phía sau chùa Vạn Phước. Đống phế liệu này chứng tỏ đã có những công trình kiến trúc cổ bị triệt hạ.

“Giếng Loạn”

Cách Chùa Thiền Lâm khoảng nửa cây số, ngay cạnh con suối Tiên và một hồ sen bán nguyệt (giờ đã trồng đầy rau răm) là chùa sư nữ Diệu Đức. Quanh khu vực chùa Diệu Đức, ông Xuân còn khám phá nhiều giếng cổ kỳ lạ. Giếng cổ được xây bằng những viên đá to xếp chồng lên nhau và là nguồn nước sinh hoạt chính của chùa. Nó vốn bị bỏ hoang và được ông Phó bảng Nguyễn Đình Hiến, nguyên Phủ doãn Thừa Thiên phát hiện vào năm 1930 khi ông đến chơi vùng này. Không ai đo được độ sâu của giếng là bao nhiêu, nhưng dân chúng thì khẳng định mùa hè nước mát lạnh như đá, mùa đông lại ấm áp kỳ lạ. Đặc biệt giếng chưa bao giờ cạn trong khi những giếng đào mới của dân xung quanh vẫn bị khô vào mùa hạn. Ném một viên đá xuống nước, tiếng động vọng lên nghe rất âm và thanh. Người địa phương cho biết giếng thường được gọi là “giếng loạn”.

Trở lại bờ Bắc con suối Tiên và hồ bán nguyệt, ông Xuân lại khám phá thêm được một “giếng loạn” thứ hai. Giếng này đã bị chùa Thiền Lâm lấp vào năm 1992. Theo ông Xuân, cùng với các tấm bia và giếng cổ, chứng tỏ đây là một vùng từng có đông người ở, về sau bỏ hoang và phải chăng vì liên quan đến chuyện “binh loạn ” với Tây Sơn?
Mả loạn
Ở phía trái con đường đi qua Giếng Loạn, người dân phát hiện ra nhiều ngôi mộ tập thể. Mỗi ngôi vun cao và dài như những vồng khoai lớn. Một số mộ hoang này đã có ở đó từ xưa, một số mới dời vào đây khi người Pháp làm đường Nam Giao Tân Lộ và tất cả đều được đặt tên là “mả loạn”. Một điều lạ lùng nữa là khi gia đình ông Nguyễn Văn Minh (ở sát chùa Diệu Đức) phá nhà làm lại, đã vô tình phát hiện thấy dưới nền nhà có 27 bộ xương cốt chồng lên nhau. Ông Minh sợ quá, vội chuyển 27 bộ xương ấy ra táng ở vườn nhà của mình. Nhiều người dân ở đây cũng cho biết, chung quanh chùa Thiền Lâm cũng tìm thấy nhiều hố tro cốt của nhiều người từng bị dập xuống như ở nhà ông Minh.

Tấm bia đá đã bị mài nhẵn hết chữ, đặt trên lưng rùa
và được dựng tại sân sau chùa Thiền Lâm

Theo ông Xuân hồ nghi, phải chăng những hài cốt vô danh này chính là hài cốt của quân Tây Sơn thua trận đã bị quân Nguyễn tàn sát và chôn tập thể khi Nguyễn Ánh trở lại Phú Xuân hồi đầu thế kỷ XIX? Cùng với những giếng cổ đã từng cấp nước uống cho các lực lượng của Tây Sơn trong cung điện Đan Dương bị miệt thị là “giếng loạn”, hàng trăm ngôi mộ hoang đã mấy thế kỷ nay cũng được gọi với cái tên dân gian “mả loạn” để chỉ những gì thuộc về quân Tây Sơn.

Cung điện trong lòng đất

Qua những hiện vật phát hiện ở chùa Thiền Lâm, ông Xuân khẳng định chùa đã bị dời đi và sau này được xây dựng lại trên một khu đất đã từng vùi lấp một kiến trúc hoành tráng nào đó từng bị triệt phá. Những gạch vồ, đá lát, đá táng cột, đá tảng, đá trang trí ở đầu cột trụ và nhiều loại đá có hình thù khác nhau không thể của dân chúng trong bất cứ thời đại nào mà là một vùng cung điện vua chúa. Ở đây chính là Phủ Dương Xuân của các chúa Nguyễn. Như vậy, Phủ Dương Xuân của các chúa Nguyễn và Cung điện Đan Dương của Vua Quang Trung là một. Nghĩa là Vua Quang Trung khi lên ngôi đã cải tạo Phủ Dương Xuân thành Cung điện Đan Dương. Vì thế sau này, khi Vua Quang Trung băng hà vào cuối 1801, quan quân nhà Nguyễn đã trả thù bằng cách quật phá và vùi Cung điện Đan Dương xuống đất.

Khu vực Cung điện Đan Dương đã rõ khi xác định được nó toạ lạc trên vòng tròn: Chùa Thiền Lâm, chùa Vạn Phước (nơi có các đống vôi vữa cũ vun thành đống) và chùa Diệu Đức (nơi có các giếng loạn có chứa trong lòng những bức liễn và mả loạn). Chỉ còn câu hỏi: “Lăng mộ vua Quang Trung ở đâu trong Cung điện Đan Dương?”. Địa điểm huyệt mộ táng Vua Quang Trung đã bị quật phá cụ thể ở chỗ nào trong khu vực cung điện này?

Để xác định chính xác nơi tồn tại huyệt mộ trong khu vực khả nghi có tồn tại Cung điện Đan Dương, Ông Xuân đã mời thầy địa lý Dương Văn Sinh xác định địa điểm và quyết định thám sát thử. Thật bất ngờ, hàng trăm câu chuyện huyền bí cũng được lật lên theo từng nhát cuốc.

Ghi chép của Lương Mỹ Hà

Nguồn: Giadinh.net.vn

Advertisements

About Kinh Tâm

Từng bước hoa sen nở
Bài này đã được đăng trong Lịch sử và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s