DẤU ẤN PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO AN BẰNG.

SỬ VÀ TIỀN TRÌNH PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO AN BẰNG

XƯA VÀ NAY

LỜI TỰA.

“ CÂY CÓ GỐC, NƯỚC CÓ NGUỒN”.
Đó là câu ca dao, tục ngữ từ ngàn xưa đến ngàn nay để lại.
Đối với Phật Giáo thì có Nhân và Quả. Trong nhân có quả, trong quả có nhân, có sự trợ duyên của nó, gọi chung là luật nhân quả.
Để ghi lại tiến trình, Lịch sử của Khuôn Hội Phật Giáo An bằng, về sự hình thành, tu học, phát triển và xây dụng.

Vào năm 1983. Theo lời huấn thị của Ban Đại Diện và các ban thuộc Khuôn Hội Phật Giáo An Bằng đương kim, quý bác cựu Khuôn trưởng, Gia trưởng, Huynh trưởng, quí đạo hửu thiện tâm. Đã yêu cầu ban Văn hóa, Tu thư. Nhật tu, sổ sách của Khuôn hội, qua bao nhiêu năm thiên tai, chiến tranh tàn phá bị thất lạc. ghi lại sự hình thành, và Tu học, sinh hoạt của Khuôn Hội Phật Giáo An Bằng, GĐPT An Bằng để phát huy truyền thống, giữ gìn bản sắc tốt đẹp, giữ gìn chân lý đạo đức Phật Giáo sẵn có trên quê hương nầy. “Từ quá khứ, hiện tại và cả định hướng trong tương lai”.

Hầu để lại cho thế hệ sau tiếp nối sự nghiệp của cha, anh trên con đường tu học, luôn luôn lấy giáo lý Phật Đà làm kim chỉ nam trong cuộc sống. Xây dựng, bồi bổ, đồng thời tìm góp nhặt hình tượng, kinh điển, pháp khí về đây làm kho tàng, kinh điển giáo lý của Phật giáo An Bằng ngay trong thế hệ nầy và cả tương lai mai hậu.

LỜI CẢM NIỆM.

Nói đến Phật giáo An Bằng chúng ta kính cẩn nghiên mình tưởng niệm đến các vị Tiền bối, hửu công qua các Triều đại đã đem ánh sáng trí tuệ của Đức Phật và sáng lập ra Ngôi chùa đầu tiên ở tại Độn Bồ, hay nói một cách khác Độn Bồ Đề (xóm chùa). Thì đạo Phật An Bằng đã có từ thời đó …
Nói đến Khuôn Hội Phật Giáo An Bằng chúng ta, nghiên mình kính cẩn tưởng niệm đến quí bác, quí anh chị đã quá cố trong mọi hoàn cảnh.
Và không quên ghi nhận công ơn của quí bác, quí anh chị còn hưởng dưong đã và đang dày công vun trồng, xây dựng.
Chúng tôi tài mòn, sức kém, tuy có nhiều người cọng tác, nhưng không làm sao tránh khỏi được sự thiếu sót. sai lầm, khi viết thành cuốn sách nầy
Trước khi bàn bạc đề cập làm công tác, xuất bản qua các phiên họp nên hay không nên xuất bản, vì sợ những thiếu sót nêu trên. Thế rồi không còn cách nào hơn nữa, nên cũng nhất quán với nhau để thực hiện.
Từ chổ đó chúng tôi đã cố gắng quyết tâm, với lòng say mê và thiện chí cũng mất mát rất nhiều công lao, để sưu khảo, chúng tôi chấp nhận sự phê bình nếu có. Mong rằng các thế hệ sau tìm hiểu và bổ sung thêm. Bởi vì nghỉ rằng nếu không có cơ sở ban đầu thì sau nầy sẽ căn cứ vào đâu để lập nên tiểu sử của Khuôn hội An Bằng từ ngày thành lập cho đến nay,(vạn sự khởi đâu nan).
Cho nên dù khó khăn đến mấy ban Văn hóa và Tu thư thành tâm cầu nguyện Tam Bảo vững bước mà đi lên chứ không thể buông tay dừng lại trước cuộc đời, đấy là đều tham vọng và lòng mộ đạo, nhằm muốn phát huy truyền thống của ngàn xưa và kế tục sự nghiệp của cha anh đi trước, lưu lại cho thế hệ mai sau.
Vì lẽ đó kính mong quí vị, quí bác, quí anh chị em, hãy đến với chúng tôi bằng những niềm tin yêu và hy vọng, bằng ánh sáng cảm thông để bước vào con đưòng Chân Thiện Mỹ. Ở đây tham, sân, si của con người sẽ không còn, mà chỉ còn lại ngào ngạt hương từ bi và thánh thiện.
Xin hãy đến với Phật giáo An Bằng, với GĐPT An Bằng, là ngỏ vào con đường của đạo từ bi, cánh cửa đã rộng mở để cùng nhau khởi sự tiếp nối cuộc hành trình Tu và Học.
Thưa quí vị, quí bác, quí anh chị cựu huynh trưởng và anh chị em Huynh trưởng đương nhiệm kính mến, cùng các em Đoàn sinh, các em mầm non thân mến.
Ngoài quí bác, quí anh chị em ra rồi, tâm bồ đề của các em cũng kiên cố không có gì lay chuyển nổi.
“Chúng tôi biết anh chị em còn đó, còn đó cả, chúng tôi biết anh chị em vì thời cuộc, vì hoàn cảnh xếp áo lam tạm thời cách biệt, nhưng hình hoa sen trắng vẫn nở kín trong lòng son, và mỗi khi nghe tiếng gọi đàn thì tất cả vang một lời có mặt (Thơ Tống Thanh Nghi)”
Chúng tôi đã gọi rồi đó. Và anh chị em cũng đã đáp rồi đó, sở dĩ tiếng gọi còn yếu, nên lòi đáp chưa mạnh.
Giờ đây chúng tôi luôn tiếp thu mọi sự đề nghị đóng góp của quí vị, quí bác, quí anh chị em sửa sai,bổ sung để công tác xuất bản sớm hoàn thành thật đầy đủ.
Chúng ta hãy đem đạo Phật đi vào cuộc đời, vào sự sống, hãy cùng nhau xây dựng, tu học để đưa Phật giáo An Bằng mãi mãi lên ca,.xiển dương và hưng thịnh, góp phần phục vụ dân tộc và đạo pháp.
Trong suốt 25 năm sưu khảo, hôm nay mới có bản Sơ lược tiểu sử của Khuôn hội Phật giáo và GĐPT An Bằng lần đầu tiên viết tại quê nhà.
Có sự tham gia đóng góp của quí bác.
« Lê Phát – Trương Công Châu – Đào Hoài – Văn Hưng – Nguyễn Anh Tuấn ».
Tham khảo một số tư liệu của Anh Phạm Hưởng – Văn Nhân Đạo – Văn Đình Xuân. Đang ở nước ngoài cung cấp thêm.
Mùa thu lại về xin mời tất cả các cánh chim đang tảng mác bốn phương trời hãy quay về tổ cũ như người xưa thường nhắc nhở : « Cây có cội, Nước có nguồn »

Trưởng lão Hòa Thượng Thích Thiện Siêu
Cũng có câu.
Cá đã về nguồn luôn nhớ cội.
Chim dù xa tổ nhớ ơn cây.
Mùa thu năm Đinh hợi (2009) PL 2552
Ban Văn Hóa, Tu Thư, phụ trách biên tập
Huynh Trưởng Cấp Tấn
Nguyên Phương Văn Tiến Nhị

Cẩn kính

PHẦN DẪN NHẬP.

I / Vị Trí: Làng An Bằng nằm vào phía đông của Thành Phố Huế, khoản cách 18km, tính đường chim bay, nếu đi xe máy, Ô tô thi phải qua 35km, nằm dọc theo miền Duyên hải, giữa Thuận an và Tư hiền thì làng An Bằng như đòn gánh. (Nghĩa là cửa Thuận an và cửa Tư hiền ở hai đầu còn làng An bằng ở giữa.

II – Diện Tích. 750km2. Hình thể như hình thang.Trước ngày giải phóng cho đến vẫn giữ nguyên các Cột mốc giới. mặc dù phân chia về địa giới hành chánh thì có. Cụ thể như trước đây là thuộc quận Vinh lộc ( huyện Phú lộc), nay là huyện Phú vang.

III – Mốc Giới Và Đặc Điễm Của Làng
1/ Phía Đông của làng, giáp biển Đông, phía tây Tây và Tây Nam, giáp làng Lương Viện Xã Vinh Hưng và làng Hà Úc cách phá Tam Giang 180km, phía Bắc, tây Bắc giáp xã Vinh Thanh (làng Hà thanh có mốc giới) phía Nam và Đông Nam giáp xã Vinh Mỹ (làng Mỹ Lợi cũng thuộc xã Vinh Hưng, huyện Phú Lộc có mốc giới).
2/ Di Tích Lịch Sử chính và cảnh quang hiện có ở trong làng gồm có: Chùa Làng, Đình Làng, Am cạnh đình làng, Am Thành Hoàng, Am Quan Cát, Am Đôi, Am Bà Thủy, Am Bà Chúa, Am Phường Trên, Am Phường Giữa, Am Phường Dưới. Lăng Ông Ngư, Nền xóm Trên, Nền Xóm Dưới, Nền Xóm Giữa. Nền An Mỹ, Cột Cờ Xóm Trên, Giếng Tau, Giếng Chùa, Giếng Bộn hiện nay đã trùng tu lại vẫn còn xử dụng được. Tất nhiên có nhà thờ Đạo Thiên Chúa Giáo và Chùa Khuôn Hội, nhưng có sau các di tích lịch sử đã nêu trên. Các Long, địa mạch trong làng là: Bàu Tràm, Khe Bàu, Khe Chùa, Khe Toon (Trong), Miệng Trọt. Bàu An Mỹ (hay gọi là Bàu ông Truyện) Ngoài ra còn một số di tích khác ở trong phạm vi của làng. Cho đến bây giờ dân làng giản ra ở bao bọc chung quanh làng cho nên mỗi cụm dân cư đều có Am thổ địa để hương khói hàng năm cầu dân an vật thụ.
3/ Nhờ Ấn pháp của Tổ sư Phật giáo khai sơn xây dựng ngôi chùa làng, hôm nay làng ta mới được an bình, thịnh vượng, ngày xưa các Ngài đi với các vua, Chúa, cụ thể là Chúa Nguyễn Hoàng, để mở mang bờ cỏi, xây dựng chùa chiền, miếu vũ, hể đến nơi nào đất đai có long mạch, màu mỡ thì quí Ngài chọn và Ấn pháp ở đó để xây dựng chùa và ngôi chùa làng An Bằng được xây dụng từ hồi đó, ngôi chùa cách đình làng hiện nay 150m về hướng Bắc, cây cối um tùm, sầm uất ngày xưa quí tiền bối đã trồng các loại cây cổ thụ, đa số là cây mù u, sanh, cừa v.v… Cách chùa 10m về hướng Nam có một cái giếng vuông gọi là giếng chùa, nước rất trong, trước chùa có con khe nước chảy róc rách từ lầm Bùi về không bao giờ khô cạn, đây cũng là long mạnh của làng, ngôi chùa làng xưa ấy hôm nay không còn nữa vì quá lâu đời do phù sa bồi lấp toàn bộ ngôi chùa, chỉ còn lại cái giếng mà thôi.
Mãi đến năm 1954 đất đã lấp hết chùa các dụng cụ và vật thờ cúng còn lại như đá tán, một số cột kèo, 3 vị Quan Thánh, chuông, mõ và một bức hoành phi có 3 chữ “AN ĐỨC TỰ”, năm Quí dậu do ngài Lê Đức Trí pháp danh Hải Bảo tín cúng. (*)

———&———

(Dưới đây là tư liệu để làm bằng chứng liên quan đến việc chùa Làng và đât Tam Bảo quan thổ mà nhà nước thời trước đã cấp cho Chùa. Nhưng một số người dân trong làng thời ấy cậy quyền cậy thế chiếm dụng để làm của riêng.
Nên quí cụ làm việc làng thời đó và toàn dân làng đứng ra làm đơn chuyển lên cấp trên để lấy đất lại, đơn viêt vào ngày 24 tháng 12 Bảo Đại thứ 12. bằng 2 loại chữ Hán và chữ Quốc Ngữ bản dịch)

(Phụng dịch Nguyễn Chiến)

Phụng sao lại bằng vi tính

An bằng ngày 24 tháng 12 Bảo Đại 12

Chúng tôi chức dịch đẳng, làng An bằng, tổng Kế mĩ, huyện Phú vang, đồng làm tờ tương thuận như sau nầy:
Nguyên chúng tôi có ba sào Tam bảo quan thổ, ở tại Cồn chùa xứ, Đông tây tứ cận thì có châu bộ phân minh, Song đời trước Lê Phú là thủ bộ ở gần đất ấy, đã nhận canh đất ấy lâu năm, để lấy ba lỵ cúng Phật Thánh. Đến sau Lê Tình, Lê Cảnh cũng con cháu ông ấy đều làm thủ bộ kế tiếp, quyền hào trong tay. Nay không biết vì sao con cháu là Lê Đôn, Lê Hiển làm đơn lên tòa xin cải đam đất A-26 ấy làm tư nghiệp. Nay thưa quan chức cứu xử đã đôi ba phen, nên sinh phí tổn nhiều, thật rất ức tình cho bổn ấp.
Nên làng đồng tâm lực chịu góp tiền bạc, để tiện bề quan trên khiếu nại. Làng và Hội giáo đều thuận với nhau. Nay bổn ấp thiết nghĩ đất ấy là đất Phật Thánh, mà giáo hội cũng cam tâm góp tiền tố tụng. Nên nay đất ấy bên lương thì có Phật tự, bên giáo thì có Thiên chúa. Nên thuận làng chia ra ba phần . Hai phần thì giao làng canh tác hương du Phật Thánh, còn một phần giao giáo hội canh tác để đăng du Thiên chúa, để cho được hoàn toàn an hảo. Nay tương thuận tờ.
Bổn ấp đòng chức dịch ký chỉ.

Đại hào mục Nguyễn Ổn, ký
Cửu Phẩm Đào Phong, ký
Hương bổn Nguyễn Tuyễn, ký
Phó tổng dụng Đào Tràm, ký
Cựu thủ bộ Văn Nhượng, ký
Cựu thủ bộ Nguyễn Dụng, ký
Câu trưởng Nguyễn Nhỏ, ký
Cựu tri bộ Lê Kiêng, ký
Cựu lý trưởng Nguyễn Từ, ký
Cựu hương kiễm Văn Ngô, ký
Diêu ấm Nguyễn Dậu ký, chỉ
Lý trưởng Nguyễn Cự, ký, tiện áp
Thủ bộ Lê Tuyển, ký
Hương bộ Phạm Thưởng, ký, tiện áp
Hương Kiễm Văn Thành, ký
Hương mục Lê Hương, ký
Tộc trưởng Văn Ngàn ,chỉ
Tộc trưởng Trương Tường, chỉ
Tộc trưởng Văn Có, ký
Cựu phó lý Lê Chất, ký
Tộc trưởng Văn Bị, chỉ
Ciựu phó lý Trương Lời , ký
Cựu phó lý Văn Diễn, ký
Cựu phó lý Lê Côn, ký
Cựu phó lý Văn Khoan, ký
Cựu phó lý Đặng Túy, ký
Cựu trùm trưởng Huỳnh Lam, chỉ
Cựu trùm Văn Quạy, chỉ
Cựu dịch Nguyễn Gẫm, ký
Trùm trưởng Nguyễn Lan, chỉ
Trùm Trương Tương, chỉ
Dịch hội Lê Luôn, chỉ
Trùm trưởng Nguyễn The, chỉ
Làm tờ hưong dịch. Văn Xuân, tự ký

Phụng dịch : Nguyễn Chiến

Phụng sao, vi tính : Văn Tiến Nhị

Làng giao lại cho Khuôn hội đem về thờ tại chùa Khuôn, đây là ngôi chùa thứ 2 trong làng do phật tử An Bằng tạo dựng lên vào năm 1954 cạnh đình làng cách 10m nằm về phía Đông Nam, trong hồ sơ bàn giao cho Khuôn Hội An Bằng có 3 sào đất Tam Bảo quan thổ trước mặt chùa làng xưa, trong Phủ Biên Tạp Lục có ghi 3 sào đất Tam Bảo nầy, từ ngôi chùa làng bị vùi lấp thì ngôi chùa thứ 2 và các ngôi chùa kế tiếp lần lượt xây dựng lên.
Sau năm 1954 có Trường học Mai Khôi, năm 1970 có Trường Bố Đề và Ký Nhi Viện An Bằng. “ Trường Bồ Đề, Ký Nhi Viện Phật giáo và Trương Mai Khôi, sau năm 1975 thì các cơ sở nầy không dạy học và sinh hoạt nữa”. Tuy nhiên đại đa số ngưòi dân trong làng theo học ở hai ngôi trường nầy hiện nay vẫn là người có học thức ở thế hệ nầy, đã và đang chăm lo xây dựng quê hương và phục vụ xã hội.
Ai đã một lần đến An Bằng cũng phải lưu luyến, khâm phục Giang sơn gấm vóc và phong thủy, địa mạch của làng bởi vì: Phía đằng sau là Phá Tam Giang, phía trước là biển nhìn ra cả Đại dương xanh ngát. Cứ buổi sáng và chiều thuyền tàu đi làm về cá đầy ắp, cả dân làng tấp nập rộn ràng mua bán, không ngừng nghỉ, tạo nên cảnh sắc tuyệt đẹp của quê hương. Đặc biệt bãi biển làng An Bằng rất sạch, không có ô nhiễm môi trường như các nơi khác. Khách du lịch đến tham quan cũng cảm nhận như thế.
Làng xưa tập trung dân cư ở trên cồn cát như ở trên lưng con Rùa cảnh làng rất sầm uất, cây cối um tùm, chung quanh làng có một dãy đất bao bọc mà cổ xưa ta thường gọi là con Rồng uốn lượng quanh làng cũng gọi Động Bồ ( Động Bồ Đề) là con Rồng. Đây là Long mạch. Địa mạch của làng. (*1) Dân làng chuyên sống về nghề biển và trồng khoai, sắn, hoa màu cũng là nguồn lương thực chính.
Làng có một con khe bao bọc, xuất phát từ mạch nước đầu tiên gọi là long mạch của làng, khi trời mưa bảo con khe chạy bọc bao quanh làng đưa nguồn nước đầu tiên và mang theo những bùn nhơ ô uế, chảy thẳng qua miệng Trọt rồi ra biển đông, làm tiêu tan màn u ám sau mỗi một năm, dân làng sinh sống có ảnh hưởng đến môi sinh, môi trường. Trong sạch và mát lành.
(*1)Động Bồ là Long, Địa mạch, là di tích lịch sử của làng, lại một lần nũa đã làm cho dân làng và 44 họ tộc làng An bằng từ trong nước và hải ngoại quyết tâm gìn giữ và bảo vệ. Vì cơ quan chính quyền cấp huyện Phú vang đã cấp đất Động Bồ cho Giáo Xư An bằng tại công văn số: 16/TB.NT Ký ngày 15 tháng 1 năm 2009. của phòng Tài Nguyên Môi Trường. (Hội Đồng Giáo Xứ và Giáp An Bắc viết đơn trình là không nhận vì đây là đất phong thổ, huyết mạch của tâm linh đã có từ ngàn xưa đến bây giờ, đơn trinh lại vào ngày 23 tháng 1 năm 2009.) Nhờ sự đoàn kết va lẽ phai của dân làng va 44 họ Tộc. Nên chính quyền các câp, đã cho phép Làng An bằng xây dựng nhà Bia Tưởng Niệm để giữ lại đât Động Bồ.

Phần nước sạch còn lại để cho dân làng sinh hoạt và cung cấp cho cây cối xanh tươi, ruộng đồng đầy lúa, đầy khoai, tạo thêm nguồn lương thực để dân làng sinh sống, nước vẫn trôi chảy theo hướng chùa làng tiếp nối con khe chùa ở Bùi rót rách chảy về dưới chân Độn Bồ nước không có khi nào khô cạn.
Thì ở đó Ngôi chùa đã dựng lên, theo sử sách ngôi chùa nầy đã có từ thời Hậu Lê, nay bị cát lấp và hư hỏng, đến năm 2004 làng dã đứng ra phục chế lại nhưng không so sánh với ngôi chùa làng xưa được.
Bởi lẽ đó ngôi chùa này được xây dựng lên từ thời nào thì dân làng An Bằng tiếp nối căn cơ của đạo Phật bắt nguồn từ thời đó.
Cảnh làng cây cối, lầm rú sầm uất, hùng vĩ, trù phú, linh thiêng nhờ các di tích lịch sử đã xây dựng từ ngàn xưa để lại rất nhiều, Am, Miếu vủ, rải rác trong thôn, xóm của làng, mãi cho đến ngày nay các di tích ấy vẫn còn làm nơi thờ cúng của dân làng và hiện nay được trùng tu lại. Ngôi đình làng đã qua các thời kỳ tu sửa. Đến năm 1999 là xây dựng làm mới toàn bộ nhưng vẫn giữ hướng của ngôi đình cũ và đường nét cỗ xưa. Ngoài đình làng ra trong mỗi xóm, (phường) đều có Am thổ địa xa xưa lắm rồi, ngày nay vẫn còn để dân trong Xóm (Phường) chiêm bái thờ cúng hằng năm theo tục lệ của từng đơn vị.
Một lễ hội lớn nhất cua dân làng là Lễ Hội đua thuyền truyền thống trên biển, cũng gọi là Tam Niêm Đáo Lệ Cầu Ngư đã tổ chức gần lần thứ 150 năm qua không có năm nào bỏ lệ, và nhiều lễ hội truyền thống trong làng hàng năm đều tổ chức như lễ Cầu an đầu năm, Lễ Hạ Vọng để thuyền đi biển đầu năm, Lễ Xuống mùa, Lễ Khai khe, Lễ Âm hồn vào đầu tháng 5 Â lịch, Lễ đua, Lễ Đông chí, Lễ kỵ Ông Ngư gọi là lễ kỵ ngài, Lễ Tảo mộ, Lễ Tam tiết nhât v.v…dù khó khăn, cơ cực mấy đi nữa cũng tổ chức cho bằng được.
Cho đến nay Năm 2007- 2009 dân làng đã phát triển mạnh về đời sống, văn hóa, kinh tế, quê hương được khởi sắc, giàu đẹp, đình, chùa, miếu vủ, nhà thờ đạo, nhà thờ các họ tộc được xây dựng mới, nhà cửa của dân làng 2,3,4 tầng lầu mọc lên như nấm, đường sá được mở mang. mạng thông tin truyền thông đại chúng đều rộng khắp trong làng.
Khách du lịch trong nước và ngoài nước đang để ý đến, nhất là quần thể lăng mộ của những người con, người cháu hiếu thảo thế hệ sau nầy xây dựng lên cho Tổ tiên, ông bà cha mẹ, cô dì, chú bác, anh chị em, là một quần thể lăng mộ kỳ bí, biến thành nơi du lịch tâm linh từ nay và sau nẩy.

Ngôi chùa đầu tiên sau năm 1968 ( sau tết Mậu thân) tại mảnh đất xây
dựng chùa mới hiện nay phật tử Văn Tiến Nhị và Văn Hưng chụp hình lưu niệm trước Tiền đàng.

Ngôi chùa Thứ 4 trước năm 2002 để kế tiếp ngôi chùa hiện nay.

TINH THẦN THEO ĐẠO PHẬT CỦA DÂN LÀNG

Làng xưa trước chỉ có chừng 60 hoặc 70 hộ gia đình. Trong đó có trên 20 hộ gia đình theo Phật giáo thuần túy đa số là dân Trí thức và các Nho sinh ở trong làng cho nên các Ngài phải chịu rất nhiều gian lao khổ cực vì một lòng vì đạo giữ vững niềm tin, chánh tín Tam bảo, chăm lo cho đạo Pháp và quê hương nên luôn luôn bị kềm kẹp đàn áp đánh đập đến nỗi bệnh rồi chết như cụ Đặng Túy, Cụ Đào Nguyên Phong chịu không nổi nên phải lên Huế ở tại chùa Từ Đàm với Ngài Trí Quang nay là Thượng Nhân Thích Trí Quang nhân vật tài ba nổi tiếng trong Phật giáo và nhất là vào những năm 1963 và 1966, có nhiều nhân sĩ, hào kiệt trong làng cũng đều chịu chung số phận như vậy cụ thể như gia đình cụ Đào Tàm bị chèn ép nên cụ bảo con cụ là cụ Đào Nghệ vào đạo Thiên Chúa để cho yên thân nhưng cụ Nghệ cương quyết không theo dù có chết cũng đành, thế rồi sự trung kiên, chịu đựng của gia đình và bản thân cụ Nghệ. Kẻ làm điều sai trái đều bị phơi bày trước ánh sáng và lẽ phải, từ bi và thánh thiện.
Nhờ lòng từ bi và đạo đức của những vị trung kiên đó, và những người biết được việc làm sai trái, lỗi lầm để hối cải nên trong làng thời đó đều thông cảm tha thứ cho nhau giữ mối đoàn kết, tạo mọi bình yên trong dân làng không phân biệt, giàu nghèo, tôn giáo mà chỉ chăm lo xây dựng quê hương xứ sở, giang sơn, bảo toàn di tích lịch sử, bản sắc văn hóa của tiền nhân để lại, thật đáng tự hào cho quê hương biết bao.
Đến năm 1945 trở lên dân số mới có được chừng 1500 người, năm 1956 có chừng 2000 người, năm 1968 có chừng 3500 người, năm 1975 có chừng 3600 người, năm 1983 có chừng 4800 người. Và tính đến nay năm 2007 đã có chừng 8900 người và có hơn 2000 người hiện đang sinh sống ở nước ngoài chưa kể, dân số của làng ở thời điễm nào cũng vậy và cho đến hôm nay đều có hơn 75% dân số theo đạo Phật.
Đặc tính bản chất vốn có của người dân trong làng là: Lương thiện, thật thà, chất phát, cần cù, khiêm tốn, giản dị, biết thờ kính tổ tiên, ông bà, hiếu học, hiếu thảo, chăm chỉ làm ăn, biết tình huynh đệ anh em, họ hàng gia tộc, biết tình làng nghĩa xóm, biết thương người, biết cứu giúp nhau trong lúc gặp rủi ro, hoạn nạn, biết xây dựng giang sơn xã trắc, biết chăm lo xây dựng tín ngưỡng của mình, biết tha thứ cho nhau, luôn mong sự bình an, hạnh phúc chung.
Những đặc điểm vốn có trên đây so với người dân nơi khác không thể có đầy đủ như vậy được, đây là hạnh kiễm, nết na, vốn quí của dân làng nếu không cậy nhờ phước đức của giang sơn, tổ tiên ông bà để lại thì không thể có được như vậy, những ngày lễ lớn như Lễ Phật Đản, Lễ Vu Lan tất cả phật tử đều nghĩ công việc đồng án, ở nhà tham dự và rước Phật quanh làng trong ngày đại lễ như trước đây. (Trước năm 1975).
Nhờ có căn cơ từ nhiều đời trước, nhân dân làng An Bằng được tiếp nhận ánh sáng của đạo Phật rất sớm nên dân làng đều lấy giáo lý Phật Đà làm kim chỉ nam trong việc tu học, và áp dụng vào cuộc sống đời thường, làm ăn lương thiện rồi từ đó mà tiến dần lên, nhân dân trong làng đại đa số theo đạo Phật, Nho giáo, Khổng giáo và thờ cúng ông bà. Từ xưa cho đến nay thế hệ nào cũng hơn 75% người dân trong làng đều theo đạo Phật, người dân theo đạo thiên Chúa thì ít hơn. Tuy nhiên cả dân làng đều đoàn kết xây dựng quê hương, thương yêu giúp đở lẫn nhau, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, đây là cái vốn có, của các bậc Tiền nhân để lại cho dân làng và đạo hửu Phật tử An Bằng từ xưa đến nay.
Nhờ phát huy truyền thống của các bậc tiền nhân đi trước. Ánh đạo vàng đã sớm rọi khắp trên quê hương vùng biển. Đến năm 1956, mới có danh từ Phổ Phật Học An Bằng, rồi đến Khuôn Hội Phật Giáo An Bằng, GĐPT An Bằng.
Từ ngày Khuôn Hội Phật Giáo An Bằng và Gia Đình Phật Tử An Bằng thành lập cho đến nay quí đạo hửu, quí bác, quí anh chị những người đi trước đã trãi qua nhiều công lao khó nhọc, mà thành tựu được những phật sự như ngày hôm nay và cũng phải trãi qua rất nhiều gian khổ, mọi thăng trầm, thịnh suy của đạo pháp, mọi biến đổi về lịch sử, thời cuộc, kinh tế, chính trị, văn hóa v.v…
Quí bác vẫn không nao núng, sờn lòng cụ thể: như những năm 1948 các đạo hửu các bác đều bị bắt tù đày, tra trấn tại xã Vinh Thanh (đồn Hà thanh thờii Pháp thuộc) bắt buộc quí bác bỏ đạo Phật.
(Xin phép được đơn cử một vài quí cụ đã bị bắt tra trấn tại Vinh thanh, cố cụ Đào Nguyên Phong, cố cụ Đặng Túy. Cụ bà Văn Thị Giác. v/v…)
Đến thời pháp nạn vào năm 1963. Chế độ Ngô Đình Diệm ra lệnh triệt hạ cờ Phật giáo từ Trung Ương Giáo hội đến địa phương các Khuôn giáo hội, phải bị một cuộc đàn áp tôn giáo công khai chưa từng có trong lịch sử đất nước của Phật giáo nước nhà nói chung, và nói riêng Phật giáo An Bằng đã gánh chịu không phải là ít, một số quí bác, quí anh chị đã bị bắt tra trấn nhục hình, quí anh chị Huynh trưởng, thiếu nữ bị cưởng hiếp tàn nhẫn của bọn làm tay sai, cụ thể xin đơn cử một số quí bác, quí anh chị như: Mệ Giác tức là mẹ của bác Lê Bính (Xin), Bác Phát, Anh Đồ, chị Ngại, chị Lữ. anh Nhật, chi Ngợi v.v…
Đến năm 1966 chế độ độc diễn Nguyễn Văn Thiệu cũng thẳng tay đàn áp Phật giáo, lần nầy không kém gì năm 1963. Toàn thể Phật giáo đồ phải thỉnh Phật xuống đường để đấu tranh đòi bình đẳng tôn giáo. Khuôn Hội Phật Giáo An Bằng cũng gánh chịu thêm một lần gian nan, khổ nhục nữa vì mục đích là: Bảo vệ đạo pháp, tín ngưỡng của mình.
Quí bác, quí anh chị em đã thể hiện tấm gương các thánh tử đạo tại tỉnh nhà Thừa Thiên-Huế như: Quách Trị Trang, Nguyễn Đại Thức, Đào Thị Yến Phi, Nguyễn Thị Tuyết, Đặng Văn Công, Phan Duy Trinh, Nguyễn Thị Vân và các Thánh tử đạo nói chung.
Quí bác quí anh chị vẫn không sờn lòng đổi dạ, nếu có một lần bị chèn ép, bị bắt bớ, tù đày thì càng thêm vững chắc niềm tin, chánh tín Tam Bảo.
Phật giáo An Bằng cũng là thành phần của dân tộc sống trong lòng dân tộc, đã từng chia sẻ nổi đau thương của dân tộc trong những ngày dài đen tối, chưa xóa tan màn u ám. thì chiến dịch Bình minh năm 1972 lại bắt đầu, chiến dịch nầy nhằm triệt tiêu Phật giáo và những thành phần bảo vệ Đạo pháp và Dân tộc, đã từng trãi qua 4000 năm văn hiến nước nhà. Các bác sau đây đã bị bắt trong chiến dịch Bình minh như bác Đại, bác Liển. Và một số anh chị bị bắt trong chiến dịch Phượng hoàng, cũng gần kề trong thời gian đó.
Đến cuối năm 1972 Phật lịch 2511, tình hình địa phương có phần ổn định. Kể từ đây quí bác đạo hửu và nhất là GĐPT đoàn thể Áo lam không thể, không cảm nghe, mống lên trong lòng mầm non và nhựa sống đang rạo rực để biến thành hoa lá cho một ngày xuân của quê
hương nói riêng và đất nước nói chung, cũng không thể không nghe vang vọng trong tâm hồn bản hòa tấu của những ngày:
“Đại hội của Khuôn hội Phật giáo An Bằng vào ngày 8 tháng 12 năm Nhâm dần. Phật lịch 2511 (1972). Từ đây Ban Đại Diện Khuôn hội kế tiếp, khi mãn nhiệm kỳ, lấy ngày tháng nầy để tổ chức Đại hội, dù cho lịch sử tình thế có đổi thay cũng tổ chức Đại hội theo tinh thần mà quí cụ, quí bác, quí anh chị tiền nhiệm ngày xưa đã cân nhắc rất kỷ càng.”
( Đại hội năm 1972 có chụp ảnh lưu niệm hiện nay vẫn còn và cũng đưa vào tập sách này).

Đại Hội Bầu Ban Đại Diện Khuôn Giáo Hội Nhiệm Kỳ 1972-1975. Đại hội nầy Bác Nguyên Hạnh ĐàoTầng được bầu làm chánh Đại diện thầy Từ Phong hồi đó được mời dự tri, Đao hửu Nguyên Phương dẫn chương trình

Với những kỳ Đại hội như thế nầy mục đích: Tổng kết công tác phật sự trong nhiệm kỳ qua, rút ưu khuyết điểm, thuyết trình Nội quy, Nội lệ để Đại hội bổ sung sửa đổi cho phù hợp từng giai đoạn, từng thời kỳ. Bàn phương hướng xây dựng Phật sự của các năm tiếp theo, bầu Ban Đại Diện và bổ sung thành viên của nhiệm kỳ kế tiếp, mãi đến nay Khuôn hội cứ duy trì là Đại hội của Khuôn hội Phật giáo An Bằng năm nào cũng nhằm vào đầu tháng 12 Âm lịch.

Một cuộc đại hội bầu ban đại diện Khuôn Hội Phật Giáo An Bằng nhiệm 1972-1975

Hình ảnh Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Thiện Siêu và Hòa Thượng Thích Hải Ấn chụp hình lưu niệm với quý bác trong Khuôn Hội vào năm 1977. Trước chùa An Bằng.

Phát triển Phật giáo

Về sự Tu học, Sinh hoạt, Xây dựng Chùa tháp và Cơ sở vật chất của Khuôn Hội Phật Giáo An Bằng Xưa & Nay trãi qua 6 giai đoạn.

Ngôi chùa tại làng An Bằng đầu tiên đã xây dựng lên vào những năm 1742. Do dựa theo Bức Hoành Phi của chùa có tên chữ là: Chùa An Đức “An Đức Tự ”. Mà dân làng thường gọi là chùa làng. Chùa tọa lạc tại xứ lầm chùa thôn An Bường, Phủ Thuận hóa. Nay là thôn An Bằng, Xã Vinh an, huyện Phú vang, tỉnh Thừa Thiên-Huế, mặt hướng về Đông nam, trước có con khe nước trong mát, róc rách chảy bốn mùa không khô cạn, cổ nhân chúng ta thường gọi là khe Bùi qua khỏi con khe là Am bà Chúa. Am này mang nét đặc trưng của nền văn hóa cổ xưa, qua quá trình mưa nắng đã làm phai nét kiến trúc thời đó, hiện nay làng đã được trùng tu và bảo quản để thờ phượng cạnh một bên Am xưa nầy, mặc dù xuống cấp nhưng vẫn giữ nguyên nét cỗ kính xưa.

I – GIAI ĐOẠN THỨ NHẤT TỪ NHỮNG NĂM 1740-1742 ĐẾN NĂM 1955
Ngôi chùa An Đức Tự (Chùa Làng)

Chùa Làng được Xây dựng vào những năm 1742 Đời Vua Lê Hiến Tông (1740 – 1786) và Chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738 – 1765). Chùa An Đức Tự tại làng An Bằng được xây dựng cùng với thời chùa Thánh Duyên tại núi Thánh Duyên (gọi là hòn núi Am).
Căn cứ vào bức Hoành Phi làm bằng gổ quí mang 3 chữ “ An Đức Tự ” Cảnh Hưng năm thứ II. Quí vị tiền bối xưa trong làng kể lại bức hoành nầy do một Tổng Đô đốc có tên là Lê Đức Điểu cúng dường trong một dịp trùng tu chùa, theo nghiên cứu các sử liệu tất cả các chùa Làng được xây dựng đại đa số dưới thời triều Chúa Nguyễn. “Chúa Nguyễn Phúc Châu”, theo lịch sử Phật giáo đàng trong của ông Nguyễn Hiền Đức thì (chúa Minh Vương) Nguyễn Phúc Châu 1691- 1725 (còn gọi Chu), “Hiện Thiên Trung Đạo Nhân hay cư sĩ Hưng Long, sanh giờ mùi ngày 18 tháng 5 năm Ất mão 1675 là con trưởng của Chúa Phúc Tăng mẹ Ngài họ Tống”. ở đây chúng ta bắt gặp Ấp An Đôi vì kỵ tên húy của mẹ Ngài nên Ấp An Đôi đổi tên thành ấp An Bằng như hiện nay.
Ngôi Chùa làng còn gọi là chùa Ông Từ Me, vì ngày xưa làng mời ông Từ Me (tức Văn Me) làm Từ để bảo quản và hương khói trong Chùa, các Đền, Đài, Lăng, Am, Miếu.
Chùa được cấp 3 sào đất Tam Bảo Quan Thổ hiện nay vẫn còn di tích đất và các giấy tờ liên quan, như vậy chúng ta được biết chùa do công quỷ của Chúa Nguyễn xây dựng ( Chùa Quốc tự), trong thời điễm nầy chưa nhắc đến đình làng. Mãi đến năm 1813, tức 71 năm sau mới xây dựng đình làng lần đầu tiên bằng vật liệu tranh tre. Trên một lo đất khác cách Đình làng hiện nay khoản 200 mét
Đến năm 1947. có quí cụ Đào Nguyên Phong, cụ Đặng Túy liên lạc với Tỉnh hội khởi xướng Phật Phổ Học An Bằng lúc này chỉ chừng hơn 20 đạo hửu (hội viên). Những năm nầy lễ lượt như Phật Đản, Lễ Vu Lan đều tổ chức tại Chùa làng.
Và lúc nầy Phật giáo như là kẻ đối nghịch với thực dân Pháp quí cụ bị chính quyền thực dân địa phương bắt lên đồn Hà Thanh giam cầm, tra tấn lý do gán cho quý cụ quy tụ họp Việt minh. thời gian nầy Cụ Đào Nguyên Phong lên Huế để yên thân, còn Cụ Đặng Túy do bị tra trấn về nhà lâm bệnh rồi chết quí cụ còn lại vẫn chăm lo duy trì Hội và tiếp tục phật sự. Đến năm 1956, ngôi chùa bị cát vùi lấp dần, toàn bộ vật thờ cúng còn lại Làng giao cho Khuôn hội Phật giáo An Bằng là:
Ba (3) vị Quan Thánh để phụng tự tại chùa Khuôn, hiện nay chùa làng xưa đã khai quật và phục chế lại vào năm 2004. Nhưng đường cỗ kính và diện tích xây dựng không bằng chùa Làng xưa trước đây được.

II – GIAI ĐOẠN THỨ HAI TỪ NĂM 1956 ĐẾN NĂM 1962 .
Khuôn Tịnh Độ được thành lập vào năm 1956. Và đây là Ban Trị Sự Khuôn Hộ Tịnh Độ An Bằng đầu tiên năm 1956.
Khuôn trưởng : Cụ Trương Tuy
Khuôn Phó : Cụ Lê Tá
Thư Ký : Cụ Văn Công Hòe
Tài Chánh : Cụ Đào Tơ
Văn Hóa : Cụ Lê Côn
Từ Thiện : Cụ Lê Phát (thân sinh của bác Lê Bính Xin)

Ban Trị Sự Khuôn Tịnh Độ và đạo hửu chọn nhà cụ Lê Tá làm nơi tu học, tụng kinh niệm Phật, thành lập các ban ngành như: Ban nghi lễ, Ban văn hóa, Ban Từ thiện, Ban Huynh trưởng GĐPT mặt dù nằm trong thời kỳ khó khăn nhưng sự tu học, sinh hoạt rất thuần túy, hội viên nhập hội càng ngày càng đông đảo.

Từ năm 1957- 1958.
Năm 1958 là nhiệm kỳ Ban Trị Sự Khuôn Tịnh Độ lần thứ 2. và sau đây là Ban Trị Sự.

Khuôn Trưởng : Cụ Lê Tá
Khuôn Phó : Cụ Văn Huấn
Khuôn Phó : Cụ Nguyễn Khoanh
Thư Ký : Cụ Đặng Tín
Tài Chánh : Cụ Trương Đại.
Từ Thiện : Cụ Huỳnh Chớ
Ban Nghi Lễ : Bác Lê Bính, Lê Vẽ , Hồ Đành

Song song với sự phát triển Khuôn hội và Gia Đình Phật Tử An Bằng. Đến năm 1956 năm 1957 đã xây dựng một ngôi Chùa cạnh đình làng đây là ngôi chùa thứ 2 về mặt pháp lý có giấy tờ của chính quyền lúc bấy giờ cấp và cụ Lê Khinh đã ký cấp đất cho Khuôn hội An Bằng hiện nay vẫn còn lưu giữ.
Ngôi chùa do Đại Lão Hòa Thượng Thích Thiện Siêu trực tiếp làm lễ Khai sơn và đặt đá, chùa được xây dựng lên, thì một lễ quy y đầu tiên tại ngôi chùa nầy vị Bổn Sư truyền giới lúc bấy giờ là cố Đại lão Hòa Thượng Thích Thiện Siêu. Kể từ đây khuôn hội và GĐPT phát triển rất mạnh đạo hửu theo Phật giáo ở thời kỳ này đã chiếm lên tới 75% dân số của làng An Bằng.
Từ năm 1958 – 1962
Phật giáo An Bằng đang trên đà phát triễn, quí Cụ, qúi bác sau đây đã được bầu giữ các chức vụ trong các nhiệm kỳ này:
Khuôn Trưởng: Cụ Văn Công Huấn
Khuôn Phó : Cụ Văn Công Cánh
Thư Ký : Cụ Đào Biên
Tài Chánh : Cụ Lê Ái

Ban Văn Hóa

Bác Lê Bính Xin
Bác Lê Kiệm
Cụ Lê Mai

Ban Nghi Lễ:

Cụ Hồ Đành – Cụ Huỳnh Kiền
Cụ Lê Vẽ – Cụ Nguyễn Dẫn.
Cụ Lê Dược – Bác Văn Con
Bác Văn Công Ký
Tài Chánh:
Cụ Đào Tơ – Cụ Lê Thu
Cụ Trương Đại

Từ Thiện:
Cụ Lê Ái – Cụ Nguyễn Cà – Cụ Trương Độ
Cụ Nguyễn Hãi – Cụ Nguyễn Thía

***
Nhiệm kỳ Ban Đại Diện Khuôn Hội Phật Giáo Kế Tiếp Bác Văn Công Huấn Là:

Khuôn Trưởng: Cụ Văn Công Cánh
Khuôn Phó : Cụ Hồ Khoanh
Khuôn Phó : Cụ Nguyễn Đẫu
Tài Chánh : Cụ Lê Thu
Văn Hóa : Cụ Trương Đại
Nghi Lễ : Cụ Văn Bính
Từ Thiện : Cụ huỳnh Một

Nhiệm kỳ Ban Đại Diện Khuôn Hội Phật Giáo An Bằng, Kế Tiếp Bác Văn Công Cánh Là :

Khuôn Trưởng: Cụ Văn Tấn Oanh
Khuôn Phó : Cụ Nguyễn Đẫu
Thư Ký : Bác Lê Phát.

Các thành viên khác được lưu nhiệm.

III – GIAI ĐOẠN THỨ BA TỪ NĂM 1963 ĐẾN 1968

Năm 1963-1966. Dưới chế độ Ngô Đình Diệm một chế độ kỳ thị tôn giáo và tiếp theo đó là chế độ Nguyễn Văn Thiệu, một chế độ bầu cử độc diễn đã thẳng tay đàn áp Phật giáo Việt Nam nói chung, Phật tử An bằng nói riêng đã gánh chịu những nỗi thống khổ đây là lần thứ 2 chính sách đàn áp tôn giáo cực kỳ nghiêm ngặt chưa từng có trong lịch sử Việt Nam, Phật giáo đã chịu đựng và tổn thất biết bao xương máu, mồ hôi và nước mắt, để bảo tồn đạo pháp và dân tộc, trong đó có phật tử An Bằng.
“Đến đây chúng ta thành kính tưởng niệm, Niệm ân quý vị tiền bối hửu công. Tiền hậu công đức đã có công đóng góp nhân lực, trí lực, tài lực, vật lực xây dưng và phát triển nền Phật Giáo An Bằng. Có danh sách kể từ năm 1945 đến ngày hôm nay 2009.:
Những tưởng như thế mà tiến dần từng bước trên con đường tu học nhưng than ôi !
Năm 1968 (Mậu thân) chiến tranh đã tàn phá trên quê hương An Bằng vào ngày 13 tháng 6 năm này hàng chục lượt máy bay thả (dội) bom xuống lang An Bằng làm 318 nóc nhà bị sụp đổ chỉ trong mấy tiếng đồng hồ sau đó trong ngày, một số người dân lương thiện đã tử nạn trong lượt thả bom nầy, ngôi chùa Khuôn hội cũng bị sụp đổ chỉ độc nhất một ngôi tượng Phật còn nguyên vẹn.
Trước cảnh đau thương mất mát, cảnh nhà tan cửa nát trên quê hương, dân làng và đạo hửu đều di tản khắp nơi, tìm chỗ trạm trú để lánh thân bằng mọi hình thức.
Anh em Huynh trưởng, đoàn sinh, và thanh niên trong làng đa số lên đường làm nhiệm vụ công dân, một số chị em phải đi nơi khác kiếm kế sinh nhai.
Quí bác quí anh chị em ở lại quê nhà, bằng tinh thần lảnh đạo và hướng dẫn Phật tử An Bằng tu học quyết tâm vận động xây dựng lại một ngôi chùa khác nữa, đó là hoài bảo lớn luôn luôn canh cánh bên lòng, trong giai đoạn khó khăn mọi mặt quí bác Nguyên hạnh Đào Tầng vẫn là Khuôn trưởng, Nguyên vĩnh Huỳnh Chớ Khuôn phó, Trương Đại Thư Ký Kiêm Gia trưởng, quí anh Huynh trưỏng Văn Tiến Nhị, Đào Hoài, Hoàng Vinh Quang, Nguyễn Tông, Đào Duy Ý, Văn Nhân Đạo và quí chị Huỳnh Thị Hoa, Lê Thị Ngại, Lê Thị Hạnh và một số quí anh chị cựu Huynh trưởng và đoàn sinh, từng bước qui tụ đạo hửu và đoàn sinh GĐPT tiếp tục tu học và sinh hoạt, tiếp nối sự nghiệp của cha, anh đi trước cho đến hôm nay.

IV – GIAI ĐOẠN THỨ TƯ TỪ NĂM 1969 ĐẾN 1974:
Được tạm ổn định trên mảnh đất mới quy tụ nầy trong lúc Khuôn hội chưa xây dựng được ngôi chùa thì nhiều gia đình đạo hửu phát tâm thờ ngôi tượng Phật còn lại trong nhà làm nơi tụng kinh cầu nguyện của đạo hửu, tu học và sinh hoạt của GĐPT.
Để thuận tiện việc giao thông đi lại của đạo hửu và các em GĐPT, nên Ban Đại Diện Khuôn Hội đã chọn nhà bác Cố Nguyễn Tửa, làm nơi lễ Phật và tiếp tục sinh hoạt phật sự từ cuối năm 1969.
Đến tháng 10 năm 1971. Quý bác trong Ban Đại Diện Khuôn hội, quí bác nguyên khuôn trưởng, gia trưởng, quí anh chị huynh trưởng, niên trưởng, toàn thể đạo hửu và đoàn sinh GGĐPT tích cực vận động bằng mọi nổ lực, tinh thần lẫn vật chất cho nên đầu năm 1972 ngôi chùa nữa được dựng lên đây là ngôi chùa thứ 2 tương đối hơn lần trước, trên khu đất mới ở Nam Triều do Ban Đại Diện Khuôn mua bác của Cụ Văn Uýnh và một số Cụ đạo hửu cúng dường.

(Tất nhiên là ngôi chùa hiện nay 2009 và toàn bộ cơ sở vật chất của Phật giáo An Bằng cũng trên phần đất nầy mà phát triển lên.)
Mặt dù trong những năm 1971 – 1973. Chiến tranh trên toàn khắp đất nước nói chung, nhìn lại quê

Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Thiện Siêu gặp quý bác Phật tử trong Khuôn Hội Phật Giáo An Bằng vào năm 1977 ( Nguyên Khuôn trưởng ĐàoTầng, Bác Phó khuôn trưởng Huỳnh Chớ, đạo hửu Huỳnh Hòe, Hồ thị Viễn, Hồ thị Vện( tức Viện) và các đạo hửu có thiện duyên nghe Ngài thuyết pháp)

hương An Bằng có phần ổn định về an ninh, Khuôn hội và GĐPT tu học và sinh hoạt phát triển rất mạnh, Mặt khác là quí anh huynh trưởng Đào Hoài, Văn Tiên Nhị đã liên hệ với tỉnh Giáo hội xin cử Thầy Từ Phong về để mở trường Bồ Đề dạy học mời quí Thầy, Cô về dạy học ở trong địa phương, cũng có quý anh chị Huynh trưởng đứng ra đảm trách các lớp học cụ thể Anh Văn Tiến Nhị, Nguyễn Tông, Hoàng Vinh Quang, Đào Duy Ý, những học sinh trường Bồ đề An Bằng, các em đều thành đạt trên mọi lĩnh vực, từ trong nước đến Hải ngoại, mở Ký Nhi Viện để nuôi dạy trẻ em, mở Hội từ thiện để cấp phát thuốc cho bà con dân làng, Miễn, giảm học phí cho học sinh nghèo, cứu tế tiền, gạo lúc khó khăn hoạn nạn, chính cũng nhờ vậy mà đời sống dân làng trong những năm nầy, giảm bớt khó khăn về mọi mặt.

Bác Chánh đại diện Đào Tầng dẫn đầu đạo hữu và GĐPT từ Lễ đài chính đang trên đường về chùa An Bằng vào dịp lễ Phật Đản 1972

Do vậy Phật giáo An Bằng qua một thời kỳ hưng thịnh vào những năm 1972 đến 1974, Thời gian nầy quí bác quí anh chị đi làm ăn xa, và thi hành công vụ đều hướng về quê hương để động viên tinh thần ,vật chất để xây dựng Phật sự quê nhà, quí anh chị đã gởi hiện kim về góp phần xây dựng chùa và cột cờ giữa chánh điện sân chùa.

SAU ĐÂY LÀ MỘT SỐ HÌNH ẢNH SINH HOẠT VÀ TU HỌC CỦA GĐPT AN BẰNG TỪ NĂM 1968 – 1975
Đoàn Oanh Vũ Nam GĐPT An Bằng năm 1973

GĐPT An Bằng sau giờ sinh hoạt trước ngôi chùa thứ ba nhân mùa
Phật Đản PL: 2518 (1974)
Đoàn Thiếu Nữ GĐPT An Bằng 1973
Đoàn Thiếu Niên GĐPT An Bằng năm 1973
Ban Huynh Trưởng GĐPT An Bằng năm 1971 – 1973

Đoàn Oanh Vũ Nữ GĐPT An Bằng năm 1973
Buổi ban sơ vào năm 1954 hai em oanh vũ làm lễ lên đoàn tại ngôi chùa cũ bên cạnh đình làng từ trái sang phải em Văn Tiến Nhị và em Văn Hưng
Hiện nay 2009. Văn Tiến Nhị là Huynh trưởng CấpTấn Ban Viên BHD.GĐPT/Thừa Thiên. Văn Hưng nguyên phó thư ký BHD/TƯ GĐPT/Việt Nam tại Koa Kỳ
Huynh trưởng Nguyên Ngộ Đào Hoài và 3 em Oanh vũ là Hoàng Ngọc Quế, Văn công Chò, Văn Công Cơ thuộc GĐPT/AB. 1972.
Hiện nay 2009 Đào Hoài dang công tác tại Học Viện Ngân hàngTrung ương II Tuy Hòa Phú Yên, Quế ở Hoa Kỳ đang phục vụ GĐPT tại Hải ngoại, Chò ở CaNaDa lo xây dung phật sự, Cơ ở Hoa kỳ dang lo công tác phật sự.

V – GIAI ĐOẠN THỨ NĂM TỪ NĂM 1975 – 1995:

Những tháng ngày của đầu mùa Xuân năm 1975 quê hương đã thật sự chấm dứt cuộc chiến tranh Nam, Bắc đất nước được thống nhất, giang sơn thu về một mối Nam Bắc cùng chung một nhà.
Nhưng hậu quả của cuộc chiến tranh dai dẵng để lại không biết bao nhiêu gian khổ, đau thương mất mát, quý bác, anh chị em đều ly tán, làm ăn xa quê huơng, cuộc sống của người dân nói chung, và dân An Bằng nói riêng rất cơ cực, thời kỳ 1979 – 1980 dân làng phải ăn, xương rồng, củ éo, sắn, bo bo, chưa đủ phải kéo nhau vào nam bằng mọi phuong tiện đường biển, đường sông, đường bộ để cầu kiếm lương thực nuôi sống gia đình.
Đến năm 1981, bà con dân làng một số đi kinh tế mới, trên nhiều địa phương, nhiều tỉnh thành trong cả nước, đa số là vào Nam, một số tìm cách đi ra nước ngoài để làm ăn sinh sống và đây là cao trào dân làng An bằng đi ra nước ngoài bằng phương tiện ghe thuyền đi đường biển và an toàn (vượt biển)
Những bác, những anh chị em còn lại cùng với địa phương từng bước khắc phục mọi khó khăn, xây dựng, ổn định đời sống gia đình, xã hội, quy tụ quí đạo hửu của khuôn hội và huynh trưởng, đoàn sinh GĐPT để cũng cố, mỡ mang việc tu học và xây dụng Phật sự càng ngày càng mạnh lên, nhờ nền kinh tế nước nhà qua thời mở cửa, chủ trương đổi mới đang trên đà phát triển.
Ở quê hương có bà con, con em đi ra nước ngoài làm ăn sinh sống dành dụm để gởi tiền, hàng về giúp đở gia đình theo truyền thống thương yêu đùm bọc lẫn nhau, lá lành đùm lá rách vốn có từ muôn đời tổ tiên ông bà để lại, nên kinh tế dân làng qua thời kỳ những năm 1984 đến nay đã vượt trội hơn một số địa phương khác trong khu vực, dấu hiệu thật đáng mừng.
Đến năm 1989 ngôi chùa thứ 3 được đại trùng tu chưa hoàn chỉnh thì. Vào mùa Hạ năm 1990 Bác Khuôn trưởng Nguyên Hạnh Đào Tầng. Sau 1o năm liên tiếp, đãm trách chức vụ Khuôn trưởng do tuổi già sức yếu Bác phải ra đi về bên kia thế giới.

Ban Đại Diện Khuôn Hội Phật Giáo thời gian nầy gồm có:

Khuôn Trưởng : Cụ Đào Tầng
Khuôn Phó : Cụ Huỳnh Chớ
Thư Ký : Cụ Trương Đại
Thư Ký : Bác Phạm Văn Vinh

Thời gian nầy Ban Đại Diện đã nhật tu lại hồ sơ sổ sách, phổ hệ của Khuôn, lập gia phả của GĐPT An bằng, kiện toàn các ban ngành của Khuôn, cải cách làm việc theo lề lối hành chánh. Có một ban Huynh trưởng được đào tạo kỷ cương qua các khóa huấn luyện huynh trưởng cọng tác với ban đại diện Khuôn hội để điều hành Phật sự là:
Hoàng Vinh Quang, Văn Tiến Nhị, Nguyễn Tông, Đào Hoài, Đào Duy Ý, Văn Nhân Đạo, Phan Văn Khá. Và các chị Hoàng Thị Hoa, Lê Thị Ngại, Lê Thị Hạnh v.v…

Theo luật vô thường bác ĐàoTầng đã ra đi để lại trách nhiệm nặng nề cho Khuôn hội, nên Ban Đại Diện Khuôn Hội họp đại hội bầu Bác Trương Phán làm Khuôn trưởng để ổn định tổ chức Khuôn hội. Ban Đại Diện nhiệm kỳ nầy gồm có:

Khuôn Trưởng : Cụ Trương Phán
Khuôn Phó : Bác Huỳnh Liển
Thư Ký : Bác Đào Tuyên
Thư Ký : Bác Nguyễn Danh.
Tài Chánh ; Bác Phạm Phổ
Nghi Lễ : Bác Trương Mốt

Tiếp theo là nhiệm kỳ của bác Trương Phán là Bác Huỳnh Chớ được bầu làm Khuôn trưởng. Ban Đại Diện nhiệm kỳ nầy gồm có:

Khuôn Trưởng: Cụ Huỳnh Chớ
Khuôn Phó : Cụ Văn Công Lý
Khuôn Phó : Nguyễn Thời
Thư Ký : Bác Văn Tiến Nhị
Thư Ký : Bác Lê Tây
Tài Chánh : Bác Hồ Thây
Nghi Lễ : Bác Trương Mốt

(Trước khi bác Chớ làm Khuôn trưởng bác đã dự các chức vụ nặng nề không mệt mõi trong Khuôn hội, từ ban viên đến Khuôn Phó rồi Khuôn trưởng, bác đã từng chịu mọi khó khăn, gian khổ qua các thời đại để xây dựng và phát triển phật sự tại quê nhà).

Sau khi bác Huỳnh Chớ mãn nhiệm kỳ. Do bối cảnh của Khuôn Giáo Hội có phần khó khăn về nhân sự, và việc Phật sự rất cần thiết nên Khuôn hội mời bác Trương Phán đãm trách Khuôn trưởng lại thêm một nhiệm kỳ nữa. Và Ban Đại Diện nhiệm nầy gồm có:

Khuôn Trưởng : Cụ Trương Phán
Khuôn Phó : Cụ Nguyễn Nguyện
Thư Ký : Bác Lê Tây
Thư Ký : Bác Văn Tiến Nhị
Tài Chánh : Bác Hồ Thây
Nghi Lễ : Bác Lê Phát
Từ Thiện : Bác Văn Tân
Bác Trương Phán phải đứng ra đãm nhiệm để tiếp tục xây dựng phật sự đại trùng tu ngôi chùa lần thứ 3. Sau khi xây dựng ngôi chùa xong do tuổi già sức yếu bác Trương Phán qua đời,
Nhiệm kỳ kế tiếp bác Trương Phán là bác Văn Dinh được bầu làm Khuôn trưỏng. Ban Đại Diện nhiệm kỳ nầy gồm có:

Khuôn Trưởng: Cụ Văn Dinh
Khuôn phó : Cụ Trương Lang
Thư Ký : Bác Nguyễn Dũng Chinh
Tài Chánh : Bác Hoàng Anh
Nghi Lễ : Bác Văn Năm
Từ Thiện : Bác Lê Bòn
Ban Đại Diện Khuôn Hội nhiệm kỳ nầy đứng ra tổ chức lễ Khánh Thành, Trai đàn Chẩn tế được tổ chức vào năm Quí dậu 1993.

Tiếp theo nhiệm kỳ của bác Văn Dinh là bác Lê Phát được bầu làm Khuôn Trưởng nhiệm kỳ nầy gồm có:

Khuôn Trưởng: Bác Lê Phát
Khuôn Phó : Bác Lê Tiếp
Khuôn Phó : Bác Phạm Lồi
Thư Ký : Bác Nguyễn Quang Thành
Tài Chánh : Bác Hồ Luận
Tài Chánh : Bác Lê Nguyên

Nhiệm kỳ nầy tiếp tục Phật sự, là vào năm 1995 xây dựng tượng đài Quan Thế Âm Bồ Tát tại khuôn viên chùa, xây dựng cổng Tam quang chùa, đồng thời xây dựng nhà thờ hậu Linh rất quy mô, đạo hửu từ trong nước đến hải ngoại ai ai củng đồng tình, ủng hộ, vui mừng, phấn khởi.

VI – GIAI ĐOẠN THỨ SÁU TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2005:

Nhiệm kỳ tiếp theo của bác Lê Phát là Bác Nguyên Minh Trương Công Châu được bầu làm Khuôn trưởng và Ban Đại Diện Khuôn Hội nhiệm kỳ nầy gồm có:
Bác Trương Công Châu Khuôn trưởng phát biểu tại buổi lễ cầu an ở chua An bằng đầu năm Đinh hợi Phật lịch 2551(1007)
Kính tặng Bác Trương Công Châu

* Bảy Nổi Ba Chìm Lúc Hoạn Nạn Nhục Vinh Đầy Đủ Anh Em, bàn Tay Lèo Lái Một Đường Theo Chính Nghĩa.

*Trăm Khôn Ngàn Khéo Hồi Sa Cơ Thất Thế Thắm Tình Huynh Đệ, Đạo Tâm Điều Chuyển Vạn Nẻo Vẫn Hiếu Trung.
(Nguyên phương)

Khuôn Trưởng:
Bác Trương Công Châu
Các vị Khuôn Phó:
Bác Hoàng Anh
Bác Lê Vân
Bác Văn Diệm
Bác Nguyễn Dũng Chinh
Bác Hoàng Tân

Các vị Thư Ký
Bác Nguyễn Anh Dũng
Bác Văn Tấn Năm
Bác Lê Lào
Bác Lê Dũng

Tài Chánh
Bác Hồ Luận
Bác Lê Nguyên
Bác Hồ Hưu

Trưởng ban Văn Hóa
Bác Văn Tiến Nhị

Các vị Trưởng ban Nghi Lễ
Bác Trương Mốt
Bác Lê Vân
Bác Văn Pháp
Bác Nguyễn Cẩn
Bác Hoàng Tân

Các vị Trưởng Ban Từ Thiện
Bác Trương Phúc
Bác Lê Giác

Để biết rằng vì sao mà Bác Trương Công Châu làm Khuôn Trưởng, có nhiều Khuôn Phó và nhiều Thư ký và các ban ngành cũng nhiều như vậy.
Bởi vì bác Châu làm Khuôn trưởng suốt 9 năm trong 3 nhiệm kỳ liên tiếp từ năm 1996 cho đến 2005. Do công tác Phật sự quan trọng nên mỗi lần đại hội. Đại hội yêu cầu bác đảm nhiệm để điều hành các công việc như: Đại Trùng Tu làm mới Ngôi chùa, tổ chức cổng cố nhân sự, xây dựng các ban ngành đoàn thể của Khuôn hội và đề nghị Ban huynh trưởng GĐPT An Bằng nhanh chóng thành lập Ngành Thanh GĐPT An Bằng v.v… Còn quí bác thì hết một nhiệm kỳ rồi nghỉ, hoặc chưa mãn nhiệm kỳ nhưng nặng việc gia đình và hoàn cảnh xin nghỉ .…

Từ Năm 2006 – 2009.
Sau 9 năm tức 3 nhiệm kỳ của Bác châu. Đến cuối năm 2006
Đại hội khuôn hội bầu bác Nguyên Nhật Hoàng Tân làm Khuôn Trưởng. Ban Đại Diện nhiệm kỳ nầy gồm có:
Khuôn Trưởng: Bác Hoàng Tân
Khuôn Phó : Bác Nguyễn Cẩn
Khuôn Phó : Bác Hồ Bính
Thư Ký : Bác Văn Minh Ngôn
Thư Ký : Bác Trương Đoàn
Tài Chánh : Bác Lê Đương.
Văn Hóa : Bác Nguyễn Anh Tuấn
Trưởng nghi Lễ Bác Hồ Song
Từ Thiện : Bác Lê Chiến

Nhiệm kỳ nầy kế thừa tiếp tục Phật sự kể từ năm 2006 cho đến hôm nay.
Từ năm 1975 đến nay 2009 quí cụ, quí bác sau đây kẻ mất người còn đã và đang giữ chức vụ Chúng Trưởng:

Cụ Nguyễn Phát – Bác Trương Thoang
Bác Huỳnh Phong – Bác Văn Vu
Bác Hồ Quýnh – Bác Lê Thẻo
Bác Lê Quế – Bác Văn Thay – Bác Văn Đôn
Cụ Đặng Hưng – Bác Văn Huynh.

Từ năm 1975 đến 2009 quí cụ, quí bác sau đây người còn kẻ mất đã và đang giữ chức vụ các Ủy Viên.

Cụ Trương Lỗi – Bác Hồ Tiếp
Bác Nguyễn Đẩu – Bác Nguyễn Đẩu Gái
Bác Văn Dì – Bác Lại Ngọc

V / ĐÀO TẠO NHÂN TỐ, GĐPT KẾ THỪA SỰ NGHIỆP.
(Trồng người)
Khuôn Hội Phật Giáo rất quan tâm đến tuổi trẻ GĐPT, luôn cho đi đào tạo các Trại huấn luyện Huynh trưởng để hướng dẫn Gia Đình Phật Tử kế thừa sự nghiệp, cho nên anh chị em sẳn sàng hy sinh, chấp nhận để bước vào nghề Huynh trưởng là nghề không lương bổng, mà có lương tâm, bởi vì tổ chức áo lam này không ranh giới, không phân biệt giai cấp, bên cạnh ái nử của ông quan, là con của một chị bán cháo nghèo nàn, trước mặt một sinh viên đại học, là những anh chàng tay búa tay đe, đều trung thành với di chúc của đức Từ Phụ không có giai cấp trong nước mắt cùng mặn, trong giòng máu cùng đỏ, cao đẹp thay tổ chức GĐPT.
Gia Đình Phật Tử An Bằng từ bến “ Bến mê, trầm luân”, đã quay về nhưng chưa hết khổ cứ nối tiếp. Rồi chuyện một đêm trong những năm 1963 chế độ Ngô Đình Diệm đàn áp, tại ngôi chùa cạnh đình làng khổ đau, chua xót hơn là vu khống chứa lưỡi lê, lựu đạn trong chùa An Bằng, vì chiến tranh, vì hạ cờ Phật giáo, vì đàn áp dã man, mà anh chị em Huynh trưởng và đoàn sinh bị bao vây ở trong chùa chịu nhịn đói, nhịn khác, biết được tin nầy thì có người chị ( Chị Đào thị Niệm) đã đem bún mì chay hiệu ông Phật, nước uống thừa lúc vắng người canh gác, nhét vào khe cửa, anh em chia nhau từng sợi bún để ăn cho đở đói. “Trong GĐPT chúng ta đã có những người chị như thế ”.
Những người con Phật không thể ngủ mê và đã tỉnh ngộ để quay về với đức Phật, về dưới Phật đài, về với chính mình, nguyện với lòng mình cho yên tỉnh, dù cuộc đời có chứa chan khổ đau phiền lụy hay có xa cách màu áo lam một thời vì cuộc chiến, vì hoàn cảnh, vì nhiệm vụ. Nay đã trở về đoàn tụ dưới mái nhà lam thân yêu, có hoa sen nở, có trầm hương nghi ngút đạo tình, để cùng nắm tay nhau và cùng hát bài ca Giây Thân Ái, bài ca ấy, con người ấy, các anh các chị không bao giờ quên.
“ Dù cách xa ngàn dặm nhưng gần, gan thép ta chia tay đừng buồn” .
Nếu không vì tình thương đối với đàn em thơ dại, không vì tinh thần và trách nhiệm, không vì lý tưởng của mình, thì quí anh chị đã bỏ gánh giữa đường rồi.
Cho nên càng thông cảm hoàn cảnh khó khăn của anh chị em, chúng ta lại vô cùng cảm mến và thán phục tinh thần chịu đựng và trung kiên của anh chị em đối với phong trào Gia Đình Phật Tử An Bằng nói riêng và GĐPT Việt Nam trên toàn thế giới nói chung.
Nhìn xa hơn nữa, những tấm gương của các Thánh tử đạo vẫn là động lực nung nấu tâm cang chúng ta, thúc dục chúng ta những lúc chùn bước, chùn chân, ánh mắt của những con ngưòi anh dũng ấy luôn luôn chiếu rọi vào tâm hồn chúng ta, làm ớn lạnh chúng ta mỗi lần có những tư tưỏng lệch lạc.
Hoạt động của GĐPT áo lam không thể tách rời ra khỏi tình tự của dân tộc, của quê hương xứ sở mình, những đau thương mất mát của dân tộc, của quê hưong xứ sở, là nổi đau thương mất mát của chính mình.

Vì tổ chức của nó không phải chỉ đào tạo các em thành người phật tử chơn chính, mà còn đào tạo các em thành những con người Việt Nam sống đúng với truyền thống dân tộc, tự lập, tự cường, không vọng ngoại mà phải giữ lấy lề, “dù cho giấy có rách”, cái ý chí ấy đã bao lần góp phần cứu được quê hương tránh khỏi mọi xung đột có thể xẩy ra.
Gia Đình Phật Tử An Bằng được thành lập vào năm 1957 cùng một lần với Khuôn Tịnh Độ. Từ ngày thành lập cho đến hôm nay GĐPT không có thời gian nào gián đoạn sinh hoạt, quí anh chị trưởng những người ở thế hệ trước tiếp nối cho đến hôm nay và chắc chắn sau nầy đều một lòng một dạ đoàn kết thương nhau, yêu mến đàn em và chăm lo xây dựng tổ chức GĐPT.
Những ngày lễ Chu niên hàng năm từ khi sinh hoạt lâm thời 1957 mãi đến năm 1970 Ban Hướng Dẫn GĐPT/ Thừa Thiên mới công nhận chính thức dù đang sinh hoạt lâm thời, cho đến lúc chính thức, năm nào cũng tổ chức lễ Chu niên, mỗi lần tổ chức lễ, không thiếu vắng các anh chị cựu Huynh trưởng, cựu Đoàn sinh trong những ngày trọng đại này, truyền thống của GĐPT An Bằng là: “ Mặt dù đi ở bất cứ nơi đâu anh chị em cũng luôn luôn nhớ và thương đến GĐPT quê nhà.”
Những cuộc du ngoạn, thám du trên đất khách, những ngày cắm trại, những buổi sinh hoạt, những lúc trò chơi lớn, nhỏ, những đêm văn nghệ ở sân chùa, trên đất lửa trại, trên diễn đàn sân khấu, khắp mọi nơi trong tỉnh, huyện nhà. Suốt 52 năm qua đều đem lại lợi lạc, an vui, hiểu biết, bổ ích cho xã hội, cho đạo pháp, cho Khuôn hội và cho tổ chức GĐPT, chưa có một lần nào sai sót lớn lao tại các diễn đàn ở các buổi Văn nghệ nói trên.
Nhờ vậy uy tín của tổ chức GĐPT An Bằng mỗi ngày một phát triển lớn mạnh, vững chắc so với các GDPT trong tỉnh, huyện nhà và các vùng nơi khác, thì GĐPT An bằng đã và đang vượt trội.
Từ ngày thành lập GĐPT An Bằng 1957 cho đến nay năm 2009. Đội ngủ Huynh trưởng đều được Huấn luyện kỷ cương, qua các kỳ trại kể từ Huynh trưởng, ban thường vụ cho đến các Đoàn, Đội, Chúng và Đàn. Huynh trưởng và đoàn sinh theo học các khóa Huấn luyện Sơ cấp Lộc Uyển, A Dục, Huyền Trang, Vạn Hạnh và các bậc học. Kiên, Trì, Định, Lực. bậc Hòa, bậc Trực, Hướng thiện, Sơ thiện, Trung thiện, Chánh thiện, bậc Mở mắt, Cánh mềm, Chân cứng và Tung bay. Cứ như thế mà từng bước sắp xếp Huynh trưởng và đoàn sinh tham dự khóa huấn luyện, các bậc học nói trên Khuôn hội và quí ban Huynh trưởng tiền nhiệm luôn xem đây là nguồn cán bộ đạo vừa điều khiển GĐPT vừa cung cấp nhân sự cho Khuôn hội khi cần.
GĐPT An Bằng đã thành lập được Ngành Thanh vào tháng 12 năm 1999. Huynh trưởng và đoàn sinh GĐPT An Bằng luôn luôn tôn trọng và chấp hành Nội quy, Quy chế Huynh trưởng GĐPT Việt Nam, ngoài việc chấp hành đúng Nội quy, Quy chế Huynh trưởng.
Ban Huynh trưởng còn phải soạn thảo quy ước thông qua tập thể Huynh trưởng và Đoàn sinh được nhất quán để áp dụng riêng trong GĐPT An Bằng cho phù hợp tình hình thực tế và phong tục, tập quán của địa phương. Có như vậy ít vấp phải việc vụn nhặc có thể xẩy ra trong suốt 44 năm qua tính đến năm 2009 – 2010

Đã có một số liệu kết quả đáng mừng như sau:
Tổng số Huynh trưởng và đoàn sinh GĐPT An Bằng đến hôm nay
Năm 2009. Phật lịch 2552 là: 597
Trong đó:
Huynh Trưởng 61
Đoàn sinh 536
Trong đó :
Ngành Thanh: 80 Nam. Nử: 130
Ngành Thiếu: 56 Nam. Nử: 60
Ngành Oanh : 80Nam. Nử: 130

Đoàn sinh đã tham dự các trại: Đội, Chúng trưởng, Phó. Đàn trưởng, Phó: 55

Huynh trưởng tham dụ trại:
Trại Lộc Uyển. A Dục: 29.
Trại Huyền Trang: 16.
Trại Vạn Hạnh: 01

Huynh trưởng đã thọ các cấp bậc:
Cấp Tập: 22
Cấp Tín: 9
Cấp Tấn: 01

HT. Đã và đang tham dự các Bậc học:
Bậc Kiên – Trì – Định – Lực: 61

Đoàn sinh đã và đang tham dự bậc học:
Bậc Hòa. Bậc Trực: 210.
Bậc Hướng Thiện: 26.
Bậc Sơ Thiện: 32.
Bậc Trung Thiện: 21.
Bậc Chánh Thiện: 4.
Bậc Mở Mắt: 45.
Bậc Cánh Mềm: 40.
Bậc Chân Cứng: 35.
Bậc Trung Bay: 15.

Điều đó được nói ra và nêu lên ở đây để chứng minh rằng:

“Kế hoạch trồng người, theo đường lối, phương pháp lảnh đạo của Ban Đại Diện Khuôn hội Phật giáo và Ban Huynh trưởng GĐPT An Bằng đáng được phát huy để truyền thừa.
GĐPT An Bằng suốt trong 44 năm qua hành hoạt mặc dù về phưong diện hình thức có một vài thay đổi để khế hợp với hoàn cảnh xã hội, của các thời đại nhưng về nội dung và tinh thần GĐPT An Bằng luôn sáng vững trong lòng Đạo pháp, Dân tộc và trên quê hương, xứ sở mình, chính nhờ những tinh thần cao quí của châm ngôn BI – TRÍ – DŨNG đã được Lịch Đại Tổ Sư, chư Thầy (Cô) Cố vấn giáo hạnh trao truyền, và các bậc đàn Anh, đàn Chị không ngừng thể hiện và thực hiện đã tạo dựng nên những truyền thống, cao đẹp tuyệt vời trong ý thức tuân thủ Nội quy và Quy chế, Huynh trưởng, trong ý chí giữ vững gia phong, kỷ cương và nề nếp của Tổ chức, cũng như trong quyết tâm bảo vệ tính thống nhất của GĐPT bởi tình thương yêu chân thành, sự hiểu biết sáng suốt trong cảm thông hòa hợp và đoàn kết thực sự của tập thể Anh Chị Em Áo Lam qua tâm nguyện trung kiên với Giáo hội, hiếu hạnh với Khuôn hội để đi trọn con đường Hoa Sen Trắng để cùng nhau làm đẹp vai trò “Làm đẹp đời, Thơm đạo” của Tổ chức hầu sớm hoàn thành mục đích và Sứ mệnh của Gia Đình Phật Tử Việt Nam nói chung , GĐPT An Bằng nói riêng…”

Phật giáo An Bằng chúng ta có nhiều căn cơ, phước báu với mười phương Chư Phật từ nhiều đời, nhiều kiếp, trong đó có GĐPT, nên hôm nay quê hương chúng ta đã có hàng chục gia đình có con đi xuất gia làm sứ giả của Như Lai trên khắp mọi miền đất nước và thế giới gồm trên 40 Tăng, Ni qua nhiều pháp môn tu học.
Nay có vị lên hàng Đại Đức, Thượng Tọa, Sư cô, tương lai có khả năng tiến xa hơn nữa đã và đang lo hành hóa, chúng sanh dị độ, đã góp phần xây dựng đạo pháp tại quê nhà, số vị đi xuất gia, đa số đều xuất phát từ GĐPT An Bằng, hoặc con cái của quí Huynh trưởng mà ra.
Từ khi thành lập đến nay GĐPT An Bằng luôn sinh hoạt vào các ngày chủ nhật. Ngành Thanh sinh hoạt vào các ngày mồng 1 và 15 (rằm).
Nhìn vào “sự nghiệp trồng người” của Khuôn hội và GĐPT An Bằng chúng ta rất đáng phấn khởi và tự hào. Phật giáo An Bằng đang thăng tiến trên đà phát triển của thời đại. của đất nước nói chung, của quê hương xứ sở mình nói riêng.

***&***

BAN HUYNH TRƯỞNG GIA ĐÌNH PHẬT TỬ AN BẰNG

Chương Mở Đầu Quy Chế Huynh Trưởng GĐPT Việt Nam

Sứ mệnh của người Huynh Trưởng
Nghĩ rằng trong một đoàn thể các cán bộ điều khiển đóng vai trò cốt cán và liên can, ảnh hưởng đến sự thịnh suy của tổ chức.
Nghĩ rằng trong sứ mệnh giáo dục Thanh Thiếu Nhi, Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử tự khoác cho mình tính cách đặc thù mà khả năng và đạo đức không thể tách rời, tri thức và kinh nghiệm phải được thực hiện nương nhau.
Nghĩ rằng với quá khứ 20 năm tiến triển, HT Gia Đình Phật Tử Việt Nam đã chịu đựng một cách xứng đáng đẻ giữ vững và phát huy tổ chức.
QUY CHẾ HUYNH TRƯỞNG nầy được thiết lập để thăng tiến tổ chức (chương I) để sanh định bổn phận, trách nhiệm và quyền hạn Huynh Trưởng (chương 2) để thông nhất tư tưởng ý chí hành động Huynh Trưởng (chương 3) và để liên kết HT lại thành một khối (chương4).
Thực thi đúng Nội Quy và Quy Chế Huynh Trưởng GĐPT Việt Nam.
Gia Đình Phật Tử An Bằng đã có một đội ngũ Huynh Trưởng vững vàng để phát triển Tổ chức Áo Lam và dưới đây là:

Quí bác quí anh chị đã và đang tham gia sinh hoạt trong GĐPT được kinh qua các chức vụ Gia trưỏng, Liên đoàn trưỏng, Thư ký, Thủ quỷ, Đoàn trưởng, ban Bảo trợ GĐPT, kể từ ngày thành lập
Năm 1957 đến nay năm 2009. Người còn kẻ mất sau đây:

(chỉ lấy một chức vụ cao nhất trong Gia Đình Phật Tử).

I. Về chức vụ Gia trưỏng. quyền Gia trưởng.

Bác Lê Phát. Bác Trương Đại, Bác Huỳnh Chớ, Bác Trương Hai, Bác Văn Kỉnh, Bác Hoàng Vinh Quang. Bác Nguyễn Anh Tuấn, Bác Hoàng Duẩn, Bác Văn Tiến Nhị, Bác Nguyễn Dũng Chinh.

II. Về chức vụ Liên đoàn trưởng.

Anh Huỳnh Kiền, chị Phạm Thị Cháu, chị Đặng Thị Qua, anh Lê Dược, anh Văn Công Giai, chị Lê Ngợi, chị Huỳnh Thị Hoa, chị Lê Thị Ngại, anh Trương Lệnh. chị Lê Thị Hạnh. Chị Văn Thị Vân, chị Trương Thị Chiểu, chị Văn Thị Khuyến, anh Hoàng Ngữ, anh Đào Duy Tùng, anh Lê Hồng Phúc,, anh Lê Quyền, anh Đặng ngọc Chung, chị Nguyễn Thị Hoa, chị Trương Thị Hoa, chị Huỳnh Thị Loan, chị Văn Thị Hiểu, anh Văn Thanh An.

III. Về chức vụ Thư ký.

Anh Đào Lạc, anh Hoàng Quyên, anh Trương Nhật, anh Phạm VănVinh, anh Huỳnh Toàn, anh Văn MinhThanh anh Huỳnh Toàn. Anh Nguyễn Thanh Phúc. anh Trương Ánh, anh Văn Minh Quân

IV. Về chức vụ Thủ quỷ, Ban bảo trợ.

Anh Nguyễn Dẫn, chị Nguyễn Thị Lữ, chị Trương Thi Luân. chị Đào Thị Niệm, chị Trương Thị Tố. chị Lê Thị Ngại, chị, Đặng Thị Gái, Trương Ánh, Văn Thị Nhung, chị Nguyễn Thị Mến.

V. Về chức vụ Đoàn trưởng, Đoàn phó đã qua các khóa trại Huấn luyện Huynh trưởng: Tử Dung – Lộc Uyển – A Dục – Huyền Trang, và các Trại bổ túc Huynh trưởng.

Anh Nguyễn Đồ, anh Đặng Tuân, anh Văn Tiệm, anh Nguyễn Dẫn, chị Văn Thị Ngợi, chị Văn Thị Dâm, anh Nguyễn Tông, anh Trần Phòng, anh Đào Hoài, anh Đào Duy Ý, anh Phạm Hưỡng, anh Văn Công Chí ,anh Nguyễn Lòn, anh Đặng Hưng, anh Lê Vinh, anh Nguyễn Ban, anh Văn Nhân Đạo, anh Lê Minh Khương (Thái), chị Lê Thị Hường, chị Văn Thị Nga, chị Lê Thị Hóa, chị Hồ Thị Liên, anh Lại Thanh Quang, anh Lê Văn Cường, anh Hồ Xuân Phú, anh Nguyễn Văn Bá, anh Văn Huân, anh Huỳnh Tấn Dũng, anh Trương Minh Toàn, anh Nguyễn Khẫn, anh Lê Thanh tạo, anh Nguyễn Quyền, chị Lê Thị Xê, chị Nguyễn Thị Diện, anh Văn Công Ngà, anh Hồ Văn Quốc, anh Hồ Tuấn, anh Nguyễn Quốc Việt, chị Lê Thị Chanh, chị Văn Thị Nguyệt, chị Trần Thị Hằng, chị Đặng Thị Ngọc, anh Trương Minh Đa, anh Trương Đàm, anh Phạm Văn Tính, chị Trần Thị Tuyết, anh Lê Văn Điệp, anh Văn Thành, anh Nguyễn Văn Chiến, chị Huỳnh Thị Thảo, anh Lê Minh Đã, chị Văn Thị Tuyết, chị Lê Thị Lài, anh Phạm Hùng, chị Trương Thị Lành, anh Nguyễn Hà, anh Trương Công Bình, chị Lê Thị Úy, anh Lê minh Thanh, anh Phan Thanh, anh Nguyễn Hoàng, chị Nguyễn Thị Liên, chị Nguyễn Thị Năm, chị Phạm Thị Vân, chị Lê Thị Gái, chị Đào Thị Thôi, anh Văn Minh Bình, anh Văn Tiến Khai, anh Lê Minh Cường, chị Văn Thị Mỹ Quí, chị Văn Thị Thúy, anh Trương Long, anh Huỳnh Đức Thương, anh Hoàng Minh Nguyên, anh Văn Công Minh Hoàng, anh Trương Hùng.

Nhìn vào hàng ngủ Huynh trưởng của GĐPT An Bằng từ ngày thành lập 1957 cho đến nay 2009 chúng ta phải công nhận rằng, những anh chị niên trưởng đi trước đã có những cân não, tuyển chọn con người đào tạo huynh trưởng, để truyền trao sứ mạng phục vụ cho GĐPT và chắc rằng trong tương lai, chúng ta thấy những Huynh trưởng đã phục vụ qua từng thời kỳ kế tiếp đều được huấn luyện kỷ cương, có tâm huyết, nhiệt tình, đầy dủ tài năng đạo đức để phụ vụ xây dựng và lảnh đạo phát triển lý tưởng GĐPT làm cho tổ chức nầy càng ngày càng vững mạnh, tiến lên. . .

———–&———–

DIỄN TỪ CHÀO MỪNG QUAN KHÁCH LỄ AN VỊ
TƯỢNG QUAN ÂM TẠI KHUÔN VIÊN CHÙA AN BẰNG.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính cung bạch: Chư Tôn Hòa Thượng, Chư Thượng Tọa Đại Đức, Tăng, Ni.
Kính thưa: Qui đại biểu lảnh đạo HĐND – UBND – UBMT/TQ Xã Vinh an.
Kính thưa: Bô lảo, Ban Hương tộc làng An Bằng.
– Giáo xứ An Bằng.
– Quí đại biểu: 13 NPĐ thuộc huyện Phú Vang.
– NPĐ Diêm phụng, NPĐ Mỹ lợi.
– Quí vị quan khách, quí ân nhân của NPĐ.
– Cùng toàn thể đồng bào Phật tử ở trong nước và hải ngoại.
Kính thưa quí vị.
Với tâm niệm hằng nguyện ước từ lâu đến năm Đinh sửu 1997 nhân duyên vừa gặp hội, Khuôn Giáo Hội, Niệm Phật Đường chúng tôi nguyện khởi công xây dựng một tượng đài tôn trí Đức Quan Thế Âm Bồ Tát trong khuôn viên chùa An bằng
Những mong cho phật giáo đồ và người người chiêm ngưỡng để phát khởi tâm lành ngỏ hầu vơi đi những ưu tư tầm thống ! Tượng đài đã cơ bản hoàn thành cuối năm 1998 nhưng mãi nguyện chờ khi có duyên lành sung mãn, vừa được sự nhất trí của giáo hội tỉnh Thừa Thiên-Huế, huyện nhà và chính quyền huyện xã địa phương NPĐ chúng tôi rất hân hoan tổ chức lễ Lạc thành an vị.

Trong khung cảnh trang nghiêm trọng thể, được sự hoan hỹ quan lâm chứng minh của Hòa thượng và chư vị.
Toàn thể Phật tử An Bằng chúng con ở trong nước và hải ngoại xin thành kính đảnh lễ Chư Tôn Hòa Thượng, Chư Thượng Tọa, Đại Đức Tăng, Ni.
Xin trân trọng kính chào mừng quí vị quan khách đã dành thời gian đến tham dự buổi lễ này.
Kính cung bạch: Chư Tôn Đức.
Kính thưa liệt quí vị ! Hình ảnh của Đức Quan Thế Âm như biểu hiện khắc mọi nơi, phát xuất từ đức tin của những người hướng tâm niệm về Ngài, vì đại nguyện của Ngài muốn gần gủi với chúng sanh để lắng nghe tiếng kêu cầu, có cảm là có ứng và thị hiện bằng nhiều hình thức khác nhau theo cơ duyên mà hóa độ.

Thực tế là hầu hết dân làng chúng tôi sống gần với biển cả, khi vào lộng lúc ra khơi thường gặp lúc sóng to gió lớn, sức người yếu đuối thuyền nan nhỏ hẹp khác gì như những chiếc lá ở giữa đại dương, sự sống tưởng chừng như gang tất ! Lại nữa trong những năm gần đây vì cuộc sống có nhiều khó khăn, một số con dân trong làng đành phải rời bỏ nơi chôn dau, cắt rốn để ra đi bằng đường biển, có lúc phải linh đinh hằng tháng trên sóng nước bị đói khác dày vò, thêm vào đó những cơn giông bảo khủng khiếp, nạn cước biển lại hoành hành từ nạn nầy, đến thảm cảnh khác.
Những lúc như thế nạn nhân chỉ còn cách ngưỡng mặt vời trông đến các vị năng nhân cứu khổ.
Người tin Phật thì niệm Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, kẻ tin Chúa thì cầu Nử Vương Đức Mẹ. Do tâm phân biệt của chúng sanh.
Nhưng đối với đại nguyện của các đấng cứu thế, thì đều cùng chung hành hóa theo hạnh Bồ Tát vị tha, như thế nên những tai ương khổ nạn “ thập tử nhất sinh ” được dần dần qua khỏi, cực lạc thiên đàng như hiện ra trước mắt, những cảnh tượng ấy được ghi lại rất nhiều trên hai thập niên qua. Cho đến khi cảnh thanh bình trở lại trên quê hương, đất nước sẽ phồn vinh đang trên đà đổi mới.
Những người đã ra đi tưởng chừng không có ngày trở lại nào ngờ bến củ như lần lượt tiếp đón người về với bao niềm vui đoàn tụ, nhà nhà cùng hát lại khúc hát hoàn ca như thật: Trong kinh Pháp cú Đức Phật đã dạy “ Bao lâu xa cố hương – ngày về được an khương – bà con và thân hửu – mừng đón người thân thương ”.
Cũng vậy: “ các phước nghiệp đón chào người lành – chổ nầy đến chổ khác, như người thân đón chào ”.
Kính thưa liệt quí vị: Vài nét trên đây, như quí vị cho phép chúng tôi vừa khái quát, để nói lên mục đích và nội dung của phật sự, xây dựng tượng đài Quan Âm Cát được hoàn thành ở mức độ nào chúng tôi cũng tự nhận thấy chỉ là một trong muôn một, ví như hạt cát đối với sông Hằng, viên sỏi giữa đại dương.
Tuy thế có được một biểu tượng nầy đối với quê hương, NPĐ An bằng chúng tôi đã nhờ sự chỉ đạo của Hòa Thượng rằng: Khuôn An bằng hiện đang có cơ duyên chùa tương đối lớn, đạo hửu khá đông, nếu có được sở hửu chủ thì nên mở rộng mặt bằng để tạo nên cảnh quang tương xứng. Rồi sau đó tùy khả năng mà kiến tạo, cố gắng làm thỏa mãn của đại đa số vốn đã ước nguyện từ lâu ! Thứ đến là những động viên lón của tín đồ, khỉ đi gặp tai nạn từ tuyệt vọng này đến tuyệt vọng khác, nay được sống còn họ đang mong có dịp cúng dường tạ ơn cứu khổ ! Thế là từng bước thực hiện, khi đã trãi qua vài khó khăn nhất định cho nên lúc hoàn thành và hoản đến hôm nay mới tổ chức lễ hoàn nguyện này.

Thật là một vinh dự lớn lao, với niềm cảm kính và tri ân đối với Hòa Thượng đã hoan hỹ thân lâm chứng minh buổi lễ, bao nổi hân hoan hồ hởi đang tràn đầy trước khung cảnh trang nghiêm thành kính. Toàn thể phật tử An Bằng chúng con từ trong nước và hải ngoại xin dâng lên Hòa Thượng với niềm tri ân nồng nhiệt nhất và luôn nghỉ rằng: Mỗi phật sự được hoàn mãn trên quê hương chúng con trong đó nhờ ảnh hưởng công đúc của Hòa Thượng rất to lớn. Cùng Chư Tôn Giáo Phẩm trong tỉnh Thừa Thiên-Huế. Ban đại diện giáo hội huyện nhà sở quan, cũng nhân dịp nầy chúng tôi xin được nói lên sự quan tâm giúp đở không nhỏ của quí vị lảnh đạo chính quyền và các cơ quan cấp huyện, xã địa phương, trong việc kiến thiết biểu tượng nầy.
Và sau cùng là sự phát tâm đóng góp của toàn thể tín đồ đạo hửu ở trong cũng như ngoai nước để được hoàn thành phật sự nầy thật là phấn khởi.
Trong niềm vui vô hạn như tràn đầy trên quê hương, ngày càng khởi sắc tại một vùng duyên hải của tỉnh, huyện nhà, toàn thể phật giáo đồ chúng tôi tin rằng: Giờ phút thiêng liêng nầy, đang có những ánh hào quang tỏa chiếu của Đấng Cứu Khổ Tầm Thanh để chứng tri lòng chân thành ngưỡng mộ của phật giáo đồ quê quán chúng con !
Nam Mô Diệu Viên Thông Danh Tự Tại Tịnh Ngủ. Bách Danh Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Kính đảnh lễ Hòa Thượng chứng minh, Chư Tôn Giáo Phẩm, Đại Đức Tăng, Ni.
Trân trọng kính chào quí liệt vị.
Ban văn hóa Khuôn hội phật giáo An Bằng.
Lễ đặt đá ngôi chùa mới
Lễ Đặt đá Đại trùng tu ngôi chùa hiện nay
vào ngày 05/05/ Quý Mùi
Lễ Thượng Lương Ngôi chùa Hiện Nay
Chùa An Bằng hiện nay 2008

Tại buổi Lễ khánh thành Chùa An Bằng

Ban Điều Hành Lễ Khánh Thành chùa An Bằng
Cung Thỉnh Chư Tôn Thiền Đức tham dự Lễ Khánh Thành
Đại Lão Hòa Thượng Thích Khả Tấn và Chư Tôn Thiền Đức Chứng Minh Đại Lễ Khánh Thành
Quý Phật tử tham dự Lễ Khánh Thành
Các đơn vị dâng hoa chúc mừng Lễ Khánh Thành

Quý Phật tử tham dự Lễ Khánh thành Chùa An Bằng

Ban tiếp tân nhân ngày Đại lễ Khánh thành chùa An bằng

GĐPT múa lân mừng lễ Khánh Thành chùa
Hòa Thượng Thích Khế Chơn về thuyết pháp nhân lễ Khánh Thành
đã đến chùa
****&****
NGÔI CHÙA MỚI

KHÁI QUÁT SỰ HÌNH THÀNH NGÔI CHÙA MỚI
Được Khánh thành vào năm 2005

Cuối năm 1999 vào những ngày đầu năm 2000 trận lụt lịch sử tại Thừa Thiên – Huế thì ngôi chùa bị rạn nứt muốn tách rời tiền đàn và hậu trẩm ra, nhưng vẫn cố gắng bảo quản giữ gìn. Đến đầu năm 2000 quí Phật tử hải ngoại về thăm quê hương, đi lễ thấy ngôi chùa không bảo đảm được về lâu về dài, nên đã nhiều lần đề nghị với Khuôn hội bàn kế hoạch đại trùng tu.
Chánh điện chùa An Bằng hiện nay2008

Qua nhiều phiên họp của toàn thể phật tử trong và ngoài nước đều nhất trí làm lại ngôi chùa bảo đảm kiên cố và rộng lớn hơn, gặp nhiều thiện duyên phải nói là thiên thời địa lợi nhân hòa, Khuôn hội làm thủ tục xin xây dựng lại ngôi chùa mới.
Được giấy phép của các cấp chính quyền Lễ khởi công đặt đá vào ngày 15 tháng 5 năm Quí mùi (14/6/2003). Sau 2 năm xây dựng vào ngày 9 tháng 5 năm 2005 Công ty Thiết kế xây dựng về nghiệm thu giải nhiệm công trình và đưa vào xử dụng trước đại lễ Phật Đản Phật lịch 2549.
Qua đánh giá hạng mục công trình hội đồng đều nhất trí: Bảo đảm chất lượng công trình tốt, kỹ mỹ thuật làm tô đẹp cảnh quang quê nhà, song song với việc xây dựng chùa, hội trường, nhà tăng, đoàn quán Gia Đình Phật Tử, đều xây dựng 2 tầng đều xong một lúc với chùa. Hội đồng nghiệm thu nhất trí, toàn bộ hạn mục đều đưa vào xử dụng.
Chư Tôn Thiền đức tham dự lễ Khánh Thành Chùa 2005
Chư Tôn Thiền Đức tham dự lễ Khánh Thành chùa An Bằng, năm 2005
Thượng Tọa Thích Khế Chơn thuyết pháp độ tử và độ sinh nhân lễ khánh thành chùa. Trước lễ giải oan, bạt độ Năm2005

Đại Lễ khánh thành: Được tổ chức trọng thể ngày 12 tháng 6 năm 2005 (Nhằm ngày 6 tháng 5 năm Ất dậu Phật lịch 2549. Dưói sự chứng minh của Đại lão Hòa Thượng Thích Khả Tấn trú trì chùa Giác Lâm Huế.
Chư Tôn Thiền Đức, các Tổ đình, Tịnh Xá, Tịnh thất, trong tỉnh Thừa Thiên – Huế, cùng tham dự các cấp chính quyền, các Ban đại diện tại các quận huyện trong tỉnh, các Khuôn hội trong huyện, cùng toàn thể thiện nam tín nử, GĐPT ở trong nước và Hải ngoại đều tham dự đông đủ. Đặc biệt sau khi làm chùa xong, trong chuyến về thăm và giảng Pháp tại quê hương Việt Nam, Thiền Sư Nhất Hạnh đã đến thăm ngôi chùa An bằng vừa xây dựng xong, quí thầy, quí sư cô trong Tăng đoàn Làng Mai cũng đến thăm và nói pháp trước đó, đa số quí thầy và sư cô là người con của An bằng đang tu học với Thiền Sư, thật vậy dù đi ở bất cứ nơi đâu làm người phật tử tại gia hay xuất gia, vẫn luôn luôn nhớ mãi mái chùa xưa như là:

CHÙA ĐỨNG HIỀN LÀNH TỰ THUỞ XƯA.
HỒN DÂN GỞI GẮM TỰ BAO GIỜ.
TỔ TIÊN BỒI ĐÁP QUA NĂM THÁNG.
NỐI TIẾP KHÔNG NGỪNG LỚP TUỔI THƠ.

(Huyền Không ngày vui dân tộc) Trích Diễn văn khai mạc Lễ Khánh Thành chùa mới PL 2549 năm2004)

Chư Tôn Thiền Đức quan lâm chúng minh lễ Khánh thành Chùa mới

Thông báo giờ chính thức Khai mạc Đại Lể Khánh thành Chùa

Quí bác đang tâm sự bên lề Lễ Khánh thành chùa

Đón nhận hoa Lễ Khánh Thành chùa

Ngôi chùa hiện nay không lúc nào vắng bóng đạo hửu Phật tử và khách thập phương thiện tín đến tham quan, hành hương, chiêm bái, GĐPT Lễ Phật và sinh hoạt một tháng 6 kỳ vào các ngày chủ nhật, rằm, mồng một trong tháng, Khuôn hội tổ chức Đạo tràng tụng Kinh Pháp Hoa, Đạo Tràng Tịnh Độ và khóa tu Phật thất, 3 tháng một lần, hy vọng lối tu học và sinh hoạt nầy sẽ được duy trì mãi mãi, sau lễ Khánh thành ngôi chùa mới vào năm 2006. Thì Ngôi tượng đài Quán Thế Âm Bồ Tát tại bãi biễn An bằng cũng được dựng lên với tâm nguyện của bà con dân làng và phật tử, từ trong nước đến Hải ngoại cả mấy chục năm qua lễ khởi công đặt đá xây dựng tượng Quán Thế Âm vào ngày 19 tháng 2 năm Mậu tý ( 26 tháng 3 năm 2008) Ngôi tượng đài sẽ hoàn thành trong năm 2009, Phật lịch 2553.
(Bài liên quan về ngôi tượng đài mời quí vị xem các phần sau trong tập sách nầy).
Ngoài các ngày đại lễ như: Phật Đản, Vu Lan, Thành Đạo, các ngày vía Phật và Bồ Tát. Trong khuôn hội có những ngày lễ lớn mang tính chất truyền thống như sau: Lễ Chu Niên GĐPT ngày 19 tháng 2 Âm lịch. lễ hiệp kỵ của khuôn hội vào ngày 1 tháng 11 Âm lịch, những ngày lễ nầy không thể bỏ qua.
Những văn kiện về các việc lớn quan trọng như: Diễn văn Lễ Khánh thành, Lễ Hiệp kỵ, Lễ Chu niên GĐPT đều được đưa vào đây để làm tư liệu của khuôn hội Phật giáo và GĐPT An bằng, đồng thời cũng để chứng minh rằng sự phát triển của đạo Phật và công cuộc xây dựng phật sự tại làng An bằng qua từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử. Dù muốn hay không quê hương An bằng vẫn có trong niềm tự hào sau đây:
Quí Bác Đã Giữ Chức Vụ Khuôn Trưởng Khuôn Hội Phật Giáo An Bằng Qua Các Nhiệm Kỳ Từ Xưa Đến Nay 2009 Người Còn Kẻ Mất Dưới Đây:

Như lời tựa ở phần đầu có Lời Cảm Niệm rằng:

Nói đến Phật giáo An Bằng chúng ta kính cẩn nghiên mình, tưởng niệm đến quí Sư tổ Thiền Sư, quí vị tiền bối hửu công qua các Triều đại đã và sáng lập ra ngôi chùa đầu tiên thì đạo Phật ở làng An Bằng bắt nguồn từ đó. (Kể từ năm 1953 đến hàng trăm năm về trước)

Nói đến Khuôn hội Phật giáo An Bằng, chúng ta cũng kính cẩn, nghiên mình tưởng niệm đến quí bác, quí anh chị đã quá cố trong mọi hoàn cảnh và cũng không quên quí bác quí anh chị đang còn hưởng dương đã và đang dày công vun trồng và xây dựng lên Phật giáo An Bằng.

Ở đây chỉ kể từ sau năm 1954 trở lại đây thôi. khuôn hội Tịnh độ đầu tiên tại làng An bằng. Sau khi các hội Phật học tại Trung phần, tỉnh Thừa Thiên-Huế được phát triễn và lan rộng ra khắp các miền xuôi, ngược, thì tại An bằng có các cụ Trương Tuy, Lê Tá, Văn Hòe. Lê Côn đã đứng ra liên lạc với tỉnh hội Thừa Thiên để xin thành lập khuôn hội Tịnh độ An bằng, đây là lần thứ 2 hình thành tổ chức lại Phật giáo An bằng, trong giai đoạn đầu khuôn mượn nhà cụ Lê Tá để sinh hoạt lễ Phật, giai đoạn nầy gọi là sinh hoạt lâm thời, đến năm 1956 là được sinh hoạt tu học chính thức về mặt pháp nhân, pháp lý theo hệ thống từ Tỉnh hội xuống từng địa phương cơ sở, và Ban Trị Sự Khuôn Tịnh Độ An bằng được bầu lên 5 vị, cụ Trương Tuy là khuôn trưởng và ban huynh trưởng GĐPT An bằng được thành lập sau đó một năm tức là năm 1957 Bác Lê Phát làm gia trưởng đầu tiên là nhiệm kỳ thứ I.
Từ nhiệm kỳ thứ nhất đến các nhiệm kỳ tiếp theo chúng tôi chỉ nêu lên tên các vị Khuôn trưởng cho tiện tìm hiểu, còn từ Khuôn phó trở xuống các thành viên sẽ ghi chung một lượt vào danh sách trong cuốn tiểu sử nầy, để sau nầy dể bổ sung và điều chỉnh những phần khiếm khuyết, thiếu sót, trách sự, người đứng trước kẻ đứng sau.
Trước năm 1956 và kể từ ngày thành lập khuôn hội Tịnh độ chính thức 1957 đến đầu 2009 có 14 đời khuôn trưởng sau đây:

I. Chức vụ Khuôn trưởng:

Cố cụ Đào Nguyên Phong,
Cố cụ Đặng Túy,
Cố cụ Trương Tuy,
Cố cụ Lê Tá,
Cố cụ Văn Công Huấn,
Cố cụ Văn Oanh
Cố cụ Văn Công Cánh,
Cố cụ Đào Tầng,
Cố cụ Trương Phán,
Cố cụ Huỳnh Chớ,
Cố cụ Văn Dinh,

Quí cố cụ trên đây đến đầu năm 2009 đã lần lược ra đi về bên kia thế giới, còn lại quí bác nguyên khuôn trưởng.
Bác Lê Phát
Bác Trương Công Châu.
Và Bác HoàngTân. Hiện nay đến thời điễm này đang đương kim khuôn trưởng. quí cụ, quí bác được bầu làm khuôn trưởng, khuôn phó và các ủy viên, cho đến nay người còn kẻ mất, chúng ta kính cẩn tán thán và ghi nhận công đức của quí cụ, quí bác xin hồi hướng lên ba ngôi Tam Bảo.
Trong các nhiệm kỳ trên từ khuôn trưởng, đến các ủy viên. có quí cụ, quí bác phục vụ 3 năm, có quí cụ quí bác phục vụ đến 9, 10 năm. Trong 2,3 nhiệm kỳ liên tiếp, nhưng cũng được Đại hội thông qua cụ thể như bác:
Trương Tuy, Bác Đào Tầng
Bác Trương Phán, và Bác Trương Công Châu
Có quí bác, quí cụ đương kim phải đứng ra lảnh trách nhiệm lớn trong việc xây dựng, tái thiết chùa chiền, xây dựng tượng đài và cơ sở vật chất, cũng gặp lúc thuận lợi, lúc khó khăn. Âu cũng do bối cảnh lịch sử của đất nước, xã hội, quê hương và xứ sở mình…
* * *&**

(Ngôi chùa xây dựng lần thứ tư trước năm 2000 và cũng Ngôi chùa này để tiếp nối Ngôi chùa hiện nay )

Ý NGHĨA NGÀY HIỆP KỴ
của Khuôn hội Phật giáo An Bằng

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính Thưa: Toàn thể Phật tử An Bằng.
Hiệp kỵ hằng năm Khuôn hội chúng ta đã thống nhất chọn ngay 01 tháng 11 Âm lịch là ngày hiệp kỵ chung của chư vị tiền bối hửu công, quí phật tử thiện nam tín nử. Gia trưỏng Huynh trưởng, Cố vấn, Ban bảo trợ và đoàn sinh GĐPT An Bằng đã đi trước và kể từ ngày thành lập Khuôn hội 1956 đến nay.
Chúng ta chính thức Lễ hiệp kỵ vào ngày nầy hể thừ năm 1963, là năm Pháp nạn tại ngôi chùa củ cạnh Đình làng, từ đó cho đến nay 2008 đã tròn 45 năm ròng rã không có năm nào bỏ qua.
Hiệp kỵ hai tiếng thôi mà gợi cho người phật tử An bằng, bao nhiêu thương cảm của các bậc cha mẹ, anh em, thân hửu đã vui thú an nhàn trong ánh từ quang của Chư Phật, tuy chưa phải rốt ráo đầy đủ những hoài bảo của người còn ở lại hôm nay, chúng ta cần phải cẩn niệm, hàn huyên.
Hiệp kỵ không những để tưởng niệm người quá cố, mà còn để gặp nhau sau một năm xa cách dòng cảm giữa âm dưong tuy hai mà một.
Hiệp kỵ với bao thương tiếc ngậm ngùi, dù biết là vô thường nhưng mấy ai ngăn dòng lệ thảm đối với những người đi trước.
Hiệp kỵ là sự sinh hoạt theo nghi lễ truyền thống của đạo Phật, thể hiện tinh thần cốt lỏi của đạo Phật, hòa nhập vào dòng luân lý đạo đức Phật giáo, bản sức dân tộc, bằng tinh thần tri ân và báo ân, “ Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân ”.để vấn nạn A Nan: Làm thế nào để toàn vẹn tư cách của một người Phât tử, thực hiện hoàn mãn Bồ Tát hạnh sớm đạt quả vị giải thoát, giác ngộ, Phật dạy: Để hoàn thiện viên mãn Bồ Tát hạnh điều cần thiết để phật tử nên làm là: Tinh thần tri ân và báo ân, cụ thể hơn Kinh dạy.“ Thượng báo tứ trọng ân ”. Bao gồm: Ân cha mẹ, ân thầy tổ, ân quốc gia xã hội, ân Tam bảo.
• Ân cha mẹ hòa quyện sống thực với hiếu đạo.

• Ân thầy tổ kết hợp với tinh thần tôn Sư trọng đạo.
• Ân quốc gia dạy con người biết yêu quê hương, yêu đất nước, yêu dân tộc, đồng bào, quí trọng vùng trời, vùng biển, đất đai lảnh thổ, núi sông mà cha ông đã bao đời bảo vệ và phát triển, tôn trọng sự sống của mọi người, mọi loài (chúng sanh).
• Phụng sự chúng sanh là cúng dường Chư Phật, phật tử phải làm trong ba điều trên là đã tri ân, báo ân Tam bảo.

Bí quyết gồm bốn để sống đúng tinh thần Phật dạy. 1 / Gần gủi bạn hiền.
2 / Dốc lòng nghe pháp.
3 / Tin kính Tam bảo.
4 / Thà bỏ thân mạng, không làm điều ác.
Chúng ta thắng vượt hoàn cảnh khó khăn chướng ngại hàng năm để thực hiện hiệp kỵ cho bằng được là hạnh sự vô ngại, khuyến học, tấn tu, để nhập đại đạo và đạt lý vô ngại, thành phần cả hai không sót mặt là lý sự dung thông vô ngại.
Ngược lại hàng năm Khuôn hội chúng ta tổ chức Lễ hiệp kỵ được một cách khiêm tốn đầy đủ, sự hộ trì, cúng dường góp sức của toàn thể phật tử An bằng, chủ mạnh thường quân tại lễ hiệp kỵ là tạo phước điền để cấy giống Phật chủng, không nên chối từ mà khém phần phúc lạc.
Toàn thể Phật tử An Bằng và anh chị em con cháu chúng ta cùng nhau chí thành tâm nguyện cho phật sự hiệp kỵ truyền thống được thập phần viên mãn.

Nam Mô Thường Tinh Tấn Bố Tát Ma Ha tát.

LỄ CHU NIÊN LẦN THỨ 24 GĐPT AN BẰNG
Diễn văn chào .mừng đại biểu.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính cung bạch Thượng Tọa trưởng ban hoằng pháp Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế.
Kính thưa ban hướng dẫn GĐPT Thừa Thiên Huế.
Ban bảo trợ GĐPT Thừa Thiên
Quý vị trong lãnh đạo chính quyền UBND,
UBMT Tổ Quốc Việt Nam xã Vinh An
Đại diện BHD/GĐPT/Thừa Thỉên tại huyện Phú Vang và các huyện trong tỉnh thừa Thiên Huế
Ban niệm Phật đường An Bằng, Hà úc.
Quý Bác cựu khuôn trưởng, gia trưởng, huynh trưởng, cựu đoàn sinh.
Quý ban huynh trưởng của các đơn vị GĐPT trong các huyện
Quý anh chị em hun tín và ân nhân của GĐPT An Bằng
Quý anh chị em huynh trưởng Phật Tử Việt Kiều.
Quý Bác, quý anh chị em thiện tín và ân nhân của GĐPT An Bằng
Kính Bạch Thượng Toạ
Kính thưa liệt quí vị
Diễn hành lễ Chu Niên
Hôm nay ngày 19 tháng 02 năm Ất hợi Phật lịch 2538. Cũng là ngày cách đây 24 năm GĐPT An Bằng được BHD/GĐPT – Thừa Thiên công nhận chính thức hoá, và trước đó ba năm được phép sinh hoạt lâm thời.
Quý bác quý anh đã khai sinh ra GĐPT An Bằng và người làm gia trưởng đầu tiên là Bác Tâm Ninh Lê Phát, hiện nay đương kim trưởng ban niệm Phật Đường An Bằng, Từ đó cho đến nay đã 8 đời gia trưởng.
Liên Đoàn Trưởng báo cáo tổng kêt Lễ Chu Niên GĐPT An bằng
Ban Huynh trường và một đội mạnh ngành Thanh GĐPT An băng

Do điều kiện lịch sử chiến tranh nên chưa có dịp tổ chức lễ ra mắt, để họp mặt anh em và cung đón quý thầy – BHD/Thừa Thiên trao cờ chính thức. Chỉ có hàng năm tổ chức trong phạm vi nội bộ gia đình.
Đoàn Quán GĐPT An Bằng

Hôm nay được Ban đại diện Phật giáo huyện Phú Vang – Ban hướng dẫn GĐPT/Thừa Thiên Huế – Ban niệm Phật đường An Bằng cho phép tổ chức lễ ra mắt nhân dịp chu niên lần thứ 24.
Chào mừng quang khách tham dự lễ Chu niên GĐPT An bằng làn thứ 37 (2008)
Tại buổi lễ nầy thay mặt GĐPT/An bằng ở trong nước và Hải Ngoại. Xin cung kính:
Chào mừng Thượng Tọa
Ban hướng dẫn GĐPT/TT – Ban bảo trợ.
Quý cấp lãnh đạo chính quyền UBND, UBMT Tổ Quốc Việt Nam xã Vinh An.
Đại diện BHD/TT tại các huyện
Ban niệm Phật đường An Bằng, Hà úc.
Quý ban huynh trưởng các gia đình các huyện.
Quý bác cựu huynh trưởng,cựu đoàn sinh, gia trưởng, huynh trưởng, quý đạo hữu, ân nhân của GĐPT/An Bằng, đã hoan hỹ quan tâm tham dự.
Sự hiện diện đông đủ của quý vị là một vinh dự lớn lao, một khích lệ quí báu cho tổ chức GĐPT chúng tôi.

Quí bác và anh chị em tham dụ Lễ Chu niên lần thứ 37GĐPT An Bằng ( chúng em đáng trân trọng )

Kính thưa liệt quý vị.
Như chúng ta đã biết tổ chức của GĐPT đã có với thời gian 50 năm, một chặng đường suốt nửa thế kỷ đi qua, không phải đi qua trong thầm lặng mà nó uyển chuyển đi qua trong thăng trầm của lịch sử xã hội, không một ai có tâm thành có chí hướng mà lại có thể nhìn GĐPT như một lớp phù hoa, hay một công cụ của giai đoạn được.
Nó trách rời ý niệm chính trị, để hoà nhập vào trong thể đạo, vào đời qua kỷ cương của tổ chức để đào tạo thanh thiếu đồng niên sống đúng chân tình cao quý của Phật giáo, với ước vọng làm sáng tỏa vĩnh viễn ánh đạo vàng muôn thuở của đức từ phụ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.
Tạo cho đời những công dân hữu ích sống đúng chân thiện mỹ và xứng đáng làm người con Phật. GĐPT An Bằng xuất thân trong từ đó một GĐPT ở nông thôn vùng biển. Huynh trưởng và đòan sinh quanh năm suốt tháng làm kế sinh nhai trên biển cả ba đào, lấy đất cát làm gối êm nệm ấm, lấy màn trời làm chăn chiếu, lấy gió sương làm tăng thêm niềm sức khoẻ.
Huynh trưởng nữ và đoàn sinh nữ đòn gánh đè vai một nắng hai sương bước đi trong đêm thầm lặng, băng đồng vượt phá để buôn chín bán mười, kiếm tiền sinh sống gia đình nuôi con cái, phụng dưỡng cha mẹ già.
Nhưng vẫn biết và xem các GĐPT ở chốn thành thị cố đô như anh em ruột thịt một nhà. Qua thời gian có phần lắng xuống nhưng tâm đạo bỗng sôi, lúc nào cũng sinh hoạt tu học theo đúng Nội quy và Quy chế huynh trưởng GĐPT/ Việt Nam.
Trong 24 năm qua GĐPT / An Bằng chưa tìm thấy một khoảng thời gian nào gián đoạn.
Nói đến đây chúng con được xin phép quý thầy quí vị đại biểu cho chúng con một phút im lặng trong giây lác dành lại để:
Tưởng nhớ đến quí bác cố cựu khuôn trưởng, trong ban đại diện, cố gia trưởng, huynh trưởng và đoàn sinh GĐPT An Bằng đã mất trong mọi hoàn cảnh.
Và cũng không quên quí bác quí anh chị đang còn hưởng dương đã và đang dày công vun trồng xây dựng GĐPT cho đến ngày hôm nay.
Qua nhiều phật sự sinh hoạt khác nhau, kiểm nhìn lại những vị gia trưởng, những anh chị huynh trưởng, những đoàn sinh đã vì lý tưởng áo lam hy sinh quá nhiều cho tổ chức GĐPT.
Hiên chùa và góc Đoàn quán GGPT sau gìơ Lễ Chu Niên
GĐPT An Bằng vui mừng nhưng cũng lắn lòng nghĩ đến quí bác, quý anh chị em đã vì qúa nhiều hoàn cảnh không thể tiếp tục sinh hoạt tại quê nhà, nên phải đi làm ăn sinh sống trên đất khách quê người, hoạt không hiện diện nơi đây và hôm nay không phải là điều chủ ý, mà do hoàn cảnh mọi mặt đưa đến.
GĐPT An Bằng nhờ vào thiện duyên chịu khó khắc phục vượt qua mọi thử thách, chướng ngại, nhờ quí ôn, quí thầy dìu dắt, Ban Hướng Dẫn Thừa Thiên. Ban Đại Diện huyện Phú Vang và khuôn giáo hội An Bằng chỉ đạo, quí bác cựu khuôn trưởng, gia trưởng các đại biểu thập phương thiện tín, các bậc phụ huynh đều đưa đến niềm tin tu học thuận lợi.
Trong hơn 24 năm qua GĐPT An Bằng, vẫn là GĐPT/Việt Nam.
Kính Bạch Quí Thầy
Kính thưa quí vị anh chị
Kính thưa quí vị đại biểu
Trong hoàn cảnh qua khứ cũng như hiện tại và chắc chắn cả tương lai GĐPT An Bằng sẽ phát huy hơn nữa tu học và sinh hoạt từng bước tiến lên… Không bao giờ buôn tay dừng lại trên dốc đá của cuộc đời.
Xin hãy đến với GĐPT An Bằng, bằng những niềm tin yêu và hy vọng, xin hãy đến với GĐPT An Bằng, bằng ánh sáng cảm thông vì ở đây hận thù không có, tình thương sẽ được lan toả chắp cánh bay cao trên khung trời xanh ngào ngạt của hương từ bi.
Xin hãy đến với GĐPT An Bằng để bước vào con đường dũng cánh cửa đã và đang rộng mở, để cùng nhau khởi sự tiếp nối cuộc hành trình… Mùa xuân mới với sự chuyển mình của đất nước, của cây, của lá, của hoa và của vạn vật.
Thay mặt GĐPT An Bằng ở trong nước và Hải Ngoại, kính gởi đến quí ôn, quí thầy, quí cô, Ban Hướng Dẫn Thừa Thiên, chư quí vị đại biểu, quí bác cùng toàn thể anh chị em lời chào cung kính, đoàn kết tin yêu, bằng niềm tin son sắt ở khả năng và sáng tạo, xây dựng trường cửu của con người áo lam đối với phong trào GĐPT/ Việt Nam. đối với đạo pháp. đối với Dân tộc.
Kính chúc quí ôn, quí thầy pháp thể khinh an chúng sanh dị độ.
Trân trọng kính chào mừng…
Nam mô thường tinh tấn bồ tát ma ha tát.
Ngày 19 tháng 2 năm Ất Hợi (1995)
TM/GĐPT An Bằng

DIỄN TỪ.

CHÀO MỪNG LỄ KHÁNH THÀNH CHÙA AN BẰNG PHẬT LỊCH 2549
Ngày 11 và 12 tháng 6 năm 2005 (5 và 6 tháng 5 năm Ất Dậu).

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Trước hết chúng con xin thành kính đảnh lễ chào mừng Chư Tôn Giáo Phẩm – Chư Thượng Tọa – Đại Đức Tăng, Ni – Ban Trị Sự Tỉnh Giáo Hội Thừa Thiên- Huế.- Ban Đại Diện huyện Phú Vang.
Kính chào mừng quí đại biểu đại diện UBND- UBMT/TQ- Ban Tôn giáo và các ban ngành liên quan cấp tỉnh TT/Huế.
Kính chào mừng đại biểu đại diện huyện Ủy- UBND- UBMT/TQ huyện Phú Vang và các ban ngành liên quan cấp huyện.
Kính chào mừng đại biểu đại diện Cấp ủy- UBND- UBMT/TQ xã Vinh An và các đại biểu đại diện quí cơ quan các cấp đang công tác trên địa bàn xã Vinh An.
Kính chào mừng Quí vị Bô lão làng – Hội Đồng Hương Tộc làng An Bằng – đại diện đại biểu Hội Đồng Giáo Xứ An bằng, Hà úc – đại diện quí đại tôn họ Khai canh – Khai khẩn và Thập Nhị Tôn Phái của 43 họ tộc thuộc làng An Bằng.
Kính chào mừng quí đại biểu đại diện các Niệm Phật Đường- Ban Hướng Dẫn GĐPT/TT và ban huynh trưởng GĐPT thuộc phạm vi trên.
Kính chào mừng đại biểu đại diện các toán thợ nề, kép, thợ mộc, thợ đúc Tượng, đúc chuông, thợ điện, thợ trang trí nội thất trong chùa.
Kính chào mừng quí vị quan khách, ân nhân của Khuôn hội Phật giáo An bằng.
Kính chào mừng HPTAB/HN và toàn thể phật Tủ thuộc KHPG/ An bằng ở trong nước, ngoài nước đã không quản ngại đường sá xa xuôi cách trở đều có mặt hôm nay để chung lo và chia sẽ niềm vui trong ngày lễ trọng đại nầy.
Xin thành kính đảnh lễ và nhiệt liệt chào mừng quí vị đại biểu hiện diện hôm nay.
Kính bạch Chư tôn Thiền đức.
Kính thưa liệt quí vị.
Nói đến Phật giáo An Bằng chúng con xin nghiên mình đảnh lễ tưởng niệm đến quí vị tiền bối hửu công qua các Triều đại đã và sáng lập ra Ngôi chùa đầu tiên tại Độn bồ “ hay nói một cách khác là Độn Bồ đề ” nằm về phía Bắc làng của An Bằng thì đạo Phật bắt nguồn từ đó..
Mãi đến hàng trăm năm sau khi Phật giáo tỉnh nhà TT/Huế có chủ trương lập Hội, thì Hội An Nam Phật Học An Bằng có từ năm 1947, Do các phật tử tiền bối trong làng thời bấy giờ đứng ra sáng lập và lảnh đạo, rồi từ đó mà tiến dần lên, đến trước năm 1975, tức là trước ngày đất nước thống nhất, trong khoản thời gian ấy quí vị tiền bối của chúng con, không ít người chịu gian lao, khổ cực, áp bức bắt bớ, giam cầm tra trấn, vô tù ra tội nhiều lần, nhiều giai đoạn trong các thời kỳ lịch sử của đất nước, của quê hương.

Hội phật tử An Bằng ở Hải ngoại đọc lời chào mừng tại lễ Khánh Thành chùa

Nhưng quí bác không bao giờ nãn chí sờn lòng, một mực trung kiên với đạo và lo bảo vệ tín ngưỡng của mình, tinh thần đó mà ngày nay các thế hệ tiếp nối đi sau đều phải noi gương học tâp.
Nói đến KHPG/AB Chúng con thành kính đảnh lễ Cố Đại lão Hòa Thượng Thích Thiện Siêu ngài đã khai sơn đặt đá ngôi Chùa An Bằng, Ngài đã chỉ giáo, dạy dổ đại đa số phật tử An Bằng từ thế hệ nầy sang thế hệ khác cho đến ngày hôm nay.
Được sự chứng minh của Chư Tôn Thiền Đức toàn thể phật tủ An Bằng chúng con ở trong nước, ngoài nước xin một phút để nghiên mình mặc niệm đến chư vị tiền bối hửu công, chư thiện nam tín nử phật tử An Bằng ở trong nước, ngoài nước đã nằm xuống dưới lòng đất mẹ, đất khách, vẫn thấm hút hạt giống Bồ đề cho quê hương nầy được nở rộ những đóa hoa mà hôm nay chúng con thấy thắm tươi nhất … (một phút mặc niệm).

Những lản hoa chúc mừng Đai lễ Khánh thành chùa

Kính cung bạch:
Kính thưa chư liệt quí vị: Có được những giờ phút huy hoàng hôm nay, tất nhiên không thể quên đi những thời gian rực rỡ trong quá khứ, tiền nhân đã nói “ Vô cổ bất thành kim”. Như vậy xin khái quát vài nét chính qua phật sự tại quê nhà để gọi “ Ôn cố tri tân ”. Hẳn nhiên lịch sử Phật giáo Việt Nam trên 20 thế kỷ nói chung. Ánh sáng của đạo từ bi chắc rằng đã rọi đến quê hương nầy có chung từ đó. Ngôi chùa làng qua nghiên cứu sử liệu chưa chính xác được chùa xây dựng từ năm nào? Mãi đến thời kỳ Hậu Lê vào những thập niên 1700. Có thể chùa được trùng tu lại nên mới có một bức Hoành Phi do ngài Lê Đức Trí tín cúng.
Ngôi chùa An Bằng hiện nay năm 2009
Ngôi chùa Làng xưa đã có từ những năm 1740-1742. Đến nay cả hàng trăm năm, do vật đổi, sao dời cát đã vùi lấp sâu 7mét. Mãi đến năm 1954 chỉ còn lại bộ chuông mõ, 3 vị Quan Thánh, một bức Hoành Phi đề 3 chữ “ AN ĐỨC TỰ ”. Lạc khoản bên phải đề: Cảnh Hưng Tuế Thứ Quý Dậu Niên Trường Long Nguyệt Cúc Đáng; bên trái đề: Giác Vương Nội Viện Phấn Nhiên Đạo Nhân Đề; phía dưới ghi Lê Đức Trí. Pháp danh Hải bảo tín cúng, chùa có 3 sào đất Tam Bảo Quan Thổ có trích lục xưa để lại, nói cách khác là trong Phủ biên Tạp lục có nói đến 3 sào đất này cấp cho chùa, khi chùa bị cát vùi lấp các vị tiền bối trong làng thời bấy giờ đã lập văn bản chuyển giao cổ vật còn lại trong chùa như nói trên và 3 sào đất Tam bảo Quan thổ, cho Khuôn Hội Phật Giáo lúc bấy giờ để tùy nghi Phụng tự. Ngôi chùa làng nầy hiện nay vào đầu năm 2004 đã được dân làng khai quật phục chế lại, nên Khuôn hội An Bằng đã lập văn bản bằng giao các cỗ vật nói trên cho Bô lão làng An Bằng để phụng tự tại chùa.
Sau khi ngôi chùa làng bị vùi lấp. Từ tư gia bác cố cựu Lê Tá để làm nơi lễ Phật cũng là vị khuôn trưởng đầu tiên từ năm 1954. Song song với sự phát triển của tổ chức GĐPT cũng từ đó mà tiến dần lên, nhân dân địa phương càng ngày càng hướng về đạo Phật nên phải vận dụng từ công sức đến tài vật để xây dựng một ngôi chùa cạnh Đình làng, với cây cột, tranh lá đơn sơ.
Lễ Trai Tăng tại chùa, nhân dịp Lễ Khánh thành chùa mới 2005

Một lễ quy y đầu tiên được tổ chức tại An Bằng vị Bổn sư truyền giới lúc bấy giờ là cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Thiện Siêu, chúng con tin chắc rằng Ngài cũng đang chứng minh trong buổi lễ hôm nay.
Những tưởng như thế mà tiến dần từng bước trên con đường tu học, nhưng than ôi ! Năm 1968 Mậu thân chiến tranh đã làm phân tán, chùa chiền sụp đổ, nhà cửa tiêu tan, nhân dân di tản.
Tuy thế nhưng tinh thần mộ đạo vẫn không phai mờ, phật tử An Bằng quyết tâm xây dựng lại một ngôi chù khác nữa đó là một hoài bảo rất lớn luôn luôn canh cánh bên lòng. Được tạm ổn định trên mảnh đất mới quy tụ. Phải nhờ tư gia bác cố Nguyễn Tữa làm nơi lễ Phật và tiếp tục sinh hoạt phật sự, từ cuối năn 1969 đến tháng 10 năm 1972, một ngôi chùa nữa lại được dựng lên, tương đối lớn hơn hai lần trước, kiến thiết thêm một số công trình nhỏ chung quanh để đáp ứng với phật sự ngày càng lớn mạnh, đến năm 1989 các phật sự trên đã hoàn mãn, nhân dân có phần ổn định đời sống đang trên đà phát triển, trước cảnh cuộc của xã hội đang đổi mới và đi lên, tín hửu thì quá đông, tiện nghi vẫn lại chật hẹp, phật tử tha phương đang hướng về ngôi chùa.
Thế là Khuôn hội phải chuẩn bị tái thiết lần thứ tư với quy mô lớn hơn. Tất nhiên phải gặp rất nhiều khó khăn về thủ tục, lại không ít bàn ra tán vào và khả năng hiện kim có hạn. Với quyết tâm mạnh và nhờ uy đức đạo phong của cố Đại Lão Hòa Thượng đã liên tiếp chứng minh các lễ đặt đá từ ngôi chùa tranh lá thứ nhất đến ngôi chùa thứ tư, sau đó một năm tiền hành xây dựng Tượng Đài Quan Âm Cát trong khuôn viên chùa.
Mãi đến năm 1999 trận lụt lịch sử tại TT/Huế, thì ngôi chùa bị rạn nức, muốn tách rời tiền đàn và hậu trẫm, cứ mỗi lần mưa bảo tiếp theo thì bị dột nước, nhưng vẫn cố gắng bảo quản và giữ gìn. Đến đầu năm 2000 quí phật tử Hải ngoại về thăm và đi lễ thấy được ngôi chùa không bảo đảm về lâu về dài, nên đã nhiều lần đề nghị với Khuôn hội bàn kế hoạch đại trùng tu. Từ đây qua nhiều phiên họp của toàn thể phật tử từ trong nước, ngoài nước đều nhất trí làm lại ngôi chùa cho bảo đảm, kiên cố và rộng lớn hơn.

GĐPT An Bằng múa lân mừng lễ Khánh thành chùa

Khuôn hội An Bằng, Hội Phật Tử An Bằng Hải Ngoại thể theo nguyện vọng trên, nên Khuôn hội đã làm đơn giải trình xin phép từ cấp xã đến Huyện, Tỉnh theo hệ thống ngành ngang, từ Ban Đại Diện huyện đến Ban Trị Sự Tỉnh TT/Huế theo hệ thống ngành dọc.
Đến ngày 11 tháng 10 năm 2002. UBND Tỉnh xét đơn và chấp thuận, chuyển qua Sở xây dựng và Khuôn hội tại công văn số 2177/UB/XD cho phép Khuôn hội An bằng Đại Trùng Tu ngôi chùa, đến ngày 16 tháng 11 năm 2002 nhận được giấy phép của Sở Xây dựng số: 218/GP.XD.
Đón nhận hoa của các cơ quan và quan khách mừng lễ Khánh Thành chùa An bằng 2005
Sau khi nhận giấy phép của UBND Tỉnh và Sở Xây dựng Khuôn hội chúng tôi có nhiều thuận duyên lớn phải nói là “ Thiên thời địa lợi nhân hòa ”. Nên 7 tháng sau quí thầy thuộc Khuôn hội An Bằng và phật tử chúng tôi tiến hành Lễ đặt đá vào ngày 15 tháng năm Qúi mùi (tức là ngày 14 / 6 /2003), cho đến ngày hôm nay là vừa tròn 2 năm. Vào ngày 19 tháng 5 năm 2005 chúng tôi đã mời Công ty thiết kế sở Xây dựng TT/Huế về nghiệm thu giải nhiệm công trình và đưa vào xử dụng trước Đại lễ Phật Đản 2549.
Qua đánh giá hạng mục công trình hội đồng nhất trí là: Bảo đãm chất lượng công trình tốt, kỷ, mỹ thuật tô đẹp cho cảnh quang quê nhà- Hội đồng nghiệm thu nhất trí đưa vào xử dụng.

Quý bác tham dự lễ Phật Đản

Chúng tôi xin nói thêm rằng Phật giáo An Bằng khi có chủ trương lập Hội từ năm 1947 đến nay có 13 đời Khuôn trưởng sau đây: Các cụ cố ; Đào Nguyên Phong; Đặng Túy; Trương Tuy; Lê Tá; Văn Oanh; Văn Huấn; Văn Cánh; Đào Tầng; Trương Phán; Huỳnh Chớ; Văn Dinh; quí cụ đã lần lượt ra đi tìm về cõi Phật ở bên kia thế giới. Chỉ còn lại bác Lê Phát nguyên Khuôn trưởng đang nằm trong ban cố vấn xây dựng ngôi chùa nầy, bác Trương Công Châu đương kim Khuôn trưởng, trưởng Niệm Phật Đường đang đãm đương công trình xây dựng hôm nay, Còn quí bác được bầu làm phó Hội trưởng, phó Khuôn trưởng và các Ủy viên từ trước cho đến nay người còn kẻ mất, chúng con xin tán thán và ghi nhận công đức của quí bác hồi hướng lên Tam Bảo.
Trong các nhiệm kỳ trên có bác phục vụ 3 năm, có bác 9-10 năm liên tiếp trong 2 đến 3 nhiệm kỳ, có bác đang đương kim phải đứng ra lảnh trách nhiệm lớn trong việc tái thiết xây dựng chùa, xây dựng tượng đài và cơ sở vật chất trên quê hương và xứ sở mình.
Hiện nay phật tử An Bằng ở hải ngoại cũng thành lập HPTAB/HN với mục đích:

Quý vị Bô lão làmh An bằng và quan khách tham dự lễ Phật Đản

*Tạo sự liên lạc gần gũi giữa những người phật tử An bằng Hải ngoại
• Thành lập tập thể, để dễ dàng sách tấn nhau trong những vấn đề tu học
• Tạo môi trường cơ hội để lưu giữ phong tục tập quán và tiếng Việt cho thế hệ trẻ.
• Đễ dàng giúp đở yễm trợ các chùa địa phương ở Hải ngoại và Việt Nam.
• Đễ dàng thực hiện các việc từ thiện Xã hội v.v…
Khuôn hội An Bằng được một vinh dự là đã có hàng chục tăng ni ở trong nước và Hải ngoại nguyện làm sứ giả của Như Lai đang trên bước đường học đạo, hành hóa quản độ quần sanh, thêm một vinh dự lớn nữa là sau khi ngôi chùa làm xong, trên chuyến về thăm chùa Thánh Duyên của Thiền Sư Nhất Hạnh ngài có đến thăm chùa An Bằng và đảnh lễ Tam Bảo.
Kính cung bạch, kính thưa chư liệt quí vị. Chúng tôi chưa dám tự mãn với hiện tại, chẳng được tự hào trong tương lai, phật sự gặp thiện duyên thì có ảnh hưởng, thể hiện được gì có lợi lạc cho nhân sinh, âu đó cũng một phần giúp sức với đàn hậu tấn. Được thành tựu phật sự trong quá trình và hiện tại lẫn tuơng lai, chúng tôi luôn luôn ghi nhận và thành thật tán thán tri ân các cấp lảnh đạo chính quyền đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi góp phần phụng sự đạo pháp và dân tộc, góp phần đổi mới làm sáng đẹp cho quê hương đất nước.
Kính cung bạch, kính thưa quí vị, dù hôm nay đứng trước ngôi chùa mới trang nghiên tráng lệ, nhưng phật tử An bằng chúng con, dù đi ở bất cứ nơi đâu vẫn luôn luôn nghĩ đến mái chùa xưa như là:

“ Chùa đứng hiền lành tự thuở xưa
Hồn thiên gởi gắm tự bao giờ
Tổ tiên bồi đắp qua năm tháng
Nối tiếp không ngừng lớp tuổi thơ ”.
(Huyền Không ngày vui dân tộc)

Những phật tử An Bằng chúng con, xem mái chùa là trượng trưng cho tất cả thắm tình, chất chứa trong trái tim, tình yêu quê hương gắn liền với tình yêu đạo pháp và xem Chùa là gia đình – Chùa là quê mẹ – Chùa là tình thương – Chùa là quốc gia dân tộc.
Và yêu mến mái chùa thật đúng như lời thơ đạo Huyền không “ Mái chùa che chở hồn dân tộc – Nếp sống muôn đời của tổ tông.”
Kính cung bạch kính thưa liệt quí vị. Giờ đây toàn thể Phật giáo đồ cũng như thiện tín, sinh trưởng tại An Bằng ở trong và ngoài nước, sinh hoạt qua cọng đồng người Việt xin nhất tâm kính cúng dường công đức nầy lên Tam Bảo gọi chút báo đền tứ trọng ân, và xin hồi hướng tất cả để nguyện cầu Quốc thái dân an, Đạo pháp trường tồn, Chúng sanh an lạc, cho kế hoạch xóa đói giảm nghèo, tiến tới dân giàu nước mạnh, cho những người quá cố được siêu thăng, cho lớp lớp người còn được an cư lạc nghiệp.
Kính cung bạch Chư Tôn Thiền Đức, Chư Thượng Tọa Đại Đức Tăng, Ni.
Kính thưa liệt quí vị hiện diện hôm nay. Cho phép ban tổ chức chúng tôi tuyên bố khai mạc Lễ Khánh Thành ngôi chùa Phật giáo An Bằng trên quê hương yêu dấu của chúng tôi. Thành kính đảnh lễ – Trân trọng Kính chào mừng.
NAM MÔ THƯỜNG HOAN HỶ BỒ TÁT MA HA TÁT.
Ban tổ chức
LỄ VU LAN
TẠI KHUÔN HỘI PHẬT GIÁO AN BẰNG.
Nguyen Phương

Theo Truyền thống dân tộc Việt Nam nói chung và Khuôn Hội Phật Giáo An bằng nói riêng, từ xưa đến nay xem, ngày rằm tháng bảy ngày xá tội vong nhân, ngày báo hiếu cho cha mẹ bảy đời của con nhà Phật, nhưng tại sao không bàn về chữ hiếu hơn, là hiếu tiêu biểu trong đạo Phật.
Như chúng ta đều biết luân lý nước nhà chịu ảnh hưởng hai nền văn minh, có chổ đồng mà cũng có chổ dị, nhưng cả hai đều do sự đô hộ của Trung hoa, một là văn hóa của Nho giáo, hai là văn hóa của Phật giáo, cũng truyền sang nước ta gẩn như trong một thời kỳ đầu thế kỷ thứ 2, hay thế kỷ thứ 3 sau Tây lịch nghĩa cách đây 1700 – 1800 năm, nền văn hóa ấy có lúc tranh nhau, có lúc hòa nhau gây một ảnh hưưỏng sâu xa và hổn hợp song đến nổi khó phân giới hạn giữa luân lý Nho giáo và luân lý Phật giáo.
Bài luận hôm nay chỉ là một cố gắng cỏn con để phân biệt sự sai khác nhau giữa giáo lý của Đức Thánh Khổng Tử và Đức Phật Thích Ca như đã nói trên. Về phương diện con cái đối với cha mẹ, bây giờ xin nói trước hai chữ hiếu để của Nho giáo, Khổng giáo cũng dạy thực hành đạo nhân mà gốc đạo nhân là Ái, Kính, vì vậy trong sự giáo hóa Khổng Tử lấy hiếu để làm trọng, người có hiếu trước hết phải nuôi cha mẹ, nuôi thì phải kính, không kính thì không phải hiếu, ý nầy thấy trong lời nói của Đức Khổng với môn đệ là Tử Dung “Kim chi hiếu giả thị vi năng dưỡng, chí phần mã năng. Giai năng hiếu dưỡng bất kính hạ dỉ biệt hồ ”. Đời bấy giờ cho việc nuôi dưỡng cha mẹ là hiếu, vậy chứ đối với chó, ngựa không nuôi sao ? Nếu nuôi cha mẹ không kính thì lấy gì phân biệt với thú kia. Vậy nuôi cha mẹ cốt ở sự thành kính dẩu có phải ăn gạo xấu uống nước lả mà làm cho cha mẹ biết được cái vui lòng ấy gọi là hiếu.
Lấy lễ mà thờ cha mẹ, không phải cha mẹ làm gì trái đạo cũng theo Khổng tử nói “ Thờ cha mẹ thì khi cha mẹ làm điều gì lầm lỗi con phải tìm cách êm đềm diệu dàng mà can ngăn, thấy cha mẹ không nghe thì lại kính mà không trái lễ, dẩu có nhiều đau đớn khó nhọc cũng không oán giận. Khi cha mẹ còn không nên làm điều gì để cho cha mẹ lo buồn bởi vậy không nên đi đâu xa, hay có đi phải nói cho cha mẹ biết chổ đi. “Phụ mẫu tại, bất viễn du, du tất hửu phương ”, chẳng những kính cha mẹ mà phải kính luôn người cha mẹ tôn trọng yêu những người cha mẹ đã yêu. Nhưng vì Khổng giáo chủ trương đạo hiếu trung nên dạy thêm, không nên nhắm mắt theo những điều trái đạo của cha mẹ. Trong trường hợp cha mẹ làm điều gì lầm lổi phải tìm cách êm đềm dịu dàng khuyên can ngăn cha mẹ không nghe thì kính mà không trái lễ Để giải rõ điễm nầy Đức Khổng nói: Cha có con can ngăn thì không hẳn làm điều vô lễ, kẻ sỉ có bạn can ngăn thì không phải làm điều bất nghĩa, cho nên con theo mệnh lênh của cha há đã là hiếu, tôi theo mệnh lệnh của vua há đã là trung, chỉ có biết xét cái đáng theo thì theo mới là hiếu, là trung vậy.
Nhưng Đức Khổng không chịu cho con đi tố cáo cha. Một hôm Khổng Du bảo Khổng Tử rằng: xóm chúng tôi có người cứ lấy cái chẳn mà khiến mình, cha đi ăn trộm dê mà con đi lậm giống, Khổng Tử đáp người ngay thẳn xóm chúng tôi cư xữ khác, cha che chở cho con, con che chở cho cha cái tật ở trong đó vậy. Trái lại người có hiếu khéo nối được cái chí của cha mẹ, khéo nối được việc làm của cha mẹ, khéo là cái khéo biết phân biệt cái chí của cha mẹ, cái công việc của cha mẹ đã làm để xem cái gì hay thì theo, cái gì dở thì bỏ chứ không phải gặp thế nào cũng nhắm mắt làm theo, từ trước tới nay thì nói về đạo hiếu cha mẹ còn sanh tiền. Đối với cái chết của đấng sinh thành Đức Khổng dạy: “ Sanh sự chi dỉ lễ, tử táng chi dỉ lễ, tế chi dỉ lễ ”. Nghĩa là sống thì lấy lễ mà thờ, chết thì lấy lễ để mà táng, lấy lễ mà tế là hợp nghĩa lý, là vừa phải chứ không thái quá hay bất cập nghĩa là: vừa sức nhà giàu nghèo. Có chổ Khổng Tử lại nói lễ dỉ kỵ xê giả dỉ, phụ tại quan kỳ chí, phụ tử quan kỳ hạnh, tam niên vô cải ư phụ chi đạo, khi vị hiếu hỷ “ Cha còn phải xem cái chí của cha, cha mất phải xem việc làm của cha, ba năm không lổi cái đạo của cha há gọi là hiếu vậy ”.
Trong Trần Trọng Kim, phải hiểu câu ấy như thế nầy lúc cha còn phải xem cái chí của cha để có điều gì phải thì theo, và có điều gì trái thì can. Việc cha đã làm mà có nên thay đổi thì đợi hết 3 năm cư tang chế rồi mới thay đổi, trước là để tỏ lòng bất nhẩn của người hiếu tử, sau là khi làm việc thay đổi như vậy cần phải kính cẩn thận trọng. Tóm lại mà nói Khổng giáo dạy về chữ hiếu có mấy điễm sau đây:
Khi cha còn sinh tiền thì thì phải hết lòng thương yêu là ái và phải hết sức phụng dưỡng một tấm lòng kính trọng đừng để cha mẹ lo buồn vì mình, phải yêu kính tôn trọng những người, những vật được cha mẹ yêu quý, phái khéo nối cái chí của cha mẹ, khéo nối được việc làm của cha mẹ, gặp khi cha mẹ lầm lổi phải êm diệu can ngăn, nhưng không nên thẳng tố cáo cha mẹ vì làm như thế thì trái sự ôn hòa và Lễ “ Trung Dung ”.
Điều thứ hai: Khi cha mẹ chết phải lấy lễ để mà táng, lấy lễ để mà tế tùy gia kiệm ướt chớ nên thái quá, cử cha trong 3 năm tang khó. phải giữ gìn cái chí của cha không nên thay đổi làm buồn lòng người qua cố như thế thật là chi tiết, thật là rõ ràng, làm người phải giữ như thế là hoàn thành đạo hạnh nhân thường của nhà Phật.
Nhưng Đạo Phật đâu phải chỉ dạy làm người, đạo Phật hoài bảo hơn cao hơn, đạo Phật tự đặt cho mình cái mục đích đưa loài người đến bậc siêu phàm, vì căn bản của loài người là siêu phàm, vì cái hoài bảo, cái mục đích nầy cả hai đều xây dựng trên sự thật tuyệt đối, chứ không phải trên sự thật tương đối của thế gian. Nên Phật giáo hình như ít chú trọng đến vấn đề luân lý nói chung và vấn đề hiếu để nói riêng.
Tuy vậy Phật giáo không phải quên hẳn việc đời và đạo hiếu. Kinh Thiện Sinh đức Phật có dạy những bổn phận của cha mẹ đối với con, của con đối với cha mẹ, bổn phận của thầy trò, của vợ chồng, của anh em bạn bè, của chủ tớ.
Con đối cha mẹ Kinh dạy: Dữ dỉ lễ sớm cùng khuya có việc gì phải làm đở, phải thương nhớ đức cù lao, khi yếu đau phải chạy chửa trăm chức sự yên lòng dạ, chỉ vắng tắc như thế thôi nhưng bao hàm nhiều ý nghĩa Dữ đủ lễ là kính, phải thương nhớ là ái, phải giúp đở lo thuốc men là dưỡng, chăm non chức sự cho yên lòng cha mẹ, trách những lo buồn cho cha mẹ.
Đối chiếu với nền luân lý đạo Nho thì thấy bao nhiêu đó cũng đủ rồi và hai bên có rất nhiều chổ đồng một việc phụng thờ cha mẹ trong lúc sanh tiền.
Trái lại đạo Phật không nói đến bổn phận của người con với cái tử và táng, hoặc có đề cập đến lại nói rất ít. Đây là điễm bất đồng căn bản của hai giáo lý, đạo Nho đặc biệt chú trọng đến việc tang chế vì đạo Nho cho cái chết là còn, nên có chổ dạy sự tử như sự sinh thờ kính cha mẹ chết như lúc còn sinh tiền, rồi phải tế lễ kể như cha mẹ còn tại thế mỗi bửa phải dâng cơm cúng nước.
Đạo Phật lại khác, quả quyết rằng: Các vong linh sau 49 ngày là phải tùy nghiệp lực dắt dẫn mà phải chịu sự quả báo, hoặc lành, dữ trong sáu nẻo luân hồi, chứ không tự do quanh quẩn theo con cháu trong cỏi vô hình được, mà đầu trong khoản 49 ngày đi nữa đã ra người thiên cổ cởi bỏ cái xác thịt thì cái khí dục cụ dùng để tiếp xúc với đời thì lấy gì để mà hưỏng những vật phẩm mà tế lễ mà dâng cúng, dùng tiền bạc mà sắm đồ tế là một lảng phí vô ý thức, giết trâu mổ lợn mà tế là phạm tội đại bất hiếu vì tạo nghiệp ác để vong linh cha mẹ chịu trách nhiệm lấy. Kinh Địa Tạng nói ở đời ai khéo tạo nghiệp dữ, mỗi những cái nghiệp không hay của cha mẹ tạo trong lúc còn sống đã quá nặng rồi, nở nào làm cho nghiệp ấy nặng thêm bằng những việc sát hại thú vật để tế lễ, thế chẳng khác chi người đi đường mang vác hành lý quá nhiều rồi, mà mình còn bắt mang thêm nhiều vật khác, vì vậy Kinh Địa Tạng dạy: Muốn báo hiếu khi cha mẹ chết thì nên đem tâm thanh tịnh đọc kinh cầu nguyện xuất tiền làm việc bố thí việc thiện để cho hương linh trong 10 phần hưởng được một công đức thiện nghiệp.
Người phật tử có thể hối tiếc một việc là cha mẹ không sống thật lâu như ý mong ước để tỏ lòng phụng dưỡng cho thỏa mãn, thỏa lòng, cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng “ Con mong muốn cha mẹ sống để báo hiếu, nhưng cha mẹ không còn nữa ”. Dầu là tiếng than thở nảo nùng của người con hiếu thảo, phải đạo, muốn sớm khuya hầu hạ mãi mãi mà luật vô thường lạnh lẻo không chịu. Nói tóm lại người phật tử tự thấy mình có nhiều bổn phận đối với song thân quá cố, nhưng lại cái bổn phận đối với thiêng liêng bất diệt của tâm linh chứ không phải đời sống vật chất mà người đời lầm tưởng còn tiếp tục trong cỏi sống của hương hồn.
Cần phải nhận thức rõ ràng điễm nầy, nếu muốn xây dựng đúng với tinh thần Phật giáo. Trước hết cần phải thêm mấy lời: Người phật tử chân chính phải đừng câu nệ tiếng thị phi, khen, chê của bàng quan mà phải giám sống trung thành với giáo lý của Đức Bổn Sư, chống lại với thành kiến sai lầm hay phong tục hủ bại, đừng sợ người đời chỉ trích những hiếu sự nghịch đời của mình, chỉ cái chính nghịch đời ấy là cái hợp đạo, nghĩ đến cái nghịch đời ấy là cái hợp đạo, mà cũng đừng có ý muốn mua chuột tiếng phong tặng của đời – Đời mà khen là trái với đạo đó, hiếu theo đạo Phật mới chánh hiếu. Chỉ có những người thông suốt chân lý mới giữ được, hành được vì nó ăn về bề sâu, thấu đến chổ u uất nhất của tâm hồn. Những cái hiếu khác là cái hiếu bề ngoài, ai làm cũng được và cũng có thể mướn người khác thay mình mà làm. Cái tâm niệm của người phật tủ hiếu thảo là vô giá, không thể mua chuột được, coi thường như không có gì là trọng, là lớn cả mà nó nặng vô cùng và bao la không bờ bến. Không như cái hiếu tế lễ thờ cúng dầu có đồ sộ đến đâu vẫn phải có chừng mực, ranh giới vì thuộc phạm vi hửu hình …
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Đoàn thiếu nử GĐPT Văn nghệ mừng lễ Chu niên

Tượng đài Quan Thế Âm Bồ Tát tại bãi biển An Bằng
SỰ HÌNH THÀNH NGÔI TƯỢNG ĐÀI

QUAN THÊ ÂM BỒ TÁT TRÊN KHU ĐẤT THÁNH ĐỊA TẠI
BÃI BIỂN LÀNG AN BẰNG XÃ VINH AN HUYỆN PHÚ VANG TỈNH TT-HUẾ

Với tâm nguyện hoài bảo của nhân dân và bà con phật tử làng An bằng từ hàng chục năm qua, nghĩa là kể từ năm 1945. Khi quân lính Pháp chiếm vùng đất nầy để đóng đồn quân sự, thì ngôi Am Bà Thủy bị đập phá. Nhân đân An bằng ai ai cũng động tâm và lo lắng nhất là giới phật tử.
Người dân sinh sống ở trong làng đều lấy nghề biển làm kế sinh nhai chính, nên tín ngưỡng, niềm tin của họ là tuyệt đối: Từ ngàn xưa cho đến ngày nay, việc làm ăn sinh sống lúc ra khơi, khi vào lộng, mong
cầu mưa thuận gió hòa trên biển cả đại dương, là điều tất yếu không thể không có được.
Phiên họp thống nhất bản thiết kế xây dựng tượng đài lần cuối cùng

Sau năm 1975 đất nước được thống nhất. Ban Đại diện khuôn hội Phật giáo An bằng, dân làng và đồng bào phật tử hoài bảo mong muốn làm sao để có một Ngôi tượng đài Quan Thế Âm Bồ Tát làm nơi chiêm bái, cầu nguyện mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, quê hương thanh bình, an lạc, nhưng chưa có thuận duyên thể hiện nguyện vọng của mình.
Cuộc họp bàn về việc xây dựng tượng đài QTA Bồ Tát

Đến năm 1977- 1978 Nhà nước phát động phong trào xây dựng tuyến phòng thủ, quân sự dọc theo miền Duyên hải để chống giặc ngoại xâm. Nhưng nhờ linh ứng, khu đất Am Bà Thủy và Trụ cột mốc thờ bát nhang, của Thảo am nầy được tránh khỏi, nên Khuôn hội Phật giáo An bằng tiếp tục trồng cây lâm nghiệp “dương liểu” để bảo tồn khu đất và hàng năm có thu hoạch để hương khói tại nơi nầy và cứ tiếp tục mãi như thế.
Đến năm 2001 Khuôn hội muốn xây dựng Tượng đài Quan Thế Âm Bồ Tát nhưng chưa được phép của chính quyền các cấp, nên cứ bảo quản duy trì. Năm 2004 Khuôn hội, Ban Hộ Tự Niệm Phật Đường dựng 4 trụ để làm mốc giới, thì chính quyền chưa đồng ý nên phải tháo dỡ.
Kể từ đây Khuôn hội – Niệm Phật Đường, tiếp tục làm đơn xin quí cấp chính quyền, quí cấp giáo hội, tạo điều kiện cho Khuôn hội, Niệm Phật Đường An bằng xây dụng Tượng đài theo tâm nguyện nêu trên.
1) Đơn xin phép xây dựng tượng đài Quan Thế Âm Bồ Tát lộ thiên gởi quí cấp chính quyền từ Xã đến cấp Huyện, Tỉnh Thừa Thiên – Huế đề ngày 13 tháng 7 năm 2006, nhưng chưa được cho phép.
2) Đơn xin cứu xét thứ hai đề ngày 10 tháng 9 năm 2006, vẫn chưa được cấp giấy phép xây dựng.
3) Đơn xin cứu xét lần thứ ba, đề ngày 20 tháng 3 năm 2007, vẫn chưa được chính quyền cấp giấy. Nhưng UBND tỉnh có công văn hướng dẫn số 2176 ngày 28 tháng 3 năm 2007. Về việc… Hướng dẫn Niệm Phật Đường An Bằng bổ túc hồ sơ xin xây dựng tượng Quán Thế Âm Bồ Tát.
4) Đơn xin cứu xét về việc xây dựng tượng đài Quán Thế Âm Bồ Tát lần thứ tư đề ngày 27 tháng 8 năm 2007. Qua đơn này chính quyền, và quí cơ quan các cấp, từ Xã đến Huyện và Tỉnh.
Xét thấy tâm tư và nguyện vọng của đại đa số bà con dân làng và toàn thể phật tử An bằng ở trong và ngoài nước, xin phục chế xây dựng ngôi Am Bà Thủy (Phật Bà Quan Âm) là rất thiết thật, chính đáng, thể theo nguyện vọng và nhu cầu ở trên, xét mối tương quan chung, phù hợp với lòng dân đang mong muốn, từ hàng chục năm qua.
Chính quyền các cấp đã cho phép Khuôn hội – Niệm Phật Đường An bằng được xây dựng ngôi tượng đài Quan Thế Âm Bồ Tát, tại bãi biển thôn An trung, làng An bằng, xã Vinh an, huyện Phú vang, tỉnh Thừa thiên-Huế theo Quyết định chính thức số: 133/QĐ-UBND. Ngày 17 tháng 1 năm 2008 của UBND tỉnh Thừa thiên-Huế.
Giấy phép số: 01 / GPXD. Ngày 23 tháng 1 năm 2008 của Sở Xây Dựng, tỉnh Thừa Thiên-Huế.
Và được cấp giấy quyền sử dụng đất vĩnh viễn lâu dài của UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế. Số T. 01063 (thẻ đỏ) Ngày 14 tháng 3 Năm 2008.
Cung thỉnh Chư Tôn Thiền Đức và quý vị Quan khách về tham dự lễ Đặt đá tượng đài Quan Thế Âm vào ngày 19 tháng 2 Mậu Tý 2008.

Giấy phép Xây Dựng bổ sung số 10/ GPXD Ngày 28 tháng 4 Năm 2008 của Sở Xây Dựng tỉnh Thừa Thiên-Huế, về việc điều chỉnh thiết kế xây dựng tượng đài.
Như vậy Khuôn hội, Ban Hộ Tự Niệm Phật Đường An bằng đã hoàn tất đầy đủ hồ sơ xây dựng.

Lễ khởi công xây dựng tượng đài ngày 26/03/2008(19/02/Mậu Tý)
Lễ đặt đá và khởi công xây dựng nhằm vào ngày Đản sanh của Ngài 19 tháng 2 năm Mậu tý, Tức là ngày 26 tháng 3 năm 2008.
Dưới sự chứng minh của Chư Tôn Thiền Đức và tham dự của quí cấp Chính quyền, quí cấp Giáo hội, quí Bô lão, Hội đồng hưong tộc làng văn hóa An bằng, đại diện của 43 họ tộc, các tôn giáo bạn, đại diện Hội Phật Tử An Bằng Hải ngoại, quí ban Hộ Tự các Niệm Phật Đường trong tỉnh Thùa Thiên Huế, dân làng và toàn thể phật tử các giới, thuộc Khuôn hội Phật giáo An Bằng từ trong nước đến Hải ngoại đều hân hoan vui mừng và cử thành phần về tham dự Lễ.
Qua diễn văn Khai mạc lễ đặt đá khởi công của Ban Tổ chức, Ban xây dựng, phát biểu ý kiến của đại diện các cấp chính quyền, các cấp giáo hội, đạo từ của Ban Trị Sự Phật giáo tỉnh Thừa thiên – Huế.
Toàn thể đại biểu đều hân hoan nhiệt liệt chào mừng ngày hội lớn lễ khởi công xây dựng tượng đài Đức Quán Thế Âm Bồ Tát.
Một ngày sau khi lễ khởi công xây dựng; Phim, hình ảnh tryền hình, tin tức, được loan ra khắp thế giới và trong nước, ai ai cũng phấn khởi, vui mừng và đồng tình ủng hộ theo bản Thiết kế, sơ đồ đã được chính quyền phê duyệt.
Kế hoạch tiến hành xây dựng: Dân làng và Phật tử cùng toàn thể thập phương thiện tín xa gần, các hội đoàn, đoàn thể đều hướng về quê hương làng An Bằng, xã Vinh an, huyện Phú vang, tỉnh Thừa Thiên-Huế, để theo dõi, phát tâm cúng dường bằng tinh thần, tịnh tài, vật chất với tâm nguyện, cầu mong ngôi tượng đài sớm được hoàn thành.
Khuôn hội, Niệm Phật Đường, Hội Phật Tử An Bằng Hải Ngoại, tích cực điều hành, động viên, đôn đúc các Chúng, các Chi hội và phật tử, thập phương, thiện tín xa gần. Quí bác, quí Niên trưởng, Huynh trưởng những thành phần đứng đằng sau hậu trường mặc dù, không nằm ở trong Ban điều hành Khuôn hội, Hội Phật Tử An Bằng Hải Ngoại, Ban Xây dựng, đã đem hết tâm huyết, hướng về quê hương với niềm tin kính Tam bảo, hợp duyên, tạo điều kiện thuận lợi, để ngôi tưọng đài sớm được thành tựu viên mãn.
Ngoài sự lo lắng của Khuôn hội, Hội phật tử An Bằng Hải Ngoại và Ban xây dựng, Ban vận động, ngoài việc cúng dường bằng tinh thần, tịnh tài, vật chất của dân làng, phật tử quê hương từ trong nước đến hải ngoại, thập phương thiện tín xa gần là công đức vô lượng, lại thêm đạo tâm và lòng hâm mộ, tín kính của các giới phật tử ở quê nhà đáng được trân quí. Cho nên trong thời gian khởi công xây dựng, tín đồ phật giáo, từ già đến trẻ, nam phụ, lão ấu đều hăng hái tham gia thường trực, thường xuyên trên công trình, mỗi hộ từ hai đến năm, mười ngày công. Trong hơn 750 hộ phật giáo, hiện có trên quê nhà không thiếu sót một hộ nào, cứ theo sự phân công và điều hành của Ban xây dựng và các Chúng phật giáo thuộc các thôn An Thượng, An Trung, An Định và An Mỹ. Mỗi lần đến phiên trực là đều chăm lo thợ thầy, điện nước, bảo quản vật liệu, vật tư xây dựng, trọn trong một ngày rồi bàng giao cho Ban xây dựng, phân công phiên người trực lại cho ngày hôm sau, và cứ tiêp tục như thế 100% trong các ngày, kể cả những ngày mưa bảo thợ thầy đều nghỉ, nhưng những hộ gia đình đạo hửu tới phiên trực của mình thì không bỏ sót, không nại khó than phiền. Mỗi hộ gia đình Phật tử sẽ trực từ 4 đến 5 ngày cho đến khi ngôi tượng hoàn thành viên mãn “Ôi! Mầu nhiệm của Đấng cứu khổ”, phải nói đây là tinh thần vô úy thí, đáng ghi nhận, tinh thần nầy, “của đồng, công lượng” xin hồi hướng lên Tam bảo.
Dự kiến nếu đầy đủ thiện duyên từ nhiều phía, mưa thuận gió hòa, thì ngôi tượng đài sẽ hoàn thành vào cuối năm Kỷ sửu (2009).
Lại thêm một niềm vui vừa phát hiện được là: Trong lúc tiến hành đổ trần đế tượng vào ngày 20 tháng 10 năm Mậu tý (17/11/2008), thì lại phát hiện được một di tích lịch sử từ lâu đời bên cạnh Ngôi Tượng Đài cách 5mét về phía Nam và khẳng định đây là đền thờ Am Bà Thủy, Khuôn hội, Niệm Phật Đường An bằng đang tìm cách mời nhà khảo cổ về nghiên cứu, xát định niên đại của di tích để phục chế và bảo tồn di sản quí báu nầy.
Kết luận Thân tượng từ Bình Dương Thành phố HCM trên đường Quốc Lộ 1A khởi hành ngày 6 tháng 12 năm Mậu tý thẳng ra Huế bằng 3 xe cơ giới hạn nặng, nhưng khi về đến xã Vinh An vào ngày 9 tháng 12 Mậu tý chỉ có 2 xe vì đi lạt một xe do không hiểu tiếng Bình Dương TP HCM và Tiếng An Bằng Huế trên điện thoại nên hương dẫn bị lạt đường, rôt cuộc sáng ngày 9 tháng 12 Mậu tý cả 3 xe đã gặp một địa điễm tai xã Vinh an.
Quý bác và anh chị em Huynh trưởng trúc trực điều hành xuất cả đêm để đưa toàn thân tượng ra tai biển An Bằng nơi tôn tri Ngài là đúng vào lúc 2giờ sáng ngày 10/12/Mậu tý tức ngày 5/1/ năm 2009.
Toàn thân tượng gồm 9 thớt, mỗi thớt nặng bình quân 15 tấn trên 2 tảng đá được phân như sau:

• 1 Đài sen úp 2 tảng.
• 2 Đài sen ngã 2 tảng.
• 3 Bàn chân vạt y 2 tảng.
• 4 Đầu gối vạt y 2 tảng.
• 5 Vế mông 2tảng
• 6 Thân vạt y 2 tảng.
• 7 Bụng thân 2 tảng.
• 8 Ngực y 2 tảng.
• 9 Cổ 2 tảng.
• 10 Thượng thủ (Đầu) 1 tảng.
Và cánh tay bắt Ấn Cam lộ nặng 3 tạ.
Như vậy tổng cọng 20 tảng đá gồm 9 thớt, mỗi thớt nặng 15 tấn. cao 1m,35. Tổng thể ngôi tượng khi chưa điêu khắc nặng 220 tấn, điêu khắc xong tượng nặng 156 tấn cao 12 mét già phân.
Ấn thân, Phân thân, Hóa thân, Hiện thân chia làm 4 khoảnh khắc như sau:
Từ Bình Dương TP/HCM là Ấn thân. Trên đường ra Huế là Phân thân, đến tại địa điễm tập kết thôn Hà úc là Hóa thân, ra đến bãi biển An B ằng nơi tôn trí xong tượng lên trên vùng đất Thánh địa là Hiện thân.
Ngôi tượng được tôn trí hoàn nguyện vào lúc 11giờ 50 phút trưa ngày 14 tháng 12 năm Mậu tý tức là ngày 9 tháng 1 năm 2009.

Làm rung cảm Chư thiên, vạn loại chúng sanh trong pháp giới, và nhất là con dân và phật tử An bằng từ trong nước đến Hải ngoại ai ai cũng đều hân hoan, thỏa lòng, thỏa dạ việc cúng dường tượng Ngài.
Lễ đạt đá khởi công xây dựng vào ngày 19 tháng 2 năm Mậu tý tức là ngày 26 thang 3 năm 2008.
Lễ Thượng tượng vào ngày 10 tháng 12 Mậu tý tức là ngày 5 tháng 1 năm 2009. Hòa thượngThích Hải Ấn chứng minh chú nguyện lễ Thượng tượng có sự tham dự của huyện Giáo hội Phú vang Thượng tọa Thích Trí Đạo; Khuôn hội, Ban xây dựng, toàn thể phật tử ở trong và ngoài nước, quý Khuôn hội bạncũng được có dịp tham dự.
Hiện thân, hoàn nguyện toàn thân Ngài vào lúc 11giờ 50 phút ngày 14 tháng 12 năm Mậu tý; tức là ngày 9 tháng 1 năm 2009. Trước sự hân hoan mừng vui của Khuôn hội và ban xây dựng cùng toàn thể phật tử.
Công trình vẫn tiến hành từ đài sen trở xuống, dự kiến hoàn thành viên mãn ngôi tượng đài vào cuối năm dịp 2009.
Dưới chân tượng đài sẽ làm Bia ký khắc trên mẫu đá của tượng Ngài để ghi lại các ngày lịch sử như sau: Ngày đặt đá khởi công xây dựng, ngày Lễ tôn trí tượng Ngài.
Ngày hoàn nguyện tượng Ngài (Hiện thân).
Ngày An vị, Khánh thành đưa vào vùng Thánh tích Thờ phượng, Chiêm bái, Cầu nguyện của vạn loại chúng sanh, cũng là điễm Du lịch tâm linh của thập phương thiện tín từ nay và mãi mãi sau nầy.
Với lòng chí thành cầu nguyện của toàn thể Tăng, Ni và phật tử An bằng ở trong, Hải ngoại từ mấy chục năm qua, sự hổ trợ của thập phương thiện tín, và mọi khó khăn gian khổ phải vượt qua để hôm nay có được thành quả này là nhiệm kỳ của Ban Đai Diện Khuôn Hội, Niệm Phật Đường do bác Trương Công Châu làm khuôn trưởng. Kế tiếp phần xây dựng là nhiệm kỳ của Ban Đại Diện Niệm Phật Đường do bác Hoàng Tân làm Khuôn trưởng.

Tử Trúc Lâm Trung Quan Tự Tại.
Bạch Liên Thai Thượng Hiện Như Lai

—————–&—————
Cảm tác

Đất Bằng vang vọng Hải Triều Âm
Muôn chim CaLăng hót báo tin mừng
Khách trần dâng lễ Từ bi nguyện
Biển khơi cá lội lắng nghe kinh

Cảm tác sau khi khi tôn trí tượng xong vào lúc 11h50 phút ngày 14 tháng 12 năm Mậu Tý (09/01/09)có ánh hào quang trong lúc trời đang mưa tầm tả.
Nguyên phương.

Cảm tác

Khen ai khéo tạc tượng Quán Âm.
Trú dạ lục thời cư Nam Hải.
Văn thanh, quán sắc từ bi cảm
Tùy duyên ứng hiện cứu quần sanh

Tặng thợ Hửu. Kỹ sư Giám đốc công ty Đương Đại, Bình Dương TP. HCM điêu khác ngôi tượng Ngài

————&————

Nam Mô Đại Từ Bi Phụ Linh Cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.

Gởi Bạn một Niềm Vui Chung
27/01/2008, Nguyên Sơn Văn Đinh Hưng

Có một tin vui, báo cho anh đây, từ đầu giây điện thoại tôi nghe giọng nói trầm ấm mà thiết tha của Văn Nhân Đạo, tượng đài Mẹ Quán Thế Âm đã đuợc cấp giấy phép rồi anh ơi. Tôi thở phào nhẹ nhõm và đáp lời ngay, anh xin nghiên mình ngã nón chào Văn Nhân Đạo và những người bạn quí mến An bằng đứng sau hậu trường đã góp phần quan trọng, để giấy phép xây dựng đài Quan Thế Âm Bồ Tát trở thành hiện thực.
Nầy bạn ơi! Chúng ta hãy tự hào và hãnh diện, quê hương An bằng, người dân đã ngạo nghễ nỗi bật lên như một biểu tượng khác vọng, của một thôn xóm đã vượt qua bao nhiêu gian nan, khốn khổ để tồn tại mà vương lên cùng với các tỉnh, thị khác trên dãy đất miền Duyên hải.
Giờ đây quê hương An bằng nói chung và riêng người phật tử, đã khao khác gần một thập niên qua, muốn nhìn thấy hình ảnh tượng đài Mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát sừng sững đứng trước bãi biển làng An bằng, những chướng ngại đã vượt qua, niềm khao khác đó đã đến, rồi niềm vui của người Phật tử An bằng góp phần phát huy Phật giáo và xây dựng quê nhà cũng đã và đang được hòa nhịp với lòng mong đợi của mỗi người trong chúng ta.
Hởi các bạn ở Hải ngoại, xin hãy cùng nhau thắp sáng ngọn đuốc tâm linh, và xin hãy đang chặt bàn tay lại với nhau để cùng tô điễm và hình thành một tượng đài Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát tại quê hương An bằng của chúng ta dược viên mãn.
Có như thế để rồi mai đây, những thế hệ tiếp nối, ngồi bên tượng đài nhìn ra biển đông, với không gian bình an với một tâm hồn thanh thoát để nghe tiếng Hải triều âm vang dậy, lúc đó chúng ta được nhắc đến như bậc tiền nhân. Xin hãy góp sức để bậc tiền nhân mai hậu không bị mai một.
Một lần nữa cám ơn, những anh chị đã kiên trì trong nhiều năm để dự án được hình thành, đặc biệt cám ơn Văn Nhân Đạo với tấm lòng của người con Phật tử lo cho Đạo giáo, cho Quê hương An bằng không biết mệt mỏi. Và chắc chắn rằng những ngày kế tiếp sẽ cần nhiều anh chị góp phần không biết mệt mỏi đó, để công trình xây dựng tượng đài được hoàn mãn.

****&****

Quên mất tâm bồ đề mà tu hành các thiện pháp, gọi là hành động của ma.

Kinh Hoa Nghiêm

NỘI QUY VÀ ĐIỀU LỆ CỦA KHUÔN HỘI
PHẬT GIÁO AN BẰNG

Chương thứ nhất:

DUYÊN KHỚI

Nói đến Phật giáo An Bằng, chúng ta kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ các vị Tổ sư, quý vị Tiền bối, hữu công qua các triều đại đã sáng lập ra nền Phật giáo tại đây và xây dựng ngôi chùa đầu tiên nằm về phía Bắc của Làng chính từ thời bấy giờ gọi là xóm Chùa, thì đạo Phật An Bằng bắt đầu nguồn đó (từ thời Hậu Lê).
Nói đến Khuôn Hội An Bằng khi được chính thức thành lập vào năm 1956. Từ Phật Phổ học, Khuôn Tịnh Độ, rồi đến Khuôn Hội thì Phật Giáo An Bằng bắt nguồn từ đó, và tiếp tục xây dựng ngôi chùa thứ hai về phía Nam cạnh Đình làng.
Nói đến KHPG An Bằng, chúng ta cũng phải tưởng niệm đến quý bác, quý anh chị đã quá cố trong mọi hoàn cảnh, và cũng không nên quên quý bác, quý anh chị em còn lại đã và đang xây dựng KGH An Bằng, phục vụ đạo pháp tại quê nhà cũng như ở Hải Ngoại và xây dựng nên ngôi chùa thứ ba.
Kể từ ngày thành lập KH đến nay, chúng ta đã biết tổ chức của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, từ Trung Ương đến địa phương gồm có 5 cấp:
1. Trung ương Giáo hội.
2. Cấp miền.
3. Cấp tỉnh, Thị xã.
4. Cấp quận, Huyện.
5. Cấp Khuôn Giáo Hội
Giáo Hội chỉ đạo theo hệ thống ngành dọc từ trung ương đến địa phương, và từ địa phương đến trung ương. Nhiệm kỳ của Ban Đại Diện Khuôn Hội nay là Niệm Phật Đường là 3 năm.
Đối ngoại: từ Trung Ương đến địa phương, từ địa phương đến Trung Ương tùy theo cấp.
Về GĐPT nằm trong lòng giáo hội cũng có 5 cấp:
1. Trung ương.
2. Cấp miền.
3. Cấp Tỉnh, Thị xã.
4. Cấp Quận, Huyện.
5. Cấp gia đình.
Trung ương GĐPT chỉ đạo theo hệ thống ngành dọc từ Trung ương đến địa phương, từ địa phương đến Trung ương, “không có đối ngoại”.
Bởi vậy trong những thập kỷ qua từ khi xây dựng ngôi chùa thứ hai và thứ ba đến nay KH An Bằng chúng ta đã ra đời thành lập Nội quy – Nội lệ để áp dụng cho địa phương của mình. Nội quy, nội lệ đều được hội nghị của KH biểu quyết thông qua. Có bổ sung sửa đổi cho phù hợp tình hình thực tế theo sự phát triển của địa phương cấp mình, đều do Hội nghị của Khuôn giáo hội biểu quyết trong kì họp tiếp theo.
Và đây là Nội quy, Nội lệ được sửa đổi bổ sung, biểu quyết tại Hội nghị thường niên của KH An Bằng theo biên bản ngày 08 tháng 12 năm Ất Dậu (ngày 07 tháng 01 năm 2006). Phật lịch: 2549. Gồm có 3 chương 24 điều.
Chương thứ hai.

NỘI QUY VÀ NỘI LỆ

Điều 1: KHPG An Bằng là cấp cuối cùng của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam viết tắt là KHPG/AB.
Gia đình Phật Tử An Bằng là cấp cuối cùng của Gia Đình Phật Tử Việt Nam, viết tắt là GĐPTAB, nằm trong lòng KGHPGAB.
Điều 2: Các ban ngành trong KHPG/AB gồm có:
1. Ban đại diện.
2. Ban huynh trưởng.
3. Tiểu ban văn hoá.
4. Tiểu ban nghi lễ.
5. Tiểu ban từ thiện.
6. Ngành cư sĩ.
7. Đạo tràng tịnh độ. Đạo tràng Pháp Hoa.
8. Các chúng trưởng tại các vùng (hay thôn), mỗi chúng có ban viên giúp việc từ hai đến ba người, do chúng trưởng lựa chọn và được sự chấp thuận của KGH.
Điều 3: Ban đại diện KGH có trách nhiệm lãnh đạo, hướng dẫn các ban ngành và toàn thể đạo hữu trong KGH. Thực hiện mọi công tác Phật sự, tổ chức tu học, sinh hoạt, xây dựng con người tốt đạo, đẹp đời. Thi hành nghị quyết, Nội dung và Nội lệ của Hội nghị. Làm tròn bổn phận và trách nhiệm của mình, chịu mọi trách nhiệm về sự tịnh suy của KH.
Điều 4: Sinh hoạt tu học. Hằng năm tổ chức Hội nghị tổng kết công tác Phật sự trong một năm qua, báo cáo kết quả thu chi tài chính trong năm, đề ra phướng hướng của năm tới. Bổ sung nhân sự từ Khuôn trưởng cho đến các thành viên khi bị khiếm khuyết, hoặc lý do chính đáng.
Thành phần tham dự đại hội. Các ban ngành tân cựu KH và các vị hữu công, có đầy đủ uy tín trong KGH. Thời gian hội nghị vào thượng tuần tháng 12 Âm lịch.
Điều 5: Được tổ chức các phiên họp bất thường để giải quyết công tác Phật sự đột suất.
Điều 6: Tổ chức tu bát quan Trai, lễ Quy y, mời Tăng, Ni thuyết giảng giáo lý, thành phần tham dự toàn thể đạo hữu của khuôn và các ban ngành.
Điều 7: Mỗi tam cá nguyệt tổ chức họp sơ kết công tác Phật sự, công khai tài chánh, kiểm điểm, động viên các ban ngành hăng hái trong công tác Phật sự, và biết được các ban ngành yếu kém trì trệ để uốn nắn động viên được tốt. Đề ra phương án ba tháng tới.
Điều 8: Tài sản, bất động sản của KH bao gồm:
Đất đai, chùa chiền, thánh thất, cơ sở vật chất, di tích lịch sử, văn hoá Phật giáo, các dụng cụ thờ cúng, kinh sách khí mảnh đều do KH quản lý và giao cho các ban ngành có trách nhiệm bảo quản để phục vụ công tác Phật sự liên quan đến ban ngành mình để hoàn thành nhiệm vụ đối với KGH.
Điều 9: Tài chính của KH:
Tài chính do đạo hữu Phật tử và thập phương thiện tín cúng dường Tam bảo tại KH hoặc tại các ban ngành nào đều chuyển lên KH để đưa vào quỹ, tuyệt đối không một ban ngành nào thu giữ tài chính riêng dưới bất cứ hình thức nào. Ngoại trừ tiền do hội viên ban ngành nào đó đóng nguyệt liễn để sinh hoạt.
Điều 10: Đạo hữu thập phương cúng dường vật thờ cúng như:
Tượng Phật, Bồ Tát, Đối Liễn, Hoàng Phi, Chuông Trống, các vật dụng thờ cúng hoặc vật dụng phục vụ trong KH đều được ghi sổ công đức lưu trữ tại KH. Đạo hữu cúng dường hiện kim để mua sắm các vật thờ cúng từ một triệu đồng trở lên cũng được ghi vào sổ vàng lưu trữ tại KH.
Điều 11: Việc thu, chi của KH được quy định:
Nguồn thu: Do đạo hữu, thập phương thiện tín cúng dường và các nguồn thu khác đều được đưa vào quỹ của KH không kể ít nhiều.
Nguồn chi: Vì những việc cần thiết cấp bách, ban đại diện KH có quyền duyệt chi từ một triệu đồng trở xuống. Từ ba trăm ngàn trở xuống, xét thấy phù hợp đáng chi thì thành viên trong ban thường trực tạm xuất chi. Từ một triệu đồng trở lên phải họp toàn ban ngành KH để biểu quyết.
Điều 12: Kiến thiết và xây dựng:
Kiến thiết xây dựng, tu sửa cơ sở vật chất phải triệu tập một phiên họp bất thường để biểu quyết thì mới thi hành, trừ trường hợp đã nằm trong phương hướng mà Hội nghị đã biểu quyết nhất trí thì không cần phải mở phiên họp bất thường nữa.
Điều 13: Lễ lượt, Quan, Hôn, Tang, Tế.
Hàng năm ngoại trừ các ngày vía Phật và Bồ Tát, chúng ta có các ngành lễ lớn như: Đại lễ Phật Đản, Đại lễ Vu Lan, Đại lễ Thành Đạo, lễ Chu niên GĐPT, lễ Hiệp kỵ của KH. Còn lễ vía Đức Phật Di Lạc nhằm ngày mồng một Tết Nguyên Đán. Hội nghị thường niên họp bàn và giao nhiệm vụ cho các ban ngành tại hội nghị tổng kết cuối năm.
Điều 14: Vị trưởng, phó khuôn phục vụ 3 năm trở lên, khi hết phục vụ là: Nguyên trưởng, phó khuôn, khi quá vãng đều được KH đứng ra tổ chức lễ tang nếu gia đình đồng ý.
Các thành viên trong Ban đại diện KH, Trưởng tiểu ban, chúng trưởng, kể cả tân cựu khi quá vãng KH đi điếu một bức trướng hoặc một vòng hoa.
Các ban viên trong tiểu ban hoặc tứ thân phụ mẫu của các ban viên đó khi quá vãng thì không đi bức trướng mang danh từ KH, hoặc tiểu ban mình.

Gia đình đạo hữu hoặc thân tộc xây lăng mộ KH đi thăm lần đầu, các lần khác không đi. Trường hợp có khởi mộ thì KGH đi thăm.
Làng, phường, tôn giáo bạn, các đại tôn xây lăng, nhà thờ nếu cần thì KGH đi thăm không có hạn chế mấy lần.
Điều 15: Các lễ lượt do Tỉnh, Huyện Giáo Hội tổ chức có thông tri thì y theo thông tri để thực hiện.
Đám tang Chư vị giáo phẩm, Lễ kỵ Tổ tại các Tổ đình KH tuỳ nghi phúng điếu thọ tang, đảnh lễ, cúng dường, lễ vật do ban thường trực ấn định.
Điều 16: Khi đạo hữu quá cố gia chủ phải trình KGH biết để đi thăm viếng kịp thời, nếu không trình thì KGH biết lúc nào thì đi thăm lúc đó.
Nếu trong gia chủ xin KH các lễ nghi như: Lo đám, Hộ niệm, xin thỉnh bàn đám và dụng cụ đưa đám KH cung cấp đầy đủ. Còn quan chấp lệnh đám của đạo hữu, nếu gia chủ xin Khuôn thì, chỉ có một quan chấp lệnh của KH từ đầu đến cuối không thay đổi quan chấp lệnh của đon vị khác ngoài Khuôn cử ra bất cứ lễ phúng điếu của thành phần nào; còn lệnh thì tùy gia chủ, nếu yêu câu Khuôn thì có lệnh của Khuôn, nếu gia chủ đề nghị có lệnh của gia chủ thì dùng lệnh của gia chủ.
Tư gia tập thể tổ chức lễ đám tang, an vị, cầu an, cầu siêu theo nghi lễ Phật giáo có mời KH thì KH cử các ban ngành liên hệ đi lễ, theo yêu cầu của tập thể và gia đình, ngoài quy định trên thì KH không chịu trách nhiêm về mặt này.
Khi có đám tang của đạo hữu trong KH thì KH và đạo hữu dều tập trung đi dự lễ cầu nguyện và tiễn đưa linh cửu đến mộ phần, qua tuần 49 ngày KH dự lễ cầu nguyện.
Điều 17: Các hương linh quá cố đã có pháp danh, hoặc chưa có pháp danh, quý thân nhân đã đến chùa xin lễ cầu siêu, nhập tự. Tất cả các hương linh thiện nam tín nữ này đều là chư hương linh quá cố của KH An Bằng. Chúng ta phải xem như cha mẹ, anh em, con cái, thân bằng quyến thuộc của nhau trong nhiều đời, nhiều kiếp, vậy chúng ta phải kính lễ, tôn thờ thật trang nghiêm, thường xuyên lui tới để thắp hương cầu nguyện.
Điều 18: Hàng năm làng có lễ Cầu an đầu năm, lễ Âm hồn KH đều tham dự. Còn lễ Đông Chí có mời KH thì KH đi dự lễ và tham dự tiệc.
Các đại tôn, Tôn giáo bạn tổ chức lễ có mời KH thì KH đi lễ và tham gia tiệc.
Hàng tháng vào ngày mồng 1, tại chùa KH chỉ lễ cầu an, hướng dẫn tu học thuết giảng giáo lý không có lễ cầu siêu, ký tự..
Ngày rằm (15) mới có lễ cầu siêu và ký tự, lễ cầu an chung và tư gia đạo hữu có xin lễ.
Ngày 30 hàng tháng nếu gia đình đạo hửu nào muốn kỳ siêu ký tự thì lễ ban ngày. Thay vì trước đay vào buổi tối.
Gia đình đạo hữu huý nhật muốn tụng kinh bộ thì mời KGH trước 3 ngày để có thời gian phân công cụ thể.
Tất cả mọi ngày trong năm đạo tràng Tịnh độ của KH tu học và kinh hành vào các buổi tối.
Điều 19: Đối ngoại
KGH có đối ngoại với chính quyền, Uỷ Ban Mặt Trận địa phương và cấp trên cùng các đoàn thể xã hội khi cần. Làng, Phường, Thôn và các đại tôn ở trong làng tuỳ theo mỗi công việc, việc đối ngoại cụ thể là:
Chính quyền, mặt trận địa phương khi mời họp, bàn việc có liên quan, hội nghị… có giấy mời thì KGH cử thành viên trong ban thường vụ đi tham dự.
Hội đồng hương tộc khi có chủ trương xây dựng quê hương như xây dựng đình làng, xây dựng nhà thờ 43 họ tộc nếu có giấy mời thì KGH cử thành viên tham gia góp ý xây dựng. Lễ lượt thường lệ hàng năm như: Tế thu, Đua, Cầu ngư, Kỵ, Ông ngư thì KH không tham dự các các phiên họp này. Hàng năm KH đi lễ cầu an đầu năm và lễ âm hồn do làng tổ chức.
Điều 20: Đạo hữu thuộc KH đau ốm, hoặc tai nạn nằm bệnh viện giải phẫu khi về nhà thì KH đi thăm có tặng sữa hoặc trái cây, còn đi chữa bệnh thường thì không. Đạo hữu đau ốm không đi bệnh viện, ở nhà nếu quá nặng thì KH đi thăm. Đạo hữu đau ốm bất thường, trở trời trái gió nhẹ nhàng rồi lành thì KGH không đi thăm.
Trường hợp các thành viên KH và đạo hữu khi được cử đi công tác Phật sự, gặp tai nạn rủi ro thì KH tuỳ theo hoàn cảnh để hỗ trợ, giúp đỡ.
Điều 21: Tất cả các đạo hữu phật tử ở trong KH, hay người ngoài không được
đen rượu bia đến tại chùa, trong khuôn viên chùa mừng gặp mặt hay liên hoan.
Điều 22: Quý đạo hữu phật tử đến chùa lễ phật vào các ngày rằm, mồng một, các ngày lễ lớn, ngày vía, và những cuộc họp do KH tổ chức đều phải ăn mặc chỉnh tề. Khi nghe be tiếng chuông tất cả vào tại chừa nghiêm trang thanh tịnh để chuẩn bị hành lễ, thành viên của các ban ngành không có nhiệm vụ do ban thường trực phân công giải quyết công việc, hoặc tiếp khách đều vào lễ Phật.
Điều 23: Tất cả các thành viên thuộc ban ngành trong KH phải là người gương mẫu lo tu học, giữ gìn tác phong đạo đức, xây dựng xã hội, làm tốt đạo đẹp đời.
Nếu thành vên nào làm mất thanh danh của KH, ảnh hưởng đến nền tảng Phật giáo, thì tuỳ nghi lỗi lầm, nặng nhẹ để phê bình kiểm thảo, hoặc xám hối, hoặc kỷ luật khai trừ ra khỏi KH và thông báo cho đạo hữu Phật tử đều biết.
Điều 24: Ban Nội quy, Nội lệ gồm có 3 chương và 24 điều đã được Hội nghị thường niên biểu quyết nhất trí vào ngày 08 tháng 12 năm Ất Dậu (tức ngày 07 tháng 01 năm 2006). Phật lịch 2549. Chỉ được áp dụng trong phạm vi KHPG An Bằng. Mọi sửa đổi Nội quy, Nội lệ phải được hội nghị thường niên KHAB biểu quyết.
Nội quy, Nội lệ thiết lập vào ngày 08 tháng 12 năm Ất Tỵ (tức là ngày 30 tháng 12 năm 1960). Tại Chùa An Bằng.
Khuôn trưởng đã kí
Nguyên Phi – Trương Tuy
* Tu chỉnh lần I
Ngày 08 tháng 12 năm Tân Hợi tức ngày 23 tháng 1 năm 1972
Khuôn trưởng đã kí
Nguyên Hạnh – Đào Tầng

* Tu chỉnh lần II
Ngày 08 tháng 12 năm Ất Hợi tức ngày 27 tháng 1 năm 1996
Khuôn trưởng đã kí
Tâm minh – Lê Phát

* Tu chỉnh lần III
Ngày 02 tháng 12 năm Ất Hợi tức ngày 24 tháng 1 năm 2002.
Khuôn trưởng đã kí
Nguyên Minh – Trương Công Châu

* Tu chỉnh lần IV
Ngày 08 tháng 12 năm Giáp Thân tức ngày 17 tháng 1 năm 2005
Khuôn trưởng đã kí
Nguyên Minh – Trương Công Châu

* Tu chỉnh lần V
Ngày 08 tháng 12 năm Ất Dậu tức ngày 07 tháng 1 năm 2006. Phật lịch 2549
Khuôn trưởng –TNPĐ đã kí
Nguyên Minh – Trương Công Châu.

* Tu chỉnh lần thứ VI
Ngày 08 tháng 12 năm Đinh Hợi tức ngày 15 tháng 1 năm 2008 Phật lịch 2551.
Khuôn Trưởng. TNPĐ đã kí
Nguyên Nhật: Hoàng Tân.

* Tu chỉnh lần thứ VII
Ngày 8 tháng 12 năm Mậu tý tức là ngày 3 tháng 1 năm 2009 Phật lịch 2552
Khuôn Trưởng. TNPĐ đã kí
Nguyên Nhật Hoàng Tân

(Bản Nội qui, Nội lệ nầy chỉ áp dụng qua những lần tu chỉnh cuối cùng)

——-&——-

Như một bà mẹ đem thân mạng mình che chở cho đứa con duy nhất, chúng ta hãy đem lòng từ bi mà đối xử với tất cả mọi loài.
Ta hãy đem lòng từ bi không giới hạn của ta mà bao trùm cả thế gian và muôn loài, từ trên xuống dưới, từ trái sang phải, lòng từ bi không bị bất cứ gì làm ngăn cách, tâm ta không có vương vấn một chút hờn oán hoặc căm thù. Bất cứ lúc nào, khi đi, khi đứng khi ngồi, khi nằm miễn là còn thức, ta nguyện duy trì trong ta chánh niệm từ bi. Nếp sống từ bi là nếp sống cao đẹp nhất.
(Kinh Thương Yêu)

Trại sinh Vạn Hạnh viết lời trước Lễ Bế mạc Trại Van Hạnh IV/1997

Trại sinh 14 Trại Vạn Hạnh .

Huy hiệu Trại Vạn Hạnh

HUY HIỆU PHÁP ĐỈNH CỦA TRẠI VẠN HẠNH-IV- 1977.

1/ Đỉnh biểu tượng cho Hòa bình Thịnh trị.
– Đỉnh là khóa học cao nhất.
– Đỉnh là tuổi đời năm mươi lăm.
– Đỉnh Uy tín trong GĐPT.
2/ Chùa Một cột là chùa Diên Hựu, biểu tượng Phật giáo Việt Nam. Dùng tháp hay trụ đá có thể hiểu lầm kiến trúc ở Ấn, Hoa, Nhật.
3/ Chuông Quy Điều là Quốc bảo Đời Lý, chuông nầy đã bị Triều lý đem về Tàu thời Đại Nam bị Nhà Thanh đô hộ. (Trích diễn từ của anh Nguyễn Sỉ Thiều, phó BHD/TW/GĐPT Việt Nam, trưởng Ban Hướng Dẫn GĐPT/Thừa thiên, trại phó Trại Vạn Hạnh IV- 1997. Khai mạc Ngày 17 tháng 8 năm 1997(15 tháng 7 Đinh sửu, Phật lịch 2541) Tại Tổ Đình Chùa Từ Hiếu.

——-&——-

Ban Hộ Tự Khuôn Hội Phật Giáo và Ban huynh trưởng GDPT An Bằng trước đài lễ Phật Đản 2551

LỜI TÂM SỰ

Kính Gởi: Quí Bác Gia Trưởng, Huynh Trưởng và Đoàn Sinh GĐPT.
Kính thưa quí bác Gia trưởng, các anh chị Huynh trưởng và các em Đoàn sinh GĐPT.
Mỗi chúng ta là một cá thể, không ai biết được mình từ đâu mà sinh ra. Trên đất nước nầy, trên qủa đất nầy, không ai giống ai về thể chất, tinh thần cũng như địa vị xã hội và sở thích, đam mê trong cuộc sống dù là anh em ruột thịt một nhà.
Nhưng chúng ta giống nhau ở chổ là cùng tù tu học một giáo lý của Đức Phật, cùng nhau sinh hoạt trong tổ chức: GĐPT.
Sự giống nhau đó biểu hiện bằng màu áo lam giản dị. Màu áo đã trở thành keo sơn gắn chặt chúng ta lại thành một niềm tin thương mến chân thành. Dù cách xa nhau qua núi rừng, biển cả, chưa hề gặp mặt, nhưng nghe ai tĩnh tâm tu học, gặp nhiều may mắn thì vui mừng, nghe có người bị nạn, ôm đau thì nóng lòng giúp đở, biết có người không giữ được giới luật thì đau
xót vô cùng
GĐPT An bằng sau giờ sinh hoạt ngành
Huynh trưởng ngành nử GĐPT An bằng là các chị tiêu biểu đưa ngành nử GĐPT An bằng vững bước tiến lên

Sự cảm thông lo lắng cho nhau đó không do ai khuyến khích thúc đẩy mà do sự chân thành tu học mà phát xuất ra cái đạo tình bao la thắm thiết ấy.

GĐPT An Bằng Luôn giữ lấy hạnh nguyên Tù Bi của Ngài QTÂ để tu học hóa độ quần sanh
GĐPT Thừa Thiên trước tháp Đức đệ tam Tăng Thống Thống Thích Đôn Hậu Chùa Linh Mụ
GĐPT dụ lễ Chu niên làn thứ 27

Tôi may mắn được gia nhập GĐPT đến nay đã gần nữa thế kỷ rồi, đã sống hơn nữa cuộc đời, cái tình đạo đẹp đẽ mà quí bác quí anh chị đã dành cho.
Mỗi ngày tuổi tác đi qua, sức lực trí óc mỗi ngày một suy kém, biết có ngày phải chia tay nhau mãi mãi, nên cũng gởi gắm lại mấy lời để đền đáp thịnh hành của quí bác, quí anh chị và các em kính mến tôi chân thành …

Thiền Hành khóa tu Phật thất chùa An bằng

A / CHÚNG TA HÃY NHÌN LẠI THÀNH QUẢ CỦA NỀN GIÁO DỤC GIA ĐÌNH PHẬT TỬ ĐỂ THÊM VỮNG NIỀM TIN Ở TƯƠNG LAI.
I / Mục đích của nền giáo dục GĐPT.
Chúng ta đều biết mục đích của Phật pháp là giúp con người có nhân cách tương đối trong hiện tại để tiến đến nhân cách viên mãn trong tương lai. thực hành được lời dạy của Đức Phật chừng nào, chúng ta được an vui giải thoát chừng ấy. Nhằm thực hiện mục đích cao cả ấy, GĐPT ra đời để đào tạo thanh thiếu nhi trở thành một phật tử chân chính và góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần phật giáo. Mà tinh thần Phật giáo lấy từ bi trí tuệ làm căn bản.
Từ bi ấy là động lực thúc đẩy quí thầy, quí bác quí anh chị tiền phong soạn thảo chương trình tu học cho
GĐPT, và trí tuệ ấy đã làm cho chương trình tu học ngày càng phù hợp với nhân tố tính và xã hội, hay nói một cách khác vừa khế lý vừa khế cơ

Huynh trưởng và Ban quản trại thăm trại tổ Oanh vũ

Nó bao quát nhiều lảnh vực nhưng không thiên về một bộ môn nào ngoại trừ Phật pháp. Nền giáo dục của GĐPT không có tham vọng bổ túc cho giáo dục ở học đường, mà chỉ có mục tiêu là khơi dậy tiềm năng của con người, Để người đó tự khai triển mà trở thành đặc tài, có nhân cách nhờ sự tu học.
Vì thế GĐPT đã phát triển một cách tự nhiên, không gò bó không dựa vào thế lực nào cả. Dù gặp bao trở ngại khó khăn đã làm động lực cho phát triển và trưởng thành của GĐPT chúng ta.

Lễ Hành Thiền khóa Tu Phật Thất tại chùa An Bằng

II / Kết quả của nền giáo dục ấy:
Đặc san Viên Âm số đặc biệt 1951, Hòa Thượng Thích Minh Châu hiện nay (là một sáng lập viên GĐPT). Sau khi trình bày mục đích của GĐPT, Hòa Thượng đã kết luận rằng: “ Không tán thành và hưởng ứng mục đích của GĐPT, thì có những người sau đây ”.
a / Chấp thủ không chịu tìm hiểu.
b / Ưa sống ích kỷ.
c / Thiên trọng vật dục.
d / Không hiểu thanh niên.
e / Hạng vong bản.
Lời khẳn định trên đã nói lên cái trách nhiệm nặng nề của GĐPT và GĐPT đã hoàn thành tốt đẹp trách nhiệm của mình. Với hàng chục Thánh tử đạo phát xuất từ đây, với hàng trăm Tăng, ni, chân chính phát xuất từ đây làm rạng rỡ giáo Pháp của Đức Như Lai, với hàng ngàn huynh trưởng chấp nhận cuộc sống thanh bạch, giũ gìn tác phong đạo đức. Khước trừ những nghề nghiệp danh lợi trái với từ bi của đạo Phật và hàng vạn các em đoàn viên như những cánh sen tươi thắm trên vạn nẻo đường đất nước và từ từ nở khắp năm châu.
B / THÀNH QUẢ ẤY NHỜ ĐÂU MÀ CÓ:
I / Sự quan tâm của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất:
Trong bài giảng “ Đừng ngộ nhận Phật Giáo ” của Hòa Thượng Thích Đôn Hậu, sau khi phân tích những lầm lẩn của người trong đạo lẫn ngoài đạo, Ngài dạy: “ Đạo Phật không phải ở trong chùa, không phải ở nơi người lớn mà chính ở nơi hàng nam nử thanh thiếu nhi phật tử ”.
Vì thế nên có câu: “ Cứu được một người lớn thì chỉ cứư được một mạng người, nhưng cứu được một trẻ nhỏ là cứu cả một bản tính nhân ”.Vì thế mà GĐPT được giáo hội chăm sóc tận tình, không có một buổi lễ, một cuộc cắm trại nào vắng bóng chư vị tăng ni. Không khi nào chúng ta thiếu các vị cố vấn giáo hạnh hướng dẫn chúng ta trên bước đường tu học.
II / Sự nổ lực của quí bác, quí anh chị tiền phong:
GĐPT là một ngôi nhà được xây dựng bằng tình thương và trí óc, sở dỉ nó bền vững vì tình thương nó đậm đà, như Ngài Đôn Hậu đã nói vào năm 1984: “ Chị Kim Cúc lên thăm tôi có nói chuyện về hoàn cảnh sinh hoạt của anh chị em GĐPT hiện tại chị nói rồi rưng rưng nước mắt, tôi là người tu hành cố tánh sự cảm xúc đã lâu, nhưng nghe chị Kim Cúc nói lên tình đạo thắm thiết của anh chị em mà tôi cảm động quá ”.
Vì sở dỉ nó phát triển nhờ sự nổ lực về trí óc của những người đi trước, sự nổ lực ấy cũng là sự đền đáp lại phần nào huấn thị của Đức Phật: “Tuy có sự đóng góp của hàng người tạo nên những hình thức tốt đẹp, nhưng chính là nỗ lực của mỗi cá nhân trong đó mới quan trọng ”.
Nhờ thế các anh chị đã nghiên cứu giáo lý, học hỏi những chỗ cao thâm uyên bác và đã thành công khi GĐPT có đủ Nội quy, Quy chế có đủ chưong trình tu học, huấn luyện cho đoàn viên.
III / Sự cố gắng của các anh chị em đoàn viên:
Hoa sen vương lên ở trong bùn. GĐPT vương lên từ trong cuộc đởi ô trược, chúng ta không có duyên vượt hẳn như các vị xuất gia, nhưng chúng ta cố gắng vượt lên khỏi ràng buột của cuộc đời, vào mỗi dịp sinh hoạt hằng tuần, hoăc 30, mồng 1, rằm, 14. Chúng ta không bỏ phí thời cơ tu học dù gặp khó khăn và trở ngại. Nhờ thế mà GĐPT không lúc nào vắng bóng trên mái chùa thân yêu, dù sự có mặt ấy có lúc khác nhau tùy hoàn cảnh, cũng ví như Hoa sen luôn có mặt ở trong hồ dù khi mùa xuân xanh lá, khi mùa hạ hoa tươi, thu đông hoa tàn, nhưng mầm củ bắt đầu cho mùa hoa mới.

C / MUỐN CHO THÀNH QUẢ ẤY TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN TRONG TƯƠNG LAI CHÚNG TA PHẢI LÀM GÌ ?

I / Những điều cần phải làm:
Là Huynh trưởng chúng ta biết rằng: Lối cốt yếu vào đạo trước hết phải phát tâm, việc cần kíp trong sự tu hành, trước hết phải lập nguyện, có phát tâm mới mong độ chúng sanh, có lập nguyện mới kham thành Phật đạo.
Vậy nên Kinh Hoa Nghiêm nói:
“ Quên mất tâm bố đề mà tu các thiện pháp, gọi là hành động của ma. ”
Xem thế ta thấy phát tâm bồ đề của đối với người huynh trưởng vô cùng quan trọng, tâm bồ đề ấy là tâm sáng suốt quên mình để trên thì cầu Phật đạo, dưới cứu giúp mọi loài, hay nói tóm lại trong hai chữ Tu và Hành ”.
1 / TU:
Là sự mong cầu giải thoát cho bản thân mình, muốn thế ta phải thực hành 5 điều căn bản sau đây:
a / Phải học, phải nghiên cứu kinh điển, giáo lý.
Tìm hiểu lời dạy của Đức Phật, để tự tìm hiểu cho mình đức tánh từ bi, hỹ xã, nhẫn nhục để được tự tại trong lúc gặp nghịch cảnh, khó kgăn, nhờ có như vậy tín tâm của ta tăng trưởng. Và trí tuệ ngày càng phát triển, các anh chị tiền phong đã thành công cũng là nhờ huân tập một ít giáo lý, mà soạn được tài liệu cho đoàn sinh, đưa ra những dự án ích lợi cho tổ chức.
Trái lại người không tự học giáo lý, kinh điển ở trong tổ chức gia đình Phật giáo một thời gian sẽ thấy chán nản, vì tín tâm không vững, mà khả năng đã dùng hết mà chẳng được lợi ích gì, nên phải bỏ cuộc.
b / Phải tụng kinh niệm Phật.
Tụng kinh niệm phật để cho tâm trí được định tỉnh và thanh thoát, mọi ý nghỉ lăng xăng lắng dịu, ý niệm tốt nảy sinh, nhờ đó mà trí tuệ tăng trưởng.
Muốn việc tụng kinh niệm phật có kết quả, trước hết ta phải chú tâm, không để tâm phóng túng, mọi người chung quanh không lớn tiếng ôn ào, nếu lắng nghe càng tốt, như vậy tụng kinh là một hình thức thiền định, tạo một cảnh nhân gian tịnh độ, lợi mình, lợi người.
Trước đây ta nghiên cứu sách vở ở các nước như Tích Lan, Miến Điện, nam nử thanh niên đến tuổi trưởng thành đều phát nguyện vào chùa một thời gian rồi mới ra đời làm việc, lập gia đình, do đó xã hội của họ có phong tục tập quán và sinh hoạt thật tốt đẹp.
c / Nên tụng kinh bằng tiếng Việt.
Ngày xưa chữ hán là văn tự chính của nước ta, nên ai cũng có học và viết được, hiểu được. Ngày nay chữ hán đã được chữ Quốc ngữ thay thế, do đó mà ít ai còn học chữ hán, cho nên tụng kinh bằng chữ Hán thì nghe hay mà chẳng hiểu. Vì thế quí thầy đã tận lực dịch kinh từ chữ Hán, chữ Phạn, chữ Paly ra chữ Việt, nếu chúng ta vãn tụng kinh bằng chữ Hán, thì sẽ trái với Thánh ý vì: luôn luôn sợ rằng đạo của mình sẽ biến thành một sự sùng bái hão huyền. Đức Phật đã phán: ta truyền rằng: “ Mỗi người phải học giáo lý của ta trong ngôn ngữ của riêng mình ”.
Đức Phật nghi rằng qua bao thế kỷ loài người sẽ không còn biết được nguyên ngữ của các bản văn và chỉ còn ghi lại những chữ bí ẩn đối với họ. Và họ lại còn gán cho những chữ ấy một giá trị huyền bí, một năng lực thiêng liêng. Chính Đức Phật muốn tránh điều ấy cho đời sau và chúng ta nên tôn trọng Thánh ý của Ngài bằng cách suy luận từ ngữ Paly, chữ Phạn, chữ Hán để tìm hiểu nghĩa chính xác trong ngôn ngữ của chúng ta. Không giữ nguyên những câu bằng chữ Hán để đọc lên một cách trịnh trọng trong các buổi lễ mà Đức Phật đã tố giác là có hại cho sự tiến triển tinh thần của người phật tử (Trích trong bài khía cạnh ngôn ngữ học.Vạn hạnh số đặc biệt.Thành Đạo Đinh vị 1967). Như vậy tụng kinh ngoài việc làm cho tâm mình trở thành nhất niệm thuần chánh.Việc tìm hiểu nghĩa cao thâm của kinh cũng rất quan trọng.
Hiểu nghĩa để tăng thêm lòng tin, hiểu nghĩa để mở mang trí tuệ và dể thực hành lời dạy của Đức Phật mới mong giải thoát, do đó tụng kinh bằng tiếng Việt là điều vô cùng cần thiết.
d/ Không hoài nghi chán nản khi tụng kinh và gặp phải nghịch cảnh.
Thông thường khi gặp nạn ta hay tụng kinh để cầu an, nhưng trong nhiều trường hợp, tụng kinh lại gặp phiền não, tai nạn. Do đó nên hiểu rằng nếu chí thành tụng kinh, niệm Phật thì tội báo nặng thành nhẹ, oán được tiêu trừ nghiệp báo được sớm thể hiện trong đời này cho xong, để hưởng phước báo ngay trong hiện tại hoặc về sau. Là Huynh Trưởng ta phải giữ chánh tín, không nghi ngờ vì lời Phật dạy là con đường đưa đến chân lý, không thể nghỉ bàn.
e / Phải thân cận với vị bổn sư.
Chúng ta là một Phật Tử, đã quy y Phật, Pháp, Tăng nhận lấy một Pháp danh tức là tự nguyện suốt đời tu học, và thực hành giáo lý của Đức Phật, y chỉ theo vị bổn sư truyền giới.
Trong kinh Thiện Sinh, Đức Phật dạy rằng: (Người thọ ân giáo hóa nên phụng sự Tăng già bằng năm điều: Tiếp rước chí thành, niềm nở, hoan hỉ, cúng dường đồ nằm, đồ ăn, hộ vệ đung như chánh Pháp).
Thế ta luôn luôn gần gũi vị bổn sư, nếu có điều kiện thì giúp đỡ người để người có phương tiện tu hành, giáo hóa chúng sinh. Khi ta có chuyện không vui nên bộc bạch để nhận được ở người sự an ủi, giải quyết, vì người là kẻ thay mặc Như Lai. Chăm sóc tinh thần cho ta, thế mà có Phật tử suốt đời không biết đến bổn sư, thật trái với giới luật.
g / Điều căn bản nhất của người Phật tử là thân giáo:
Ta biết rằng hằng trăm lời giáo thuyết không bằng một hành động thực tế. Có thân giáo thì những lời giảng, lời dạy mới có kết quả. Là Huynh trưỏng chúng ta luôn luôn có sự chú ý của các bậc phụ huynh, của đồng đạo, bạn bè của các em. Cho nên ta phải tôn trọng trong cử chỉ và lời nói. Rèn luyện thân giáo không phải khó khăn, đó là việc giữ gìn Tam quy, ngũ giới và thực hành tứ nhiếp pháp trong đời sống hằng ngày của chúng ta.
II/Hành:
Là đem những hiểu biết của mình hướng dẫn người khác cùng tu học và thực hành giáo lý của đức Phật. Trong đạo Phật, hành có nghĩa là giáo hóa chúng sanh, trong phạm vi GĐPT, hành chính là việc thực hiện mục đích đào luyện thanh thiếu nhi trở thành một phật tử chơn chánh và góp phần xay dựng xã hội theo tinh thần phật giáo. Muốn thực hiện mục đích ấy có kết quả ta phải làm 5 điều sau đây:
1. Phải nhận thức trong trách nhiệm của mình:
Làm huynh trưởng không phải chỉ có trách nhiệm đối với chính mình, với các em, với tổ chức trong các buổi sinh hoạt, mà trách nhiệm ấy phải gánh suốt đời. Thực hiện tốt trách nhiệm ấy ta phải làm gì ? Trước hết phải hoạch định một chương trình tu học sinh hoạt hợp lý không tùy tiện.
Chương trình ấy phải phù hợp với cuộc sống hằng ngày của chúng ta, phù hợp với sinh hoạt hàng tuần hay bất thường của tổ chức, như thế ta khỏi lúng túng trong công việc, khỏi nhàm chán trong sinh hoạt. Phải luôn tìm hiểu học hỏi, sưu tầm để hướng dẫn cho các em và đóng góp cho tổ chức, có thế việc sinh hoạt mới có kết quả tốt.
Chuyên cần sinh hoạt là yếu tố quan trọng, sự có mặt thường xuyên của chúng ta gây sự tin tưởng cho các em, đừng để các em thất vọng khi chúng ta vắng mặt với những lý do không quan trọng. Có chuyên cần mới làm cho các em hiểu được ta yêu mến các em và say mê tổ chức GĐPT. Các em sẽ theo gương ta mà tiến bước trên con đường tu học.
Phải sâu sát đoàn sinh, để các em thấy rõ ta yêu mến các em chân thành. Sự sâu sát nầy sẽ tạo cho ta có cơ hội tìm hiểu tâm lý, hoàn cảnh của các em để việc giáo dục có kết quả hơn và cũng để giúp đở kịp thời khi các em gặp khó khăn, ngăn chặn kịp thời khi các em gặp lầm lổi. Đây cũng là bước thể hiện niềm tin cho phụ huynh. Đừng nghỉ rằng ta có trách nhiệm khi đến chùa mà thôi.

2 / Phải hiểu rằng khi phát nguyện làm Huynh trưởng là thực hành pháp thí của Chư Phật, Chư Bồ Tát

Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Thiện Siêu đang giảng Nhân Minh Luận cho phật tử Văn Nguyên Phương

Đức đệ nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết, Hòa Thưọng Ủy viên giáo dục Tăng, Ni Thích Thiện Siêu, Hòa Thương cố vấn giáo hạnh GĐPT Thích Đức Tâm đều dạy rằng: “ Sự góp công, góp của xây dựng chùa tháp, cúng dường tăng ni là quí hóa, nhưng sự cúng dường sau đây lại quí hóa hơn ”.
– Công khai hoặc âm thầm truyền bá Đạo pháp, đạo pháp mới tường tồn.
– Thường xuyên đến chùa từ trẻ đến già không quản ngại khó khăn là trực tiếp hoặc gián tiếp giúp cho đồng đạo giữ được tín tâm.
– Làm Huynh trưởng đào tạo một thế hệ trẻ nối tiếp đạo nghiệp của phụ huynh, những người nầy có đức tính dõng mãnh, tín tâm bất thối mới làm được.
3 / Cố gắng soạn thảo tài liệu tu học cho các em:
Trong kinh Tổ có nói: ‘ Y kinh hiểu nghĩa, Tam thế Phật oan, ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết ’. GĐPT cũng vậy, nếu huynh trưởng chỉ biết căn cứ và chương trình tu học mà dạy các em thôi, là thiếu sót, mà dạy ra ngoài chương trình lại càng lầm lỗi hơn. Do đó để tránh trình trạng ấy là phải vân dụng khả năng tu học, lấy chương trình tu học làm thân cây, còn những diển biến về tâm sinh lý của các em, về hoàn cảnh của xã hội, của sinh hoạt địa phương chính là cành, là lá, là hoa thêm vào cho cây sum sê kết trái.
Đừng ngừng ngại hay dở. Sự đóng góp của chúng ta sẽ là đóng góp vào kho tàn GĐPT ngày càng phong phú, sẽ được sửa chữa, bổ túc theo kịp tiến hóa của xã hội.

4 / Phổ biến kinh điển tài liệu học tập:
Đây là việc làm thể hiện đạo tình thắm thiết của chúng ta, vì thế ta nên khuyến khích các em nên nhịn bớt quà bánh để trước hết cho các em cúng dường tăng, ni, lui tới gần gũi bậc tu hành, gần gũi với chùa chiền, Sau đó các em có dịp thăm các anh chị trưởng cao niên, các anh chị em đoàn viên đau ốm, nếu được ta nên khuyến khích các em hàng tuần góp một lon gạo vài ba ngàn bạc để có dịp giúp đở các anh chị trưởng, các em nghèo túng, hoặc tai nạn, đau ốm. Đây không những là niềm an ủi trong tình đạo, mà cũng để chứng minh với mọi người cái tình đạo ấy, như lời Phật đã dạy:

Thường tôn trọng kính lễ
Bậc kỳ lão Tưởng thượng
Được tăng tưởng bốn pháp
Thọ sắc cái sức khỏe

Hoặc:
Tháng tháng lẻo ngàn vàng
Tế tự cả trăm ngàn
Chẳng bằng trong giây lát
Cúng dường bậc chân tu
Sự cúng dường như vậy
Hơn trăm năm tế tự
(Kinh Phát Cú)

III / Những điều nên tránh:
Là Huynh trưởng chúng ta phải ý thức tầm quan trọng của mình trong sự hưng vong của Phật giáo.
Trong kinh Đại Niết Bàn Phật có dạy: “ Nầy thiện năm tử, nếu Phật ra đời chứng vô thượng Bồ Đề, hàng đệ tử dầu có người hiểu nghĩa đại thừa rất sâu mà không có hàng Bạch y Đàn Việt hết lòng kính tín, tôn trọng Phật pháp, thì khi phật pháp diệt nền chánh pháp đó chẳng ở lâu nơi đời. Nếu có hàng Bạch Y Đàn Việt hết lòng kính tín phật pháp, Phật dầu nhập Niết Bàn, nhưng chánh pháp vẫn ở lâu nơi đời ”.(Phẩm Phạm Hạnh).
Lại trong Kinh ưu Bà Tắc giới, Đức Phật cũng tán thán: “ Bồ tát tại gia độ được nhiều người, Bồ tát xuất gia không được như vậy. Tại sao ? Nếu vì không có hàng tại gia thì không có hàng xuất gia. Trong ba thừa, tu tập giáo lý, trì giới tụng kinh, ngồi thiền định, đều do người tại gia là người trang nghiêm”. Hộ pháp (Phẩm lợi mình, lợi người).
Qua lời Phật dẫn dụ trên ta thấy rõ trách nhiệm của người Huynh trưởng đối với đạo pháp, hay nói hẹp là đối với tương lai của đàn em, tương lai ấy tốt đẹp hay không đều trông cậy vào những điều ta phải làm nêu trên, nhưng bên cạnh những điều phải làm, những điều ta phải tránh sau đây là những điều rất cần thiết:

1. Phải tôn trọng hành trì giới luật.
Đức Phật đã dạy: “ Khi ta nhập diệt rồi chính giới luật là người thầy dìu dắt các con trên đường tu học ”.Ta không giữ giới luật là ta không có thầy. Ngạn ngữ ta có câu: Không thầy đó mầy làm nên, làm sao mong cầu có nhân cách tương đối trong hiện tại và nhân cách viên mãn trong tương lai được. Phật tử sơ cơ chúng ta chỉ có năm giới căn bản là: Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không say sưa.
Sát hại, trộm cắp, tà dâm là ba giới ai cũng sợ. Còn nói dối, uống rượu nghe nhẹ hơn nên coi thường, vì thế nên Huynh trưởng hay mắc phải. Nhưng ta phải hiểu rằng giới luật liên quan mật thiết với nhau, nên có khi phạm một giới uống rượu, có thể đưa đần đến phạm năm giới mà ta không ngờ.
Ví dụ: Gặp bạn kéo nhau vào quán uống một ly mừng nhau, rồi vui miệng hai ly, ba ly, rồi say mềm. Thế là phạm giới uống rượu phạm luôn cả giới nói dối. Dối ai ?. Dối lời ta đã thề nguyện quy y, dối đồng đạo, dối cả vị Bổn sư truyền giới, dối luôn cả Đức Phật là phạm luôn cả Tam quy, rồi do rượu dẫn dắt, có khi gây ra cải nhau, đánh nhau (Phạm sát hại). Rồi do rượu có khi dẫn dắt làm những hành động dâm tà, rồi có khi do rượu dẫn dắt thèm quá mà không có tiền thì sinh ra trộm cắp. Nói thế không có nghĩa chúng ta tuyệt đối không uống. Nhưng phải thấy rõ hậu quả trầm trọng của nó mà hạn chế trong các tiệc vui, tiệc cưới để khỏi ân hận về sau.
Giới nói dối cũng thế, vì nó không hình tướng như bốn giới kia nên lại càng dể mắc phải. Nói dối tựu trung có bốn điều: Nói không đúng sự thật, nói độc ác, nói đâm thọc, nói hoa mĩ. Nói không đúng sự thật là điều ta hay vấp phải nhất. Đôi khi muốn cho câu chuyện thêm hấp dẫn, đậm đà ta bịa thêm cho thú vị, nhưng lại dẫn đến hai sai lầm lớn: Người nghe, nghe sai sự thật sẽ đâm ra nghi ngờ, khi biết được sự thật ta sẽ trở thành một tên nói láo, ai tin ta nữa.?
Lời nói thô ác là điểu rất kiên trong GĐPT chúng ta. Ta dạy các em từ bi, hỹ xã, hòa thuận, tin yêu, thế nhưng lời nói thô ác làm mất hết ý nghĩa giáo dục, lời nói thô ác có khi là do cái miệng quen nói, có khi do hành động và ý thức dẫn dắt cả hai cái đều tai hại như nhau. Phải cố tránh.
Lời nói thâm thọc lại càng tệ hơn. Ưa ai thì nói tốt, ghét ai thì nói xấu, có nói không, không nói có, gây xích mích thù hận giữa người nầy,với người khác.
Trong Kinh Điển nói: Về tội báo, thì tội phá hoại sự hòa hiệp đoàn thể chân chính là một trọng tội.
Lời nói hoa mĩ thường gây hiểu lầm không ít. Nói hoa mĩ để đề cao mình, hạ uy thế người khác, nói hoa mĩ để lấp việc mình không làm được. Nói hoa mĩ để che đậy cái xấu của mình, để người khác lầm tưởng mình trong sạch, thẳng thắng. Thật là bỉ ổi. Vì thế trong kinh Đại Niết Bàn Đức Phật dạy:
Nếu nói quá một pháp.
Đây gọi là vọng ngữ.
Chẳng những về đời sau.
Không ác nào không làm .
(phẩm tà hạnh).

Phẩm thế gian trong Kinh Phát Cú, thầy Minh Châu dịch:
“Ai phạm đạo nhất pháp.
Ai ưa lời vọng ngữ.
Ai không tin đời sau.
Không ác nào không làm”.

Phẩm Địa ngục:
“ Nói láo đọa địa ngục.
Có làm nói không làm.
Cả hai đồng nghiệp báo.
Chết làm người hạ tiện.”

2. Không buông thả tình cảm:
GĐPT là một tổ chức tình thương, tình thương như ruột thịt nên gọi là gia đình. Chúng ta vì tình thương các em nên hết lòng lo lắng cho tổ chức, tình thương của chúng ta là tình thương chân chính, nên có ba điều phải chú ý:
Đối với các em đừng thiên vị, đừng vì các em sạch sẽ khôi ngô mà ta nâng niu, đừng các em thông minh lanh lẹ mà ta chiều chuộng.
Trái lại ta phải vì các em bất hạnh, dùng tình thương bù đắp cái thiếu thốn của các em ấy.
Đối với đồng sự đừng vây phe cánh, luôn luôn chân thật, tìm hiểu nhau dìu dắt học hỏi nhau để tiến bước trên đường đạo.
Đối với tinh cảm gái trai. Trong GĐPT không cấm đoán mà rất tán thành các anh chị em tìm hiểu nhau, không gì hạnh phúc bằng hai người yêu nhau cùng chung lý tưởng. Nhưng nếu lợi dụng đoàn thể để trao đổi tình cảm bất chính GĐPT cương quyết kỷ luật.

3. Không để mất tín tâm:
Các em đến đoàn không phải vì hoàn toàn tin phật, tin vào mục đích GĐPT. tuổi các em đa số ham vui, vì vui mà đến với gia đình. Nhưng điều quan trọng nhất là các em tin chúng ta. Và từ chổ các em tin chúng ta, mà tin vào Tam bảo. Do đó chúng ta phải biết hướng dẫn cho các em có một niềm tin chân chính.
Muốn thế thì niềm tin của chúng ta trước hết là phải chánh tín Tam bảo thật vững chắc. Nhưng làm thế nào để có niềm tin vững chắc ? Điều tất yếu là chúng ta phải thực hiện tốt: Các điều nên làm và các điều nên tránh như đã nêu trên.

HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN SIÊU ĐÃ DẠY:

… Ai đó sa ngã trong Cần sa, Ma túy thì Gia Đình Phật Tử không có mặt ở đó, nơi nào cờ bạc rượu chè thì Đình Phật Tử không có mặt ở đó, nơi nào quán xá say sưa, ẩu đả, giành giật nhau thì Gia Đình Phật Tử không có mặt ở đó …

PHẦN KẾT.

Đôi lời tâm cảm.

Thưa quí bác, các anh chị em:
Đức Phật dạy: “ Chịu khó tu hành một thời gian ngắn trong đời nầy sẽ hưởng an lạc lâu dài về sau. Định luật nhân quả không bao gìơ sai và lời Chư Phật, Chư Tổ không bao giò hư dối ”.
Sự tu học của chúng ta nhằm mục đích xây dựng tương lai, cho các em, cho GĐPT, mà nói đến bốn chữ GĐPT thì liền đó xuất hiện ba chữ. Bi – Trí – Dũng.
Chúng ta không quên rằng GĐPT là một tổ chức giáo dục thanh thiếu nhi, lấy sự đào tạo “Con người tòan diện ” làm mục đích để tiến tới một xã hội Phật giáo “ Con người toàn diện ” mà chúng ta mong ước là con người đầy đủ ba phương diện: Tình cảm, lý trí và ý chí, nói cách khác có đủ Bi- Trí – Dũng, con người lý tưởng đó được thể hiện bằng hình ảnh Thái Tử Tất Đạt Đa, Phật Thích Ca, nhờ ba đức tính ấy mà từ địa vị của con người đã vượt lên địa vị của Phật. Sự vương lên của con người đến quả vị Phật tất nhiên không dễ, nhưng tất cả chúng ta đều có Phật tính, nên đều có triển vọng bước đến cỏi Phật, triển vọng ấy nhiều hay ít tùy sự phát triển nhiều hay ít cái tinh thần Bi Trí Dũng của chúng ta.
Như vậy Bi Trí Dũng là ba yếu tố căn bản để thành Phật, trong khi chờ đợi để thành Phật thì đó cũng là ba yếu tố để thành người, mà học để thành người không phải dễ, đó chính là lý tưởng nền giáo dục của GĐPT chúng ta. Tóm lại Bi Trí Dũng không những có giá trị tuyệt đối với khá khứ, hiện tại, mà cả tương lai, nó cũng là con đường độc nhất để đào tạo nhân cách con người. Bi Trí Dũng là châm ngôn của GĐPT. Bốn chữ GĐPT gắn liền với ba chữ Bi Trí Dũng không tách rời, thì giá trị của GĐPT cũng gắn liền với ba chữ Bi Trí Dũng. Không tách rời trong quá khứ, hiện tại, và chắc chắn cả trong tương lai.
Thưa quí bác, quí anh chị em:
Con người không ai tránh khỏi Sinh, Già, Bệnh, Chết, chết đi là được yên tâm, khi thấy lý tưởng của mình được phát triển và trưởng thành thì sung sướng biết bao. Một mai khi vĩnh viển chia tay các anh chị em.
Tôi chỉ muốn anh chị em chúng ta đừng thấy khó mà sờn lòng, đừng thấy dễ mà khinh thị, mà tự mãn, đừng thấy suy mà chán chường như :

Ngài Vạn Hạnh Thiền Sư đã dạy:
Xuân chốn Thiền gia sau đây.
Mãn đời phiêu bạc đi tìm mùa xuân đích thực. Hóa ra mùa xuân chỉ có trong cảnh giới thiền của Phật giáo, một mùa xuân phi không gian, phi thời gian, đó là mùa xuân nằm ngoài cuộc thịnh suy phù phiếm của trí nhân như bài kệ sau đây của Ngài.
Thân như điện ảnh hửu hoàn vô.
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô.
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy.
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

Thượng Tọa Thích Mật Thể: dịch.
Thân như bóng chớp có rồi không.
Cỏ xuân tươi tốt thu qua đượm nồng
Mặc cuộc thịnh suy không sợ hải
Thịnh suy như cỏ hạt sương đông.

Đợi gì hoa nở mới là mùa xuân, cần chi sang giàu mới có mùa xuân. Bậc đại nhân thông dung giũ áo xinh xoan, bước ra ngoài càn, khôn mà hưỏng xuân.
Người Huynh trưỏng phải dành thời gian ngồi thiền và quán niệm.
Phải luôn luôn theo Ngài Phú Lâu Na Tôn Giả, nổ lực vượt mọi khó khăn để đạt mục đích. Mục đích ấy thể hiện bằng lời phát nguyện của Ngài A Nan trong kinh Lăng Nghiêm mà chúng ta dùng làm lời phát nguyện cho bản thân mình. “Ngủ trược, ác thế thệ tiên nhập, như nhất chúng sanh vị thành Phật. Chung bất ư thử thủ nê hoàn”
Đến đây tâm sự đã dài, tôi xin chúc quí bác quí anh chị em, tinh tấn, dõng mãnh trên con đường phụng sự lý tưởng của tổ chức GĐPT của chúng ta./.
Phải trang bị cho đội ngủ Huynh trưởng “Có tinh thần vô ngã ”.

Vì sao ?
Vì: Ở trên đời nầy, người “ Có sức mạnh nhất không phải là người có súng đạn, người có sức mạnh nhất không phải là người có nhà tù, người có sức mạnh nhất không phải là người có nhiều võ thuật.
Mà người có sức mạnh nhất ở trong đời nầy là người dám nhận cái lổi của mình, dám lắng nghe người khác chỉ lổi mình. Người nào có khả năng nhận lổi của mình, thấy sai lầm của mình và biết lắng nghe người khác chỉ lổi của mình. Người đó là người có sức mạnh phi thường, sức mạnh đó được trang bị từ “ Tinh thần vô ngã ”.
Lời Tâm Sự nầy quí bác, quí anh chị nghiên cứu, để giáo dục trong GĐPT. Hoặc gặp trường hợp khó khăn mà không thể đào tạo Huynh trưởng được.
NIỀM TIN VÀ HY VỌNG.

Mở mắt chào đời trong kiếp phù du bể khổ, rồi lớn lên 12 tuổi thưa ba má cho con đến với gia đình.
Thế rồi được khai sinh trong tổ chức ĐPT, từ đó đến nay cứ liên tục tu học và sinh hoạt trong tổ chức Áo lam nầy, chỉ mong làm một đoàn sinh trong GĐPT và thực hành đúng năm điều luật đó là diễm phúc cho cả cuộc đời lắm rồi.
Nhưng trong quá trình tu học và sinh hoạt đã nhận biết bao thế hệ đàn anh đi trước, nên từ chổ đứng mong đợi không phải là đích. Bởi vì trong quá trình tu học, sinh hoạt, phụng sự lý tưởng vì đàn em mai sau đã thôi thúc phải đứng ra làm người anh người chị, rồi từ đó làm một Huynh trưởng Tập sự tuân thủ theo kỷ cương của tổ chức bước vào nghề và đã phát nguyện suốt đời chấp nhận yêu nghề dạy trẻ, phụng sự đạo pháp, xây dựng giáo hội.
Trong suốt 45 năm qua cho đến hôm nay, kiễm chứng chưa có một điều gì cố ý sai phạm với Giáo hội và lý tưởng của mình, mặt dù đã có những lỗi lầm nhỏ nhoi trong sinh hoạt ở đời thường không làm sao tránh khỏi, nhưng nhờ giáo lý của Đức Phật soi sáng đều đã vượt qua. Giờ đây cắp sổ đến chùa cứ mỗi lân vào lớp học thì nước mắt tuông trào, khi nhận được quí Ôn, quí Thầy thương mến, quí anh Nguyễn Sỉ Thiều, Phan Xuân Sanh, Lê Quả, Nguyễn Xuân Tín, Nguyễn Đắc Thanh, Lê Văn Thi trong Ban Quản Trại đang lo cho lớp học từng giờ từng phút, tuổi các anh xấp xỉ ngoài 75 niên già yếu đi quá nhiều rồi.
Trong lớp học thì có anh Tôn Thất Quỳnh Nam, Lê Giáo, Nguyễn Tất Trực, Châu lộc, Võ Phước Tề, chị Bùi thị Tuyết v.v… Từ tóc xanh đã sang màu bạc trắng cùng ngồi bên nhau cùng chung bài học, cùng được nghe quý Ôn, quí Thầy giảng dạy giáo lý, và tinh thần của tổ chức suốt trong hai năm qua, tại chùa Từ Đàm Huế.
Hôm nay khai mạc trại lại tổ chức tại Tổ Đình Chùa Từ Hiếu trong 26 trại sinh tham dự gồm bốn thế hệ nầy. Bởi ngày nào qúi anh. Nam, Giáo, Trực, Cầu làm Ban Quản Trại và giảng viên trong các trại huấn luyện cho mình, giờ đây đang lại ngồi chung trong lớp học Trại Vạn Hạnh IV. Ôi mầu nhiệm thay tổ chức GĐPT (Tổ chức Áo Lam).
Xin kính cẩn nghiên mình đảnh lễ quí Ngàì cao tăng, hàng giáo phẩm, quí anh chị đi trước thật vô cùng uyên bác đã sáng lập xây dựng nên tổ chức GĐPT để các thế hệ sau được truyền thừa di sản quí báu nầy, của một tổ chức vốn có Tôn Tri mà pháp luật của nó là Nội quy và Quy chế Huynh trưởng.
Chỉ mong rằng những chuổi ngày còn lại của đời mình phải nương theo giáo lý Phật Đà và lời dạy của Chư Tổ để tu học, xây dựng đạo pháp, xây dựng dân tộc, phụng sự lý tưởng tổ chức GĐPT đến hơi thở cuối cùng…

Những câu kinh pháp cú, câu đối, văn xuôi. Qua tu học và sinh hoạt cả Đạo lẫn Đời đã chọn lọc sau đây :

*****&****
” Không một hương hoa nào bay ngược chiều gió thổi
Chỉ có hương người đức hạnh bay ngược gió muôn phương”
(Kinh tán thán)

****&****
” Mạc đãi lão lai phương niệm phật
Cô phần đa thị thiếu niên nhơn”

Dịch là:

Chớ để tuổi già rồi niệm phật, nhìn ra ngoài nghĩa địa ta thấy mồ mã rất nhiều của hàng thiếu niên.

* * *
“Mộc dục dưỡng nhi phong bất đình
Tử dục dưỡng nhi thân bất toại”

Dịch là:

Cây muốn lặn mà gió chẳng ngừng, con muốn nuôi cha mẹ để báo hiếu nhưng cha mẹ không còn nữa.

* * *

* Tối 30 Khuôn Giáo Hội lễ sám hối, phân công quí bác trực đón giao thừa tại tượng đài Quan Âm Cát, Giáp.

* Sáng mồng một quí đạo hửu, Gia Đình Phật Tử đến chùa lễ Phật, chúc mừng xuân Di Lạc hái lộc đầu năm. Thân
.
( Mừng xuân Di Lạc, tặng ban thường trực Khuôn hội trực đón giao thừa năm Giáp thân. 2004)

——&——

* Tốt đời ra sức xây dựng quê hương, văn minh rạng ngời tươi sáng.
* Đẹp đạo trau dồi trí tuệ xiển dương, Chánh pháp tỏa khắp muôn phương

——&——
* Vinh nhục buồn vui sướng khổ lẽ sống của muôn loài.
* Ốm đau bệnh tật rủi may vô thường là thế đó.

( Bác Châu tặng Nguyên phương trong lúc mỗ gai cột sốngtại Bệnh viện Y khoa Huế, Mùa Vu Lan, 2004)

——&——

Thiên bách niên lai yuển lý canh.
Oan sâu như biển hận nan bình.
Dục tri thế sự đao binh kiếp.
Thí thính đồ môn dạ bán thanh.

Dịch

Trăm ngàn năn trước trông bác canh.
Oan sâu như biển hận không nguôi.
Chớ hỏi thế gian sao giặc mãi.
Hãy nghe lò sét tiếng gào đêm thâu
Kệ Kinh.

——&——

* Xây dựng Giang sơn kiến tạo Đình Trung tân cốt cách.

* Giữ gìn phong tục bảo tồn Đền, Miếu cỗ tinh hoa.
( Cảm tác sau khi xây dựng Đình làng Bằng xong)
——&——

Bất nhất lao, bất cửu dật, bất phạn phí, bất vĩnh ninh.

Dịch

Nếu không chịu khó bỏ công sức, tiền của trong một thời gian nhất định.
Thì không bảo đảm an ninh vĩnh viễn lâu dài.

——&——
Hỏi nước
Nhìn làn nước đẹp, xin hỏi thử xem thân phận thế nào ? Khi lỏng thì lỏng thế, khi đặc lại đặc thay, mong nước giải bày cho người được rõ.

Nước trả lời
Bản tính của Em đây, khi lỏng có khi đặc, khi dỡ có khi hay, khi rủi có khi may, cuộc thế xoay vần lại, trời cho cũng có ngày.

——&——
Đừng sợ chết
* Thân thể thấy nặng nề, cơn đau làm khó chịu, gọi là bệnh thế gian, chúng sanh ai cũng vậy.
* Tinh thần rất thanh thoát, an lạc chốn thuyền môn, có gì mà suy nghĩ, việc phải, làm, cứ làm
( nằm Bệnh viện Huế năm 2003)

——&——

* Thân mạng tiền tài danh vọng sắc hương có rồi không, như hạt sương trên cỏ sớm còn tối mất, luật vô thường lặng lẽ ra đi mấy ai dành lại được.

* Tinh thần thanh thoát an lạc chốn Thiền Môn có gì mà suy nghĩ, việc phải, làm, cứ làm, Phật tử Chánh tín tỏ ngộ như thế vào pháp môn không hai.
( Tặng bác Tâm Ninh khi nghe tin bác mất tiền của vào năm 2003)

——&——

“Đạo đức ở đâu
Thì cõi phật ở đó”

****&****

Sư tử trùng trung
Tự thực Sư tử nhục.

* * *

“Tất cả của quý ở thế gian đều mất
Chỉ có đời sống chân chính là kho báu bất diệt”

——-&——-

“Quân tử ưu đạo bất ưu bần”
Dịch là:

Người quân tử sợ mất cái đạo, không bao giờ sợ nghèo khó.

——-&——-

“Lông kê hửu thực thang oa cận
Dạ hạt vô lương thiên địa khang”

Dịch là:

Con gà nhốt ở trong lồng, tuy có lương thực chu cấp hàng ngày đầy đủ, nhưng nồi nước sôi và cây dao sắt bén kề bên cái cổ.
Con chim hạt bay ngoài đồng nội không ai đem lương thực cho ăn, nhưng thấy trời đất rộng thênh thang, tự do mà vẫn không bị chết đói.

——&——

“Học hỏi kinh nghiệm của mọi người, nhưng hãy tự chỉ huy mình”

——&——

“Nhất nhơn tác phước thiên nhơn hưởng
Độc thọ khai hoa vạn thụ hương”

Dịch là:

Một người làm phước ngàn người được hưởng
Một bông hoa trổ cả vườn hoa thơm lây

——&——

“Người cao thượng là người không bao giờ làm một điều gì để hạ thấp người khác”

——&——

“Nói đương sướng miệng mà nín ngay được
ý đương hớn hở mà thu hẳn được
Tức giận ham mê đương sôi nổi mà trừ được
Không phải người kiên nhẫn thì không tài nào được như thế”.

——&——

” Người biết đạo tất không khoe
Người biết nghĩa tất không tham
Người biết đức tất không thích tiếng tăm lừng lẫy”

——-&——-

“Không vấp ngã trong cuộc sống là rất tốt
Nhưng ngã rồi mà đứng dậy thì tốt hơn nhiều”

“Người bạn cùng chí hướng thật sự, không thể giận nhau lâu, khi nào đó họ lại kết thân”

——-&——-

“Hạnh phúc thay người nào nghe lời chê bai, biết tận dụng nó để sửa mình”

——&——

“Không giận hờn”

Giận hờn là một tánh xấu, như ngọn lửa dữ, vừa đốt cháy mình lẫn người chung quanh.
Một phút giận hờn nổi lên thì trăm nghìn cửa nghiệp chướng đều mở.
Lửa tức giận một phen phát ra liền đốt cháy cả rừng công đức.

——–&———

“Mục đích của giáo dục không phải dạy cho trẻ hiểu nhiều biết rộng, mà dạy cho trẻ biết hành động”

———&———

“Sông cũng như người, thỉnh thoảng lại thay đổi tính nết, trong sáng thì xanh, còn ảm đạm thì tối tăm lại”

“Người đàn bà ngu nhất, có thể điều khiển được một người chồng thông minh.
Nhưng phải là người đàn bà thật khôn khéo mới trị nổi một anh chồng ngu”

——–&——-

“Không có quyển sách nào là sách có đạo dức, hay không có đạo đức.
Sách viết hay hoạc dở chỉ có thế thôi”

——&——-

“Một bức thư tình đối với người yêu có gì đẹp bằng: Trái lại không còn có gì đáng buồn cười hơn đối với kẻ bàn quan.
Bởi vậy cầu nguyện với kẻ vô tín ngưỡng là một trò cười; chỉ có bậc Thánh mới hiểu rõ giá trị của nó mà thôi:”

——&——

“Người hiền đi tìm ánh sáng,
Nhưng chính thằng khùng cung cấp cho”

——–&——–

“Con đường của nghịch luận – là con đường của chân lý”

——–&——–

“Bất cứ ai đều là một thằng chí ngu, ít nhất cũng năm phút trong ngày.
Bật hiền thánh là kẽ giữ được kỹ lục ấy là không cho vượt qua”

——&——

“ Qua mãn trùng biên nhi hửu trương phu tri ngã khổ
Giá sinh trúc bạn ư như quân tử thất ngô cam”.

Dịch là:

Cây khổ qua (mướp đắn) trồng một bên cây trùng, chỉ có cây trùng biết cây khổ qua là đắng.
Cây giá (mía) trồng một bên cây trúc, chỉ có cây trúc biết cây giá (mía) là ngọt.

——&——

” Cứu được một người lớn chỉ cứu được một người
Cứu được một người trẻ nhỏ là cứu được một bản tính nhân”

——&——

” Giới là phao nổi vượt qua bể khổ, là ngọc anh lạc để trang nghiêm pháp thân.”
Giới là bậc đại sư của các người, nếu ta ở đời cũng không khác giới vậy…
Kinh Di Giáo

——&——

” Người tu hành muốn sớm dẹp phiền não phải xa rời những chổ ồn ào, thường ở cảnh vắng lặng tu các hạnh Đầu Đà.”

——&——
.
Ở đời ai nghèo đến nổi không có thân thấy người làm phước, nên tự thân đến giúp, như vậy cũng gọi là thí chủ, cũng được phước đức”

——&——

” Người mê sẽ nhờ học mà tỉnh, người ngu sẽ nhờ học mà sáng suốt, nhờ học mà có thể sửa mình và chỉ đường cho mọi người.”

——&——

” Ngày ngày nhà sư cầu kinh tụng niệm mong sao lên cỏi niết bàn thoát tục.
Tuy không đem lại cho đời viên đạn làm nên bạo lực.
Nhưng để lại cho người điều thiện trong tâm”

——&——

Mục đích của Phật Pháp

Giải thích cuộc đời với sự thống khổ
Chỉ bày phương pháp thoát khổ
Đem lại an vui cho cuộc đời hiện tại và tương lai.

——&——

” Này các đệ tử, ta chỉ dạy có một đều là sự đau khổ, và cách giải thoát sự đau khổ”
Lời phật dạy

——&——

” Quân tử di giao đạm nhược thuỷ
Tiểu nhơn di giao cam nhi di”

Dịch là:

Người quân tử nói chuyện với nhau rất ít như nước lã nhưng lại rất chắc chắn.
Kẻ tiểu nhân nói chuyện ngọt như đường mật, nhưng con ruồi đậu vào sẽ chết ngay.

——&——

Phong lai sơ trúc, phong khái nhị trúc bất lưu thanh
Nhạn qúa hàn đàm, nhạn khứ nhi đàm vô ảnh hiện
Thị cố quân tử sự lai nhi tâm thể hiện, sự khứ nhi tâm tuỳ không

Dịch là:

Gió qua cành trúc, gió qua rồi trúc lại bặt im
Nhạn bay qua đồng bóng nhạn in hình đáy nước, nhạn qua rồi bóng nhạn tìm đâu
Người quân tử khi gặp việc nói lăng xăng cho vui, nói rồi tâm lại thảnh thơi không bận rộn chi cả…

——&——

“Đi trong cõi mộng ta đừng mộng
Đứng giữa đất trời chẳng hướng trông
Ngồi đây soi bóng mình qua lại
Nằm ngủ mơ màng nhớ tánh không”

——&——

Tứ oai nghi
Đi với người say tâm chẳng động
Đứng giữa chự đời thấy như không
Ngồi xem thế sự như giấc mộng
Nằm bên tà ái chẳng thèm trông.

————&———— –

“Đi đứng nằm ngồi tâm chánh niệm
Ra vào cười nói tướng đoan nghiêm”

——-&———

Người phụ nữ đoan chính. Nói năng trao nhã, cử chỉ dịu dàng, đứng lên ngồi xuống không sàn, không mất khuôn phép.

——&——
“Lão ô bách tuế, bất như phượng hoàng sơ sinh”

Dịch là:

Con chim quạ dù sống trăm tuổi, cũng không bằng chim phượng hoàng mới sinh.

Bài thơ tặng đoàn thiếu niên
GĐPT An Bằng năm 1970

Thập nhật thu này báo thiếu niên
Lịch trình ghi rõ bao ngày tháng
Ca vang chìm nổi cảnh u sầu
Diếp đem thân ý đi tìm đạo
Ác lại đổi thay ý chí tu
Bệ vàng cao quý trên trần thế
Kiều văn hoa lý chẳng có duyên
Trần thêm lắm chuyện bày gian khổ
Như không thống nhất bỏ ra đi
A hay khuyên nhủ tình huynh đệ
Nan khó lắm điều cũng vượt qua
Nhị công hai việc kiêm đoàn trưởng
Ý – Chí không sai phó đã giao
Hề, Chề, Tuân, Dũng, Tâm đầu đội
Xuân, Phiên, Đẩu, Đã, Bảng phó làm
Đoàn ta sinh hoạt theo cương kỹ
Thiếu vẫn không sờn dũng tiến lên
Niên biên sử còn ghi dấu ấn
Thực tại bây giờ đã rõ ràng
Hiện diện hôm nay là kết qủa
Trên đời không quý, quý tình lam
Báo ân, báo đức thật trung thành
Hương thơm ngào ngạt lòng thành kính
Lam hiền lam đẹp thiếu niên an.

Ý của thơ gồm có 5 đội của đoàn thiếu niên hồi đó là: Thập lịch, Ca diếp, Ác bệ, Kiều Trần Như, và A Nan.
Trong đoàn có một đoàn trưởng là: Nhị, 2 đoàn phó là Ý và Chí.
Có 5 đội trưởng là: Hề, Chề, Tuân, Dũng, Tâm.
Và 5 đội phó: Xuân, Phiên, Đẩu, Đã, Bảng.
Do: Đoàn thiếu niên thực hiện trên báo Hương lam.
“Cách đọc: Thập lịch, Ca diếp, Ác bệ, Kiều trần như, A nan, Nhị, Ý, Chí, Hề, Chề, Tuân, Dũng, Tâm, Xuân, Phiên, Đẩu, Đã, Bảng, Đoàn, Thiếu, Niên, Thực, hiện, trên, báo, hương, lam”.

——&——

Thử vận hội thử trao phùng thị nhất đường
chính nghĩa.
Kim lao động kim vinh quang sử lịch thời
trung hiếu.

Giải:

Bất cứ thời cuộc nào cũng gặp gỡ để trao phùng, nhưng con đường chính nghĩa phải giữ trong tâm.
Tiền lao động tự tay làm ra là vinh quang, lịch sử nào cũng lấy trung hiếu làm đầu.

——&——

Dĩ sắc sanh tâm, quy hành phục pháp.

Giải:

Nhìn thấy cảnh sắc ở trong
Là nhìn thấy việc làm của con người ấy, họ làm việc hằng ngày như thế nào.

Pháp ở đây là xem công việc hiện hữu chứ không phải phật pháp là nhiều vấn đề.

Dâng Mẹ

Nhìn xem trời đã vào xuân
Gió xuân tươi mát mà lòng thấy đau
Âm dương chỉ có nhịp cầu
Mẹ hiền đã mất còn đâu nắng vàng
Bây giờ quấn chiếc khăn tang
Ngồi bên ảnh mẹ hai hàng lệ rơi
Ngày xưa mẹ dặn mấy lời
Mai sau khôn lớn nên người nghe con
Nghĩa ân là ngọc là vàng
Thuận hoà vi quý giàu sang sánh gì.
Xuân Kỹ Mão 24/1
Tâm Nguyên An.

——–&——-

Xe hoa diễn hành lễ Phật Đản

Sách Đại Học nói rằng
“Quân tử bất xuất gia nhi thành giáo”

Nghĩa là:

Bậc quân tử tuy không ra khỏi nhà giáo hoá ai, nhưng cách cư xử trong gia đình có thể làm khuôn mẫu cho người trong nước.

——&——

Niềm tự ái, làm mất hạnh phúc. Dẹp bỏ niềm tự ái là an lạc, hạnh phúc
Câu chuyện sau đây để chứng nghiệm
Quý vị xem Leo Đồi Thế Kỷ của Thích Nhất Hạnh. Cuối trang 26 câu linh chú thứ tư đến 31,qua mẫu chuyện trên rõ nét bài thơ:

Miếu Vợ Chàng Trương
“Của Vua Lê Thánh Tôn”

Nghi ngút đầu ghềnh toả khói hương
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương
Ngọn đèn dù tắt đừng nghe trẻ
Làn nước chi cho lụy đến nàng
Chứng quả có đôi vần nhật nguyệt
Giải oan chi mượn đến đàn tràng
Qua đây mới biết nguồn cơn ấy
Khá trách chàng Trương quá phủ phàng.
* * *

Ngày xuân nắng ấm tươi cười
Chúc mùa xuân đẹp muôn người ngát hương
Viếng Tổ Đình Từ Hiếu Xuân Kỹ Mão.

——&——

* Nâng chén trà xuân, một thoáng mây bay
Người ơi ! thương thêm kỹ niệm
* Nghiên bầu rượu tết, ngàn năm nước chảy,
Bạn hởi nhớ mãi tri âm.
Thuyết nghiệp

Thuyết nghiệp của phật giáo không phải là định mệnh.
Nhiều người cho rằng nghiệp là định mệnh, là số mạng của con người phải gánh chịu, do loài người mắc tội tổ tông. Đối với phật giáo không phải là như vậy.

Kinh hạt muối dẫn dụ như sau:
Tăng chi 1 – 184 – 86 – 87- 88

Trong kinh Phật đã khéo dùng ảnh dụ hạt muối để so sánh hai trường hợp sau:

1 – Một nhúm muối nhỏ bỏ vào một chén nước nhỏ làm cho nước trong chén hoá mặn không uống được.
Nhưng cũng nhúm muối nhỏ như vậy ném xuống sông Hằng Hà nước sông Hằng Hà vẫn không bị mặn vẫn có thể uống được.

Cũng như vậy

2 – Đối với người có tâm địa nhỏ hẹp như chén nước nhỏ, không tu tập tâm giới đức, thì một nghiệp ác nhr cũng đủ làm cho người đó khổ sở đến mức không chịu đựng được.
Cũng như một người chỉ nợ một đồng tiền, 5 đồng tiền tới 100 đồng tiền mà phải ngồi tù, bởi vì quá nghèo không thể trả được.
Một người khác cũng nợ một đồng, 5 đồng, 100 đồng. Nhưng không ngồi tù, vì anh ta giàu có nợ bao nhiêu trả hết bấy nhiêu…

*****&****

Tìm hiểu Phật Pháp

“Những gì mà Đức Thích Ca diển đạt dưới bóng cây cội Bồ đề”

Nếu Đức Phật có ý định dạy này, với cấu trúc cực kỳ phức tạp, và giàu tính chất triết học thâm thuý của nó thì người trần mắt thịt làm sao hiểu nổi. Ngài hiểu rằng cần phải làm cho pháp này dễ hiểu đối với tất cả những kẻ hửu tử đang là nạn nhân của đau khổ.
Điều đầu tiên ngài phải làm là dạy họ đạo cứu khổ, những khổ đau ấy: Đó là đức Phật Thích Ca đến với như một lương y siêu phàm và thuyết giảng những pháp và lý khác nhau, tuỳ theo triệu chứng của những con bệnh, các giáo lý của ngài cùng với các diễn giải và luận bàn kèm theo do các tín đồ của ngài soạn nhanh chóng trở thành giáo lý của 84 ngàn quyển kinh.
Đây là một điểm quan trọng để hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của đức Phật Thích Ca. Tất nhiên, ngài đã là một nhà triết học, và tư tưởng kiệt xuất. tuy thế khi đọc các kinh điển khác nhau, ta có thể dễ dàng nhận ra rằng ngài không chỉ giản đơn là một nhà triết học, mà còn là một lãnh tụ tôn giáo lớn tầm cỡ vô song.
Có thể khẳn định chắc chắn rằng, ngài là một chuyên gia dẫn dắt nhân loại, một nhà giáo dục đại tài trong trường đời, một thầy thuốc, bậc thầy có thể chữa khỏi căn bệnh của thế gian. Cần phải khắc sâu trong tâm khảm hình ảnh này của người, nếu không ta sẽ lúng túng trước một tư liệu khổng lồ nói trên, về đề tài chính giác vô thượng của Ngài và hàng loạt các diễn giải mà chúng ta đưa ra để nghiên cứu học tập.
Phật giáo công nhận mười cảnh giới sinh mạng ” thập giới” theo thứ tự từ thấp lên cao như sau:
1- Địa ngục
2- Ngạ quỹ
3- Súc sanh
4- ATULA (hoặc phi nhơn)
5- Nhân
6- Thiên
7- Thanh Văn
8- Duyên giác
9- Bồ Tác
10- Phật
Các cảnh sắc trên đây: Cảnh giới Phật đạt được nhờ sự chính giác là cảnh thức duy nhất của sự sống mà có thể thay đổi số phận con người và mở ra một tương lai vô tận cho họ.
Đó chính là điều vì sao, sau khi chứng quả chân lý Đức Thích Ca đã giành phần còn lại của mình cho chân lý đó, quả chính giác ngài đạt được là chân lý cao nhất.
(Nhà xuất bản sự thật Hà Nội năm 1996)
“Pháp không có cao, thấp. Nếu rỏ được nguồn chơn là Diệu pháp.
Thuốc không cần tốt xấu. Hễ lành bệnh là thuốc hay.”

Phiên họp bàn về việc xây dựng Tượng Đài QTA Bô Tát tại Bãi biển Làng An Bằng

PHẦN II PHỤ LỤC
Tượng Phật Ngọc Từ Thái Lan đến Việt Nam

THUYẾT MINH CHIÊM BÁI TÔN TƯỢNG PHẬT NGỌC CHO HÒA BÌNH THẾ GIỚI
ĐƯỢC CUNG NGHINH VỀ VIỆT NAM (NGŨ HÀNH SƠN – ĐÀ NẲNG)
—————-*—————
Pho tượng Phật Ngọc câu chuyện thần kỳ của thế kỷ 21.

Đúng vào năm cuối niên kỷ thứ 2, tại đất nước Canada, đã phát hiện ra một khối ngọc thạch vĩ đại nhất từ xưa đến nay, Khối ngọc thạch với màu xanh rực rở, hoàn toàn không tì vết, đã làm cho toàn thế giới phải kinh nhạc.

Nguyên khối Ngọc thạch nặng 18 tấn được gọi tên lả Polar Pride có nghĩa là (niềm kiêu hãnh của Bắc cực). Khối ngọc được một nhà nghiên cứu đá quí lừng danh thế giới, ông Fred ward khẳng định đây là một trong những “phát hiện quí gía nhất của thiên niên kỷ”.
Sau khi khối ngọc “Polar Pride” được tìm thấy, người ta hỏi ông Kỉk Mkeepeace giám đốc công ty khai thác ngọc rằng ông sẽ làm gì với khối ngọc nầy, ông trả lời “tôi sẽ để thế giới quyết định”.
Trong thế giới tâm linh, người ta thường tin rằng Ngọc thạch chứa đựng ngồn năng lượng linh thiêng phi thường. Trước đó không lâu, Lạt ma Zopa Rinpoche đã nằm mộng thấy một khối ngọc bừng sáng trên đất Canada, nên khi hay tin phát hiện khối ngọc thạch, vị Lạt ma nầy đã khuyến phát phật tử là ông Ian Green đã hết sức hoan hỷ phụng hành. Thân phụ của ông nầy trước đã cúng dường 50 mẫu đất ở Úc , cho vị Lạt ma Yeshe để kiến lập một trung tâm Phật Giáo đặt tên là Atisha. Tại đây một ngôi Đại Bảo Tháp Từ Bi được xây dựng , chính tại đạo tràng nầy pho tượng Phật Ngọc nầy với dự kiến sẽ được tôn trí trong Bảo Tháp Đại Từ Bi – Mahabohi – Stupa.
Theo giòng thời gian mọi việc thực hiện đều được thuận lợi thông suốt. Đến cuối năm 2006 khối Ngọc Polar Pride từ Vancouver – Canada chuyển đến thủ đô Bangkok, Thái lan. Trong năm 2007, các vị Lạt ma Ringpoche Jonothon Pratridge và các nhà nghiên cứu mỹ thuật đã phát thảo, điều chỉnh nhiều lần mô hình sẽ điêu khắc, theo khuôn mẫu của tượng Đức Phật Thích Ca được tôn thờ trong Bảo Tháp Đại Giác Ngộ ở Thánh Địa Bồ Đề Đạo Tràng – Ấn Độ.
Trong năm 2007, các vị Lạt ma Zopa ringpoche Jonothon Patridge và các nhà nghiên cứu mỹ thuật đã phát thảo, điều chỉnh nhiều lần mô hình sẽ điêu khắc, theo khuôn mẫu của tượng Đức Phật Thích Ca được tôn thờ bên trong Bảo Tháp Đại Giác Ngộ ở Thánh Địa Bồ Đề Đạo Tràng – Ấn Độ.
Đến đầu năm 2008, những nghệ nhân điêu khắc Thái lan thuộc công ty Jade ThongTavee thực hiện theo mẫu đã chấp thuận.
Pho tượng Phật Ngọc đến nay đã được hoàn thành viên mãn và tiến hành các nghi lễ chú nguyện vào tháng 12-2008. Pho tượng với chiều cao 4m8 có trọng lượng 5 tấn, được xem là một trong những pho tượng Phật Ngọc lớn nhất và trang nghiêm nhất thế giới. Được tôn vinh là “Phật Ngọc cho hòa bình thế giới”, sẽ được cung nghinh vòng quanh thế giới. Cuộc rước Phật Ngọc do trung tâm Phật giáo Atisha (Úc), khởi xướng và hợp tác với các Đạo tràng tại nhiều nước thực hiện. Mục đích của việc cung nghinh tôn giáo, tất cả điều có thể tới tham dự, miễn là chúng ta dành một chút thời gian để chiêm bái, chúng ta có dịp thấy rõ hơn về giá trị của hòa bình, để cầu nguyện Phật Ngọc và Xá Lợi Phật, sẽ đem lại hòa bình cho thế giới, bình an cho các mối quan hệ, bình yên cho gia đình và bè bạn, bình an trong công sở và thanh thản trong tâm hồn.

Theo sau Việt Nam, Phật Ngọc nầy sẽ được cung thỉnh đến tại các nước trên thế giới: Thành phố chính của Úc Đại Lợi như Bribne, Sydney, Perth, Adelaide và Melbourne.

NAM MÔ CUNG ĐỨC LÂM BỒ TÁT MA HA TÁT

Ban Hướng Dẫn Thừa Thiên thăm Hòa Thượng Thích Huyền Quang tại chùa Tiên Phước – Bình Định

Chuyến thăm Hòa Thượng Thích Huyền Quang tại chùa Tiên Phước Bình Định

Sau lễ Phát nguyện là lễ bế mạc trại Vạn Hạnh 4 năm 1997 tại
Tổ Đình Từ Hiếu

MỘT SỐ CÂU ĐỐI THIỀN MÔN VÀ CÂU ĐỐI CHỮ HÁN

CỦA CỐ ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN SIÊU
Trong quyển TỎA ÁNH TỪ QUANG của Ngài

Tuy không ghi thêm được chữ Hán như trong Tỏa Ánh Từ Quang của Ôn, Ôn đã biết cho, chắc quý vị cũng hiểu cho.

Đại Lão Hòa Thượng Thích Thiện Siêu Ngài đã khai sơn và xây dựng các ngôi chùa An Bằng

I- Câu Đối Thiền Môn.

01. Sắc tướng vốn không, nương cảnh huyễn độ người mê muội;
Tử sanh náo có, mượn thuyên từ với kẻ trầm luân.
(Phụng điếu Đức Tăng Thống Thích Tịnh Khiết chùa Tường Vân-Huế năm 1972)

02. Một chút giận, hai chút tham, lận đận cả đời ri cũng khổ;
Trăm điều lành, ngàn điều nhịn, thong dong tất dạ rúă mà vui.
(Tặng giảng đường Từ Đàm-Huế)

03. Tánh lặng đất trời chung một cỏi;
Tâm không trăng gió trải muôn phương.

04. Biển ái lấp bằng, Tịnh độ đi về đâu mấy chốc;
Sông mê tát cạn, Niết bàn an trú vốn không xa.
(Tặng tháp Thượng tọa Thiện Lộc chùa Thuyền Tôn-Huế)

05. Ngộ thấu nguôn chơn, tâm danh lợi trôi theo giòng nước;
Rõ cùng lý đạo, niệm thị phi bay lẫn chòm mây.

06. Cảnh Phật trong nghiêm, mõ sớm gõ tan hồn mộng ảo;
Cửa chùa thanh tịnh, chuông chùa ngân vọng tiếng từ bi.

07. Lặng nhìn trăng sáng nước trong, đèn Bát nhã chiếu tan niềm tục;
Lắng nghe kinh vàng kệ ngọc, tiêng Từ bi gõ thức tình thương.

08. Rũ sạch lòng trần, giọt nước cam lồ, rưới khắp phiền não chín cõi;
Mở tròn tuệ giác, soi đèn Bát nhã, hiển bày tướng hảo ba thân.

09. Cá biết về nguồn thăm nghĩa cội;
Chim dù xa tổ nhớ ơn cây.

10. Tấc cỏ ngâm ngùi, hương khói tỏ lòng con cháu thảo;
Ba xuân thương nhớ, lớn khôn nhờ đức tổ tông hiền.

11. Mắt trí rạng ngời, đen vô tận chiếu tan niềm tục;
Tay từ tế độ, nước dương chi gội sạch lòng trần.

12. Cỏi Ta bà mê muội trầm luân, trống chuyển âm vang lời giác ngộ;
Cửa Tam quang tình thương rộng mở, chuông khua đồng vọng tiếng từ bi.

13. Hiu hiu gió thổi đầu cành, không thấy,thấy không tùy mắt ngắm;
Vằng vặc trăng soi đáy nước, thật hư hư thật hỏi lòng xem.
(Tặng chùa Thanh Phước -Huế)

14. Tiếng chuông Linh mụ vọng về đâu, sáu nẻo luân hồi chúng sanh mong tế độ;
Cội cả tòng lâm đà ngã xuống, hai hàng mê ngộ đệ tử xót bơ vơ.
(Điếu Hòa Thượng Thích Đôn Hậu)

15. Sạch phiền não, hết tham sân, cửa Phật đây rồi thôi tìm kiếm;
Phá si mê, trừ nghiệp chướng, đường trần đó mặc hết rong tìm.

16, Cửa Không trống dậy mấy hồi, đọc kinh chú xua tan mộng ảo;
Cỏi Phật chuông đưa vài chập, niệm nam mô xoa sạch não phiền.

17. Lặng nhìn mây trắng núi xanh, hương giải thoát xông lừng cây cỏ;
Vẳng tiếng thông reo chim hót, gió từ bi thôie mát đất trời.

18. Mây núi chập chùng, trăng Bát nhã lồng soi vũ trụ;
Cỏ hoa tươi tốt, gió Từ bi thổi mát sinh linh.

19. Đây chùa đây Phật, đây mõ sớm chuông chiều, nhắn nhủ khách trần về nẻo giác;
Này trăng này gió, này kinh vàng kệ ngọc, khuyên răng người tục bỏ đường mê.

20. Phật đạo có gì đâu, thả chiếc thuyền Từ chờ kẻ giác;
Pháp môn không kể xiết, khêu đèn Bát nhã đón người mê.

21. Vô minh tham ái buộc ràng, đối cảnh sinh tình thêm lụy tục;
Bát nhã từ bi giải thoát, xem kinh mở trí rạng lòng chơn.

22. Đạo tổ sáng hoài cây cỏ đượm nhuần mưa pháp;
Chùa xưa mới mãi cháu con tiếp nối đèn thiền.

23. Dứt sạch mê tình, nhắm thẳng một đường lên bờ giác,
Trù không nghiệp chướng, giương cao đèn tuệ vượt sông mê.

24. Cảnh Phật trang nghiêm, mõ sớm gõ tan hồn mê muội;
Cửa chùa thanh tịnh, chuông chiều khua rã mộng ba sinh.

25. Không là sắc, sắc là không, chuổi buộc lông rùa quét sạch ba ngàn thế giới;
Phật tức tâm, tâm tức Phật, mõ khua rừng thỏ tỉnh hồn ức triệu sinh linh.

26. Lặng nhìn trăng sáng nước trong, đền Bát nhã soi cùng vũ trụ;
Lắng nghe kinh vàng kẹ ngọc, tiếng Từ bi dội khắp non sông.

27. Lặng nhìn trăng sáng nước trong, hương giải thoát xông tan niềm tục;
Lắng nghe kinh vàng kệ ngọc; tiếng Từ bi gõ thức tình thương.

28. Cỏi Ta bà mê muội trầm luân; trống chuyển âm vang lời Giác ngộ;
Cửa Tam bảo đạo tình mở rộng, chuông khua đồng vọng tiếng Từ bi.

28. Mười hiệu Phật, vài câu kinh, đánh thức ngàn năm mê muội;
Một hồi chuông mấy nhịp mõ, gõ tan bao kiếp trầm luân.

29. Người nương pháp, pháp nương người, động tịnh theo duyên tiêu nghiệp cũ;
Phật tức tâm, tâm tức Phật, xưa nay chẳng khác rõ lời chơn.

30. Cảm tác
Năm tháng phù sinh diệt kiếp người,
Cuộc đời như thể án mây trôi;
Buông tay mộng huyển về theo Phật,
Chín phẩm đài sen tỏa sáng ngời.

II. Câu đối chữ Hán:

01. Nhập môn nghi xả dung thường tánh;
Đáo tự ưng sinh hoan hỷ tâm.
Dịch
Vào cổng (Chùa) hãy sinh tâm hoan hỷ;
Đến chùa nên bỏ tánh tầm thường.

02. Kim địa Tòng lâm, cô nguyệt quang hàm không tức sắc;
Sơn đầu bảo sát, quần loan thúy tỏa cổ do kim.
Dịch
Đất báu Tòng lâm, trăng rọi ánh vàng không tức sắc;
Non cao chùa Phật, núi phơi màu biếc, cổ như kim.
(Tăng Tòng lâm Lam sơn ở đồi Lam Sơn, làng Lựu Bảo, Huế-1986)

03. Hồ bạn khởi thiền quan, giáo điển chơn thừa, nhất tánh viên minh hoàn bản Tế;
Sơn đầu khai thắng hội, thính lai thuyết pháp, thâm tâm tín nhạo ngộ thiền căn.
Dịch
Bên hồ dựng chùa thiền, diễn dạy chơn thừa, một tánh viên minh về gốc cội;
Đầu núi khai hội pháp, nghe thuyền chánh pháp, toàn tâm hỷ tín ngộ căn xưa.
( Tặng chùa Hồ Sơn do tổ Tế Căn lập tại Tuy hòa kiến thiết lại năm 1984)

04. Hàm long tái ngọ, đàm kinh phò luật xuất chân thuyên, ứng vật khúc trần, huề đăng thựcc địa;
Báo quốc trùng quang, bát hỏa ma chuyên truyền tổ đạo, đương cơ trực chỉ bất lạc kỳ đồ.
Dịch
Núi Hàm Long trở lại giữa trưa, giảng kinh phò trì Giới Luật, nêu rõ lý mầu, ứng theo hoàn cảnh mà trình bảy quanh co nhằm dìu dắt bước lên đất thật;
Chùa Báo Quốc trở lại rạng quang, bươi lửa mài gạch để truyền tổ đạo, ngay vào căn duyên chỉ thẳng, tránh rơi lạc đường chia.
(Câu đối bàn thờ ổ chùa Báo Quốc sau khi kiến thiết lại năm 1969)

05. Khiêm nhẫn hữư dư, phát ý viên thành Tam tụ giới;
Trí bi vô ngại, chung thân bất thối Tứ hằng tâm.
Dịch
Khiêm nhẫn có dư, một niệm tròn thành Tam tụ giới;
Trí bi vô ngại, trọn đời chẳng thối Tứ hoằng tâm.
(Câu đối ở tháp Hòa Thượng Thích Thanh Trí chùa Báo Quốc-Huế)

06. Chỉ đồ kiến tánh, ngôn hạ tri quy, thùy thị can đầu tấn bô;
Bát thảo tham huyền, thanh tiền ngộ chỉ năng tâm nội thừa đương.
Dịch
Trỏ đồ hình nhằm thấy tánh thật, ngay lời biết chỗ quay về, ai là người đầu sào tiến bước ?
Khêu cỏ dại để tìm cơ huyền, ứng tiếng thông nơi ý chí, mới chính kẻ tự nội thừa đương.
( Câu đói ở tháp chùa Báo Quốc-Huế và bàn thờ Tổ ở Long Sơn Nha Trang)

07. Quảng đại hạnh, phát thâm tâm, bát thác mê vân,bất quyện hối nhân bồi Phật chủng;
Cứu nhơn không, nghiên diệu chỉ, xung khai tuệ nhật, phùng trường trác tích chấn tông phong.
Dịch
Quảng khai đại hạnh, phấn phát tâm sâu, vén bớt mây mê, mệt mỏi chẳng nề, dạy người vun Phật chủng;
Thẩm cứu chân không, thâm nghiên ý diệu, mở ra vầng tuệ, ngay nơi duyên thuận, dưng gậy chấn tông phong.
(Tặng tháp Hòa Thượng Thích Trí Thủ chùa Báo Quốc-Huế)

08. Ngự lãnh thanh phong, phất diện vấn thùy năng tác Phật;
Bình tiền khô mộc, đãi nhơn tri ngộ vị khai hoa.
Dịch
Gió lành trên đỉnh Ngự, phe phất trên mặt hỏi ai đâu sắplàm Phật ?
Cây khô trước Ngự Bình, chờ người tri ngộ để họ nở hoa.
(Tặng Khuôn hội Phật giáo Ngự Bình-Huế)

09. Tức tục nhi nhơn, xứ xứ tận thành Hoa tạng giới;
Bội trần hiệp giác, tâm tâm viên nhiếp Đại thừa môn.
Dịch
Tức tục mà chơn: nơi nơi đều thành Hoa tạng giới;
Trái trần hiệp giác, tâm tâm viên nhiếp Đại thừa môn.
(Tặng tháp Hòa Thượng Thích Mật Nguyện, chùa Trúc Lâm-Huế)

10. Quảng khai phương tiện môn, thiện xiển tần già phổ kiến pháp tràng vu xứ xứ;
Hương biến trang nghiêm đọ, tư bồi đạo thọ cao tiêu đức bổn ư trùng trùng.
Dịch
Mở rộng cửa phương tiện, khéo xiển tần già dựng xây pháp tràng khắp chốn;
Huân ướp đức trang nghiêm, bồi đắp đạo cả, tỏ gốc đức hạnh ở nơi nơi.
(Tặng Hòa Thượng Thích Trí Thủ năm 1970)

11. Bội giác hiệp trần, mộng ý na tri thân thị huyễn;
Quy nguyên đắc chỉ, định trung thường chiếu Phật do tâm.
Dịch
Trái giác hiệp trần, trong mộng chẳng hay thân là huyễn;
Về nguồn đặng gốc, lúc định thường thấy Phật tại tâm.
(Tặng chùa Hương Sơn-Huế)

12. Bảo ấn trông phong “Chỉ vật truyền tâm” nhất cú thoại đầu chơn liểu ngộ;
Tịnh quang cao đức, Tùy duyên hóa đạo “Huyền nhai tán thủ” tận quang thông.
Dịch
Tông phong bảo ấn, “Chỉ vật để truyền tâm”, một câu thoại đầu tâm liẽu ngộ;
Cao đức tịnh quang, tùy duyên hóa đạo, buông tay nơi vật thẳm trí dung thông.
(Tặng chùa BảoTịnh Phú Yên)

13. Tục đoạn khởi thần chung thức đắc triêm trần bất trước nhãn;
Vinh khô thành mộng huyễ giác lai thế giới tổng duy tâm.
Dịch
Tiếp dứt tiếng chuông mai, rõ được bụi trần không nhắm mắt;
Tươi khô giấc mộng huyễn, hay rằng thế giới chỉ là tâm.
(Tặng chùa Tây Thiên-Huế)

14. Nhơn y pháp, pháp y nhơn, động tĩnh tùy duyên tiêu cựu nghiệp;
Phật tức tâm, tâm tức Phật, cổ kim bất nhị hợp chơn tông.
Dịch
Người nương pháp, pháp nương người, động tĩnh tùy duyên tiêu nghiệp cũ;

Phật tức tâm, tâm tức Phât, xưa nay chẳng khác hợp chơn tông.
(Tặng một số chùa)

15. Hậu thương hải, tiền bích giang, thủy nguyệt ba quang tương ánh nguyệt;
Triêu kin kinh, mộ ngọc kệ, cổ chung thanh hưởng cộng diêu hưng.
Dịch
Sau biển rộng, trước sông xanh, trăng nước chập chờn cơn sóng vỗ;
Sáng kinh vàng, chiều kệ ngọc, trống chuông vang vọng tiếng xa gần.

16. Hoa bảo phiệt phiến từ hàn, bạt tế ái hà danh lợi khách;
Diễn kim kinh, tuyên diệu kệ, hoán hồi khổ hải mộng mê chơn.
Dịch
Thả bè báu, dong thuyền từ, vớt khách lợi danh trên biển ái;
Diễn kinh vàng, tuyên kệ diệu, gọi người mơ mộng giữa sông mê.
(Tặng Khuôn hội Phật giáo An Dương-Huế)

17. Phạm vũ biến trang nghiêm, nhật phóng trùng tân cảnh sắc;
Liên đài thường xán lạn, vân khai hiển hiện tường quang.
Dịch
Chùa Phật trang nghiêm, ảnh nhật linh linh như cảnh sắc;
Đài sen vắng lặng, vần mây hiển hiện tường quang.

18. Kiều thọ lăng không thất bảo trang nghiêm quang Phật sát;
Tòng lâm túng tú, tứ sơn loan bích ánh thiền quan.
Dịch
Cây vút tầng không, báy báu trang nghiêm cỏi Phật;
Rừng tùng xanh tốt, bốn bề non biếc của thiền.

19. Thiên bách ức kim, giáo pháp tuyên dương, nhiếp chúng sanh vu giác địa;
Tam thập nhị bảo tướng từ quang biếng chiếu cứu vạn loại xuất mê đồ.
Dịch
Trăm ngàn ức kim thân, Chánh pháp tuyên dương, nhiếp hóa chúng sanh về nẻo giác;
Ba mươi hai bảo tướng, ánh từ chiếu khắp, dìu dắt muôn loài thoát đường mê.
(Ba cặp đối trên tặng chùa Bát Nhã Phú Yên)

20. Cảnh trị u thâm, dã thảo nhàn hoa vong tuế nguyệt;
Sơn cư khoán hoạt thần chung mộ cổ liễu sắc không.
Dịch
Gặp cảnh thâm u cỏ nội hoa đồng quên năm tháng;
Ở non khoán hoạt, chuông chiều mõ sớm rõ sắc không.

21. Tuệ nhật cao huyền, phổ chiếu chúng sanh vu giác đạo;
Từ phong phổ phiến, tề tư vạn loại xuất mê tân .
Dịch
Tuệ nhật treo cao, chiếu khắp quần sanh trên đường giác;
Gió từ phơ phấp, mát cùng vạn loại khỏi bến mê.

22. Tận xã Tham, Sân, Si, đương thử độ nhi vi Tịnh độ;
Viên tu Giới, Định, Tuệ, tức phàm tâm hóa tác Thánh tâm.
Dịch
Bỏ hết Tham , Sân, Si, chính tại đây là Tịnh độ;
Tu tròn Giới, Định, Tuệ, ngay phàm tâm là Thánh tâm.
(Tặng cho chùa Diêu Bình Quảng Trị)

23. Khánh trị u thâm, mộ cổ thần chung vong lụy kiếp;
Sơn cư khoán hoạt, nhàn hoa dã thảo liễu tam sanh.
Dịch
Gặp cảnh u thâm, mõ sớm chuông chiều tiêu lũy kiếp;
Ở nơi khoán hoạt, hoa đồng cỏ nội ngộ ba sinh.
(Tặng chùa Khánh Sơn-Huế)

24. Bái thủ chú đàn hương, tam thiên giới kiết tường vân, phụng Như Lai liên tọa thượng;
Tín tâm trì Phật hiệu, bách bát thanh thành chánh niệm, kỳ sanh Tịnh độ bảo liên trung.
Dịch
Tay sạch đốt hương đàn, thhế giưói ba ngàn kết mây lành, dâng hiến Như Lai trên bảo tọa;
Tâm thành trì hiệu Phật, trăm lẻ tám lần thành niệm chánh, cầu sanh Tịnh độ giũa hoa sen.

25. Tiền lục thủy, hậu thanh sơn, phạm vũ huy hoàng Phật quang biến chiếu;
Mộ kim kinh, triêu ngọc kệ, trần tâm địch tận chánh niệm phân minh.
Trước nước biếc, sau non xanh, phạm vũ huy hoàng Phật quang biến chiếu;
Chiều kinh vàng, sáng kệ ngọc, lòng trần gột sạch, chánh niệm phân minh.
(Tặng chùa Hải Ấn Nha Trang)

26 . Phật bất ly tâm, động tịnh tùy duyên tiêu cựu nghiệp;
Chí tồn đại đạo, khứ lai vô ngại ngộ thiền cơ.
Dịch
Phật chẳng lìa tâm, động tĩnh tùy duyên tiêu nghiệp cũ;
Chí nơi đạo cả, đến khi vô ngại ngộ cơ thiền.

27. Trí tuệ tâm khai, lũy kiếp hôn mê tùng tiệt đoạn;
Từ bi niệm khởi, đa sanh nghiệp chướng tự tiêu vong.
Dịch
Tâm trí tuệ mở bày, vạn kiếp hôn mê liền dứt sạch;
Niệm từ bi dấy khởi, nhiều đời nghiệp chướng tự tiêu vong.

28. Chấp ngã chấp chơn, kiến sắc văn thanh, thành quá hoạn;
Tu bi tu trí, cử tâm động niệm, nhậm há dung thông ?
Dịch
Chấp ngã chấp chơn, thấy sắc nghe thanh đều tội lỗi ?
Tu bi tu trí, khởi tâm động niệm thảy dung thông.
(Tặng Khuôn hội Phật giáo An Bằng-Huế)

29. Ly tứ cú, tuyệt bách phi, tự thử vong ngôn, chân hưu đạo;
Triền lục căn, tam tịnh nghiệp, chỉ ư tức niệm chứng vô sanh.
Dịch
Dứt trăm quấy, lìa bốn câu, tự chỗ vong ngôn mới thật đạo;
Xoay sáu căn, sạch ba nghiệp, chính nơi dứt niệm ấy vô sanh.
30. Tùy kỳ thiện nguyện, tiếp độ vi sư, duyệt chúng tâm ư đại đạo;
Thí vô nguyên từ, tác bất thỉnh hữu, phá nghi võng ư u đồ.
Dịch
Theo thiện nguyện nó, tiếp độ cho làm thầy, tâm chúng được vui trong đạo lớn;
Thí vô duyên từ, làm người bạn không thỉnh, lưới nghi phá sạch, giữa đường mê.
31. Phản vọng quy chơn, nhất niệm hồi đầu tức bỉ ngạn;
Tâm ngưu phỏng tích, tam quan tham thấu nhập không môn.
Dịch
Bỏ vọng về chơn, một niệm quay đầu là bến giác;
Tìm trâu hỏi dấu, ba quan (cửa ải) tham thấu tới cửa không.
(Tặng chùa Kim Quang-Huế)

32. Pháp bản như như, mê chi giả vị sắc vị thanh, ngộ chị giả phi không phi hữu;
Tâm nguyện tịch tịch, tức hồ thủ vi thiện vi lạc ly hồ thử thị khổ thị ưu;
Dịch
Gốc pháp như như, người mê nó thì bảo là sắc là tiếng, người ngộ nó thì chẳng không chẳng có;
Nguồn tâm lặng lặng, tức nơi đây là lành là vui, lìa nơi đây thì khổ thì lo.
(Tặng chùa Bảo Lộc Lâm Đồng)

33. Pháp thủy trường lưu xứ xứ nhuận tiêu khô, túng ngộ thạch bàn, bất đoạn Tào Khê cam lồ mạch;
Từ phong phổ phiến, thời thời thôi nhiệt não, thiết tao lam khí, nhưng hội liên trì giải thoát hương.
Dịch
Dòng nước pháp chảy dài, chốn chốn tưới nhuần tươi khô hạn, dẫu gặp đá bàn vẫn không dứt mạch Tào Khê cam lộ;
Ngọn gió từ thổi khắp, thời thời xưa nhiệt đẩy sầu lo, dù vào khí chướng mà cứ nồng hươngGiải thoát Liên trì.

34. Kỷ độ công huân trường hạo nguyệt;
Nhất sanh kỳ khí túng cao phong.
Dịch
Mấy độ công huân dài cùng trăng sáng;
Một đời kỳ khí ngút tận núi cao.

35. Thử địa hửu dưyên tang tịnh cốt;
Giá sơn đắc dự ngộchân nhân.
Dịch
Đất ấy duyên may chôn tịnh cốt;
Núi nấy vinh dụ gặp chân nhân.
(Câu đối ở tháp Hòa Thượng Thích Thiện Minh chùa Thuyền Tôn-Huế)

36. Trúc thanh, tùng thanh, chung khánh thanh thanh vô ngại;
Sơn sắc, thủy sắc, yên hà sắc, sắc sắc giai không.
Dịch
Tiếng trúc, tiếng tùng, tiếng khánh chuông, tiếng tiếng đều chẳng ngại;
Màu non, màu nước, màu mây khói,màu màu cũng vẫn không.

37. Tích nhật dĩ tằng vi hiếu tử, vi minh quân, xã mạng thí thân, cứu độ chúng sanh xuất mê đồ khổ thú;
Kim sinh hựu phục khí quốc thành, khí trân bảo, hàng ma sát tặc, viên thành chánh quả khai giác lộ thiền môn.
Dịch
Xưa ấy từng làm con hiếu, làm vua hiền, xã mạng, bỏ thân, giúp chúng sanh khỏi đường mê lối khổ;
Đời nầy lại bỏ Quốc gia, bỏ của báu, hàng ma, giết tặc, thành chánh quả khai nẻo Giác cửa thiền.

38. Thị chúng sanh như xích tử, khải ngộ trừ mê, bi cức tam luân khuých ngũ thừa nhi thùy phạm;
Đỗ pháp giới nhược không hoa, tiền căn tuyệt tướng, trí viên thập lực đào vạn tượng dĩ nghiêm quy;
Dịch
Xem chúng sanh như con đỏ, khai ngộ trừ mê, lòng xót tam luân, mở ngũ thừa mà ban khôn phép;
Ngắm pháp giới tợ hoa không, tỏ căn dứt tướng, trí tròn thập lục, suy vạn tượng để tập nghiêm quy.

39. Phạn thực dĩ đa thì, chỉ đò kiến tánh ngôn hạ tri quy, bách xích cac đầu trùng tấn bộ;
Tảo tri đăng thị hỏa, bát thảo mtham huyền thinh tiền ngộ chỉ, nhất luân minh nguyệt dạ truyền y.
Dịch
Cơm chín đã từ lâu, tỏ tranh hình thấy tâm tính, lời dứt biết ngay chỗ về, đấu sào trăm thước còn cất bước;
Sớm hay đèn là lửa, trừ cỏ rối, tham diệu huyền, tiếng truyền ngộ liền ý chỉ, trăng sáng một vầng, tối truyền y.

40. Bát nhã bổn vô ngôn, ly tứ cú, tuyệt bách phi, ứng hóa tùy duyên thuyết vô lượng vô biên diệu pháp;
41. Bồ đề tiên hữu nguyện, chứng tam minh, cụ ngũ nhãn, câu viên phước quả thành đại hùng lực từ tôn.
Dịch
Bát nhã vốn không lời, rời bốn vế, trừ trăm khôn, ứng hóa tùy duyên, giảng diệu pháp vô lượng vô biên;
Bồ đề cần có nguyện, chứng tam minh, đủ năm mắt, tròn đầy quả phúc, thành từ tôn đại hùng đại lực.

41. Chí đạo bất ngại ngôn ngôn thuyên, tức tục tức chơn, đốn ngộ khẳng thừa đương, vận thủy băng sài giai diệu dụng;
Nghi tình nhất phiên khám phá, phi tâm phi vật, bổn lai chon diện mục, ma chuyên thụ chi tổng thiền cơ.
Dịch
Đạo rốt ráo đâu phải thuyết đàm, là tục, là chơn, ngộ liền vẫn vậy, gánh nước nôi, chựac củi nè đều là diệu dụng;
Tình nghi nan một khi khám phá, chẳng tâm, chẳng vật, mặt mũi xuă nay, mài ngói gạch, giơ ngón taycũng chỉ thiền cơ.
(Tặng chùa Thuyền Tôn-Huế)

42. Vĩnh khí tà tư quy hướng Phật đà tăng phước lạc;
Quang ham vạn tượng trượng bằng tuệ nhật phá sân si.
Dịch
Mãi bỏ ý tà, qui hướng Phật đà, thêm phước lạc;
Bao gồm vạn vật, nương theo vầng tuệ, phá sân si.

43. Nhập giải thoát môn, thiết đoạn tham sân si mạn hữu lậu nghiệp;
Chứng Tam bảo địa, thường hành từ bi hỷ xả vô lượng tâm.
Dịch
Vào cửa giải thoát, nghiệp hữu lậu tham sâm si mạn phải quyết dứt trừ;
` Chứng miền Tam bảo, tâm vô lượng từ bi hỷ xả cần luôn thực hiện.
(Tặng chùa Vĩnh Quang)

44. Lý tuyệt lưỡng biên tức tâm tức vật;
Đạo vô đốn tiệm phi thật phi quyền
Dịch
Lý dứt hai bên, là tâm là vật;
Đạo không mau chậm, chẳng thật chẳng quyền.

45. Về già lam nhi thanh tịnh;
Hộ Phật pháp dĩ trường tồn.
Dịch
Giúp già lam thành thanh tịnh;
Hộ Phật Pháp được trường tồn.
46. Chân tục hỗ dung duyệt đệ nhất nghĩa;
Tự tha kiêm lợi nhập bất nhị ngôn.
Dịch
Chân tục đều thông, nêu nghĩa đệ nhất;
Ta người cùng lợi vào cửa không hai.

47. Bảo địa trang nghiêm, sắc hương bất dị;
Phật ngôn quảng đại, xuất nhập tùy duyên.
Dịch
Đất báu trang nghiêm, sắc hương không khác;
Cửa Phật quảng đại, ra vào tùy duyên.

48. Nhập thử môn tham sân si mạn;
Đăng thị địa, hữu hùng lực từ bi.
Dịch
Vào cửa đây không tham sân si mạn;
Lên đất nầy có hùng lực từ bi.

49. Phước huệ viên tu chơn phật tử;
Trí bi song vận đại từ tôn.
Dịch
Phước huệ tròn tu chính người phật tử;
Trí bi đầy đủ ấy bậc đại từ.

50. Cứu khổ tầm thanh Quán Tự Tại;
Từ bi nguyện lưc Diệm Nhiên Vương.
Dịch
Quán Tự Tại tìm tiếng kêu cứu khổ nạn;
Diệm Nhiên Vương theo sưc nguyện tỏ từ bi.
(Câu đôi tặng chùa Già Lam TP Hồ Chí Minh)

51. Đại từ đại bi mẫn chúng sanh, ứng hóa tùy duyên thân kỳ thân nhi kỳ địa;
Đại hỷ đại xả tế hàm thức, oai đức tự tại thánh trung, thánh nhi, thiên trung thiên.
Dịch
Đại từ đại bi thương xót chúng sanh, theo duyên ứng hóa, thân với thân như đất với đất;
Đại hỷ đai xả tế vạn loài, oai đức tự tại, thánh trong thánh như trời trong trời.

52. Từ nhãn quán chúng sanh ư trí ư ngu thị đồng nhất tử;
Tôn phong thành phạm vũ thị không thị sắc nhập bất nhị mon.
Dịch
Mát thường nhìn chúng sanh, kẻ trí kẻ ngu đều là con cả;
Tông phong xây chùa Phật, ấy không ấy sắc vào của không hai.
(Tặng chùa Từ Tôn Biên Hòa)

53. Hai bài kệ thỉnh chuong U minh:
Nguyện thử chung thinh siêu pháp giới,
Thiết vi u ám tức giai văn,
Văn trần thanh tịnh chứng viên thông,
Nhất thiết chúng sanh thành chánh giác.
Dịch
Nguyện tiếng chuông nầy lan khắp nơi,
Tận cùng hang thẳm đến muôn loài,
Nghe chuông lóng sạch lòng ô trược,
Hưởng cảnh an vui giữa cuộc đời.

54. Kệ nghe chuông:
Văn chung thinh, Phiền não khinh,
Trí tuệ trưởng, Bồ đề sinh,
Ly địa ngục, Xuất hỏa khanh,
Nguyện thành Phật, Độ chúng sanh.
Dịch
Nghe tiếng chuông, Phiền não nhẹ,
Trí tuệ lớn, Bồ đề sinh,
Lìa địa ngục, Thoát hầm lửa,
Nguyện thành Phật, Độ chúng sinh.

55. Đạo thọ hoa khai hương mãn kỉnh;
Tùng lâm nguyệt hiện điểu qui sào.
Dịch
Cây đạo nở hoa đường hương ngập;
Rừng thiền trăng sáng tổ chim về.
(Tặng Sư Bà Diệu Không nhân này mừng thọ 85 tuổi)

56. Tham thiền tu thấu tổ sư quan, văn tự hề vi trọng tại niêm hoa vi tiếu;
Diệu ngộ yếu cùng tâm lộ tuyệt, ngữ ngôn hà dụng toàn bằng khẩu chỉ tam thanh.
Dịch
Tham thiền phải lọt qua cửa Tổ, Văn tự đâu cần, khi nêu hoa mĩm miệng;
Ngộ đạo cần dứt tuyệt đường tâm, ngữ ngôn nào kể, lúc tay khẩy ba lần.
(Viết cho chùa Linh Sơn Pháp Bao ở Nha Trang Khánh Hòa)

57. Hoằng thí đại nguyện, ngọc chất giáng hoàng cung, phún thủy cửu long tề mộc dục;
Vi độ Quần sanh, kim thân tu tuyết lãnh, hàm hoa bách điểu cạnh triêu tham.
Dịch
Rộng thi nguyện lớn, chất ngọc giáng cung vua, chín rồng phun nước tắm;
Nhằm độ quần sanh, thân vàng tu núi tuyết, trăm chim ngặm hoa chầu.
(Tặng chùa Vô Ưu TP. Hồ Chí Minh)

58. Vạn pháp nhất như tức tục tức chơn qui giác đại;
Đức đồng pháp giới đàm không đàm hữu chuyển mê tâm.
Dịch
Muôn pháp nhất như, là tục là chân, qui đường giác;
Đức tròn pháp giới, bàn không bàn có chuyển tâm mê.
(Tặng chùa Vạn Đức TP. Hồ Chí Minh).

(*): Sưu tập chưa đầy đủ.

Đò đi qua bến Đục nhân chuyến đi hành hương chùa Hương
Hương Tích, Tinh Hà Đông – Hà Nội

*****&*****

Định Lý Duyên Khởi.
Định lý duyên khởi là một định lý cơ bản của Phật giáo do Đức Phật đã giác ngộ và chỉ lại cho chúng ta với một cái quy luật “ Thử hửu cố bỉ hửu, thử vô cố bỉ vô, thử sanh cố bỉ sanh, thử diệt cố bỉ diệt ”.
Trong Kinh Pháp Hoa có một câu dạy rất đặc biệt đó là: Các Đức Phật chỉ vì một việc đó là vì. Khai trí cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật.

Tượng A LA HÁN thờ tại chùa

Tránh Gây Phiền Não, Cắt Đứt Phiền Não.

Bị phiền não chướng ngại thị không lập chí cầu giải thoát, bị nghiệp báo chướng ngại thì không lập chí cầu trí giác.
Đi đưòng nào tà ? Đi đường nào chánh ? Tham ái biếng tướng, lấy bốn không định làm giải thoát là đường tà, chí nguyện cầu trí giác, thực hành tám chánh đạo là đường chánh.
“ Muốn giàu có thí thực hành bố thí.
Muốn vui thì thực hành Từ bi ”.
Nhưng muốn cứu vớt an vui tất cả chúng sanh thì phải kiến lập chí nguyện mong cầu trí giác vô thượng.
Không thực hành diệu hạnh thì có ba điều khó:
1. Khó gần các vị thiện tri thức.
2. khó thực hành từ bi.
3. khó ham trí giác Phật Đà.
Mà muốn thực hành diệu hạnh thì phải lập chí nguyện, mong cầu trí giác vô thượng, lập chí nguyện mong cầu trí giác vô thượng rồi, là được nhất thể trí vậy.
(Trích luận Đại Trượng Phu).

Tượng A LA HÁN thờ tại chùa

CÂU CHUYÊN
Giũa
Thầy trò Thiện niệm và Phạm Ma Đạt.

“Có lần hai thầy trò Thiện niệm và Phạm Ma Đạt đi sau phật. Ông thầy thì luôn luôn tìm đủ mọi từ xấu xa để chê bai Đức phật và các Đệ Tử. còn ông đệ tử Phạm Ma Đạt thì dùng mọi lòi hay ho để khen.
Thế mà Đức Phật đi trước ngài làm thinh không nói gì cả – về tới tịnh xá ăn cơm xong, các tỳ kheo ngồi lại bàn với nhau “Đức Phật có Thiên nhản Thiên nhĩ đủ cả, sao người ta nói vậy mà không nghe ngài nói gì cả. Phật đến hỏi các người đang bàn chuyện gì đó? Đệ tử trả lời: Đang bàn chuyện Thầy Trò Phạm Ma Đạt.
Lúc bấy giờ ngài mới giải thích: “ Nên im lặng như hiền Thánh, nên nói năng như hiền Thánh, khi khen các người chớ vội thoả thích với lưòi khen đó vì thoả thích với lời khen thì bị chìm đắm.
Khi chê các người cũng chớ vội buồn nãn, vì lời chê nếu vội buồn rầu thì các người bị chìm đắm”
Khi nghe khen chê các người nên sáng suốt bình tĩnh nhận định điều đó đúng với chúng ta, điều đó không đúng với chúng ta.
Đó là một thái độ hết sức bình tĩnh, hết sức khách quan, hết sức nhẹ nhàng giải thoát cho mình, giải thoát cho người.
Nếu khi mới nghe người ta chê mà minh nổi sân đánh người ta, thì ngay mình không giải thoát, mà cũng chẳng giải thoát cho người nữa. Cho nên có chỗ Đức Phật nói “Người nào nhẫn được thì người đó thắng cả hai thắng cho mình và thắng cho người ”. Người nào không nhẫn được thì người đó bại cả hai …

Tượng A LA HÁN thờ tại chùa

Bài Thơ Dâng Mẹ
Văn nhân Đạo

Thưa mẹ hôm nay ngày Vu lan
Thơ con gói hết ý hân hoan
Kính dâng lên mẹ lòng hiếu thảo
Từ trong vô lượng giải nghiệp oan

Lạy mẹ hôm nay ngày Vu lan
Đốt hương tưởng niệm lệ chứa chan
Ngực cài hoa trắng lòng đau xót
Mẹ ơi! Thương nhớ đến vô vàn

Âm dương cách biệt mấy quan san
Vắng mẹ còn đâu tiếng hỏi han
Bơ vơ côi cút đời luân lạc
Làm người chưa dứt những lo toan

Mẹ ơi! Hôm nay ngày Vu lan
Nguyện cầu phương đó mẹ bình an
Nghiệp duyên rũ nhẹ sinh Tịnh độ
Liên đài mẹ tắm ánh thiền quang

Phù du một kiếp ngắm trần gian
Nghĩa mẹ công cha trả muộn màng
Lạy Phật chứng tri lòng sám hối
Độ trì cho mẹ được an nhàn…

Niết Bàn

Niết Bàn là một cái gì tuyệt đối không dung ngã. Niết Bàn không có hạn lượng, không có nơi chốn, và niết bàn vô tướng, vô tướng nên khó vào, muốn vào niết bàn ta phải vô tướng như niết bàn, cửa niết bàn rất hẹp chỉ bằng tơ tóc nên ta không thể mang thêm một hành lý nào mà hy vọng vào niết bàn được cả, cái thân mà đã không mang theo được, mà cái ý niệm về tôi về ta cũng không thể mang theo được, cái ta càng to thì càng xa niết bàn, nên biết rằng: Hễ hữu ngã là luân hồi; mà vô ngã là niết bàn.
Hoà Thượng Trích Thiện Siêu.

18 vị A La Hán thờ tại chùa An Bằng năm

Tượng đá.
Tượng đá ngồi im không nói.
Tượng ngồi im nhưng sống động vô cùng.
Ý tưởng Tượng muôn trùng phong phú.
Ai bảo Tượng ngồi im không nói.
Tâm hòa nhập giữa người cùng đá sỏi.
Phút đạo đàm hạnh phúc biết nhường nao.
Lòng ung dung tự tại với trăng sao.
Người và đá cũng tương phùng tao ngộ.

Nguyên Ngộ Đào Hoài

*****&*****

Phong lai sơ trúc, phong khứ nhi trúc bất lưu thanh.
Nhạn quá hàn đàm, nhạn khứ nhi đàm vô ảnh hiện.
Thị cố quân tử sự lai nhi tâm thể hiện, sự khứ nhi tâm tuỳ không.

giải:

Gió qua cành trúc, gió qua rồi trúc lại bặt im. Con chim nhạn bay qua đồng ruộng, bóng nhạn in hình đáy nước,nhạn qua rồi bóng nhạn tìm đâu.
Người quân tử khi gặp việc nói lăng xăng cho vui, nói rồi tâm lại thảnh thơi không bận rộn chi cả.

Lời nhắn nhủ:
Nếu sinh hoạt trong gia đình phật tử khi lên đoàn trưởng, anh chị có cảm tưởng thế nào? Khi bác gia trưởng gắn lên túi áo anh chị một chức vụ hiệu đoàn trưởng. Từ ngày đó anh chị thấy trong đời sống anh chị có gì thay đổi khác thường, khi nào cái chức vụ hiệu đó mới chịu rời các anh, các chị, và khi người khác nâng niu nó trên túi áo màu lam, các anh chị sẽ nghỉ gì? Thờ ơ hay nuối tiếc? anh chị thấy gì khi đàn em mỗi ngày mỗi đông, hay trái lại mỗi ngày mỗi mỏi mòn, các anh chị có bồi hồi thổn thức khi chiếc áo màu lam bị hoen ố, hoen ố vì thời gian, hoen ố vì thời cuộc, hoen ố vì hoàn cảnh. Tôi đợi các anh chị trong ngày Đại Hội tưng bừng của GĐPT.
Huynh Trưởng Nguyên Phương

————-&—————

“Biết người khác tức giận Chánh niệm tâm an tịnh là y sĩ cả hai. Chửa mình và chửa người…
Kinh Tương Ưng.

Sự phân chia xá lợi của Phật (1)
Bà La Môn DôNa, người tổ chức thành công việc phân chia xá lợi, dành lấy cho mình cái bình đựng xá lợi. Những người Maurya ở Piffhalirana, vì đến chậm chỉ được nhận tro còn lại của giàn hoả, các bình được chia phần Xá lợi đều xây tháp ở Quốc Gia mình để cúng dường. Như vậy có tất cả 10 tháp: Tám tháp đựng xá lợi của Phật, một tháp xây trên bình chứa Xá lợi; và một tháp thờ tro của giàn hoả.
(Trích lịch sử Đức Phật Thích Ca)
Thích Minh Châu. Trang 71, bài 37
Xá lợi: Hài cốt của Bậc Thánh sau khi hoả táng.

——————&—————–

“Giáo hội tăng già do Phật sáng lập, không phân chia đẳng cấp xã hội Phật nói “Hỡi cái tỳ kheo: cũng như các con sông lớn, sông Hằng Hà, sông Yamuna, sông Aciravita, sông Sarabahu, sông ma hi khi chúng đổ vào biển thì chúng mất tên gọi trước đây của chúng và được gọi cùng một tên là biển cả mà thôi; cũng như vậy: 4 đẳng cấp. Sát Đệ Lỵ, Bà La Môn, Vệ Xá, Thủ Đà La, mỗi khi họ đến với pháp luật do như lai giảng thuyết, từ cuộc sống gia đình đến cuộc sống không nhà thì họ cũng đều mất tên gọi trước đây của họ và được gọi một tên là Tu Sĩ”.

—————-&——————

Trong Thập Mục Ngưu Đồ
Tiêu đề từ “Mới dắt” rồi từng bước huấn luyện đến “Thuần phục” để cả trâu người đều an nhiên gắn bó như câu thơ:
“Cỏ thơm chiếu xuống vừng mây biếc, trẻ khỏi cần chăn vẫn tới nhà”…
Pháp môn toạ Thiền: Nhờ có Định mới có Tuệ – muốn được Định Tuệ phải giữ giới.
Giới, Định, Tuệ cùng với Văn, Tu, Tư đó là môn học hàng đầu của người tu hành gọi là: Tam Vô Lậu Học.
Trong luật Thiền có 8 thứ gió (gọi là bát phong) trong luật Thiền có 8 thử thách con người: Tám gió ấy là: Suy, Hủy, Dự, Xưng, Cơ, Khổ, Lạc có nghĩa là:
Lợi: Được Tài thì lợi không xao xuyến
Suy: Là gặp suy hao, lòng vẫn thản nhiên
Huỷ: Là bị huỹ lòng không bực tức
Dự: là được công kênh lòng như không
Xưng: là được ngợi khen tâm vẫn bình thản
Cơ: là bị chê bai lòng không biến đổi
Khổ: Là gặp đau khổ lòng vẫn an nhiên
Lạc: Là được việc vui tâm không xao động
Những luồn gió ấy tuy không gây nguy hiểm chết người. Nhưng nó lại cái thước tâm linh, để xem ai là người làm chủ được tâm mình.

” Học đạo như dùi cây kiếm lửa, chưa ngừng khi gặp khói bay lên”.

.
——————&——————–

Trong 21 ngày ngồi tại Cội Bồ Đề thay vì nghĩ rằng:
Cuộc đời của chúng ta; kiếp sống của chúng sanh do một “Túc tác nhơn” nghĩa là do một định mệnh an bài sẵn, hoặc do một vị tạo hoá nào tạo ra, hoặc ngẫu nhiên vô nhơn mà có.
Với tất cả quan niệm sai lầm đó không hiện đến nơi Đức Phật, lại bằng vào nơi thực tại của chúng sanh, để tìm nguyên nhân thực tại của chúng sanh hiện hữu là do lão Tử, bằng cái đó, bằng nơi đời sống hiện hữu đó để tìm nguyên nhân chứ không tìm nguyên nhân đâu xa. Nhưng với các nhà ngoại đạo thì cho là một nơi tạo hoá, hoặc ngẫu nhiên, hoặc vô nhơn, hoặc túc tác, hoặc định mệnh. Còn mỗi chúng sanh thì thân thế chúng ta đều bản ngã, bản ngã nó bảo ta ăn, nó bảo ta nói, nó bảo ta ngủ, nó bảo ta làm, người ta nói hoạt động có bản ngã.
Nhưng với trí tuệ của Đức Phật, với suy tư của Ngài nó ra ngoài hai điều đó, nó ra ngoài tà kiến của ngoại đạo, và ra ngoài chấp kiến của chúng sanh, với lối suy tư theo chiều thuận, và suy tư chiều nghịch mà danh từ thông thường gọi là Thuận quán và Nghịch quán hay là lưu chuyển quán và hoàn diệt quán. Với lý thập nhị nhơn duyên này ngay tại cội Bồ Đề Đức Phật đã quán do vô mình có hành, do hành có thức v.v…
Trong thập nhị nhơn duyên ta thấy Phật quán từ cái lảo tữ rồi đi lên, nên những điều Đức Phật chứng ngộ rất xác thực, không để cho bị mê hoặc trong tháng ngày Ngài thấy, nghe, hay biết bất cứ điều gì cũng từ kết quả đi tìm nguyên nhân chứ không phải như ta vừa nghe vừa tìm ngay, cứ cho là thật, vừa thấy là nói đó rồi…
Câu chuyện ngụ ngôn sau đây rất có ý nghĩa:

Có lần Đức Phật thấy thiên hạ đua nhau chạy dữ quá. Ngài mới hỏi: sao chạy dữ vậy? Họ trả lời Trời sập Phật hỏi ai nói? Họ trả lời mấy người sau đó. Ngài hỏi dần đến cuối cùng biết được do con Thỏ nằm mơ ngủ dưới gốc sung, nghe trái sung rụng bên tai tưởng là trời sập và bỏ chạy, cứ thế tiếp tục rồi khỉ, ngựa, voi cho đến người ta cũng đua nhau chạy…
Cho nên Đức Phật đứng trước mọi hoàn cảnh, trước mọi việc Ngài bình tỉnh để quan sát, bình tỉnh tìm nguyên nhân không hốt hoảng.
Do chuyện trên đây ta thấy hiện tại mình cũng Thỏ lắm, bởi vì mình chưa tìm nguyên nhân mà chỉ nghe Thỏ rồi chạy, chứ không phải một mình Thỏ đâu mà thôi. Cái nghe cái thấy của mình hoàn toàn trong hốt hoảng đó là điều kiện mình nên cẩn thận. Có nhiều chỗ ở trong kinh Phật dạy “khi được ngợi khen khoan sung sướng đã, vì nếu hân hoan trước lời khen đó, thì các ngươi sẽ bị hại, sẽ bị chìm đắm. Khi bị chê trách cũng chớ buồn phiền, vì phiền buồn cũng bị chìm đắm”…
(Trích chọn sau khi nghe thời thuyết pháp của Hoà Thượng Thích Thiện Siêu, giảng đề tài. Lý duyên sanh – Thập nhị nhơn duyên, tại tiền vạn hạnh 1995)

————-&————

An Lạc Thân

Muốn thân an lạc ta phải luôn ghi nhớ, giữ gìn tâm nhẫn nhục, nhu hoà tuỳ thuận với người một cách khéo léo. Với áo giáp nhu hoà nhẫn nhục tự hạ thấp mình cho ngan hàng hay thấp hơn người để vững vị trí đứng của mình và lần hồi chuyển họ theo ta, đừng bao giờ nỗi nóng với người, phải bình tỉnh không để cảnh bên ngoài chi phối tâm, vì động tâm sẽ mất bình tỉnh không còn sáng suốt, lúc đó sẽ bị họ quật ngã. Tuy sống hoà hợp với nhiều người nhưng vẫn không bị đồng hoá, đó là điều căn bản quan trọng sống chung với người ác, chống họ ta sẽ bị giết, nhưng theo họ làm ác ta sẽ bị đọa.
Như Ngài Huệ Năng khéo tuỳ pháp tuỳ thuận vì nghiệp duyên Ngài sống chung với những người thợ săn hung dữ, Ngài cũng làm công việc săn bắn y như họ, nhưng không bao giờ bắn trúng, nên chúng bắt Ngài nấu cơm.
Khí bên trong Ngài giữ được tánh Phật, còn bên ngoài hiện tướng gì cũng được, phải tuỳ thuận nhưng có thái độ cương quyết truyền bá Phật pháp dưới mọi hình thức đưa người tới bờ giác, nhẫn nhục của Bồ Tát Pháp Hoa làm chúng sanh phải khuất phục, không phải sợ mà nhẫn.
Trong đời mạt pháp đa số người không đặt căn bản trên đạo đức vì vậy ta phải trang bị những đức tánh nói trên để giữ cho thân an lạc.
Cơm ăn, áo mặc, thuốc men, nhà ở hợp pháp và những liên hệ chung quanh chúng ta đều tốt đẹp, tất cả những việc này chỉ tạo sự an lành bên ngoài giúp ta tạm thời ổn định việc tu hành, nếu chúng ta dừng bước ở đây thì muôn đời vẫn là chúng sanh..
Đức Phật dạy nghiệp là nguyên nhân chính giả tạo cho thân ngủ uẫn thành dễ thương hay dễ ghét, còn ngũ uẩn thân vật chất mọi người đều giống nhau.
Ngài Huệ Tử Thiền Sư tham Thiền sử dụng nhất tâm tam quán, thấy được sai lầm tác hại của nghiệp đã làm cho Ngài thuyết pháp vẫn bị bỏ đói và bị thuốc độc, qua kinh nghiệm tu chứng Ngài dạy chúng ta rằng, khi thiên hạ đánh chưởi khinh chê, sĩ vả là tấn công cái Nghiệp của mình, chứ không phải tấn công mình, nhờ thiên hạ bắn phá Nghiệp ác rớt xuống, không còn vấn đề xảy đến với ta nữa.
Nghiệp theo ta như hình với bóng, chúng ta nhất định trả nợ quá khứ và không tạo Nghiệp tương lai, cuối cùng không còn nợ. Trái lại khi ta còn thừa của cải, thừa tri thức việc tốt đẹp tất nhiên chào đón ta……
(Trích lược giải kinh pháp Hoa)

—————–&——————-

Trích Lược Giải Kinh Pháp Hoa
“Trong thuở quá khứ, khi tiền thân Đức Phật là Thái Tử Tu Đại Noa, nguyện tu hạnh bố thí bất nghịch ý, Đề Bà Đạt Đa xin tất cả, xin vợ con và xin luôn cái đầu Thái Tử. Trong tâm niệm chánh thiện nhất việc làm của Đề Bà Đạt Đa đã nâng tâm của Thái Tử lớn lên đến cao độ nhất cao độ nhất thành tựu được pháp bố thí Ba La Mật, phải có người làm hạnh ác như Đề Bà đến xin mới có dịp bố thí, tạo môi trường cho Bồ Tát hành đạo”.
Vậy chúng ta suy nghiệm trong những chướng duyên chúng ta mới có thiện duyên.
“Có chướng duyên mới tạo ra thiện duyên tốt” có nghịch duyên mới tạo ra thuận duyên.
Khi giàu sang đầy quyền lực xem tâm mình ra sao, và lúc trắng tay mình cảm nhận thế nào? Ở trong cùng cực khổ đau có rơi vào tuyệt vọng không, có gặp cay đắng mình mới có điều kiện điều chỉnh thân tâm. Đức Phật xác định Đề Bà Đạt Đa là đại diện tri thức, là thắng phước nhân duyên giúp hành giả mau thành Phật.
Ý này trong kinh Duy Ma diễn tả bằng tư tưởng Bồ Tát, Duy Ma nhận chúng ma làm pháp lữ, nhờ ma làm đối tượng cho chúng ta phát triển Phật tâm, vì tu hành không chướng ngại không thể đắc được, hay vô ma khảo bất thành Đại đạo.
Riêng chúng sanh gặp chúng sanh thì quýt dày có móng tay nhọn, hay ăn miếng trả miếng, là cách xử sự thế gian. Ngược lại vì có người làm ác hại ta thiện tâm chúng ta mới phát sanh.
Vì thế từ vô lượng kiếp đến nay, bên cạnh Đức Phật có Đề Bà Đạt Đa đóng vai mặt đen để vai Phật sáng lên. Đề Bà mang mặt quỹ nhưng chứa đựng Phật tâm, không có Đề Bà chúng ta không thấy được tâm từ vô lượng của Đức Phật. Thật vậy sự hiện hữu của Đề Bà Đạt Đa xấu ác thường song hành bên Phật, thuần thiện đã làm nổi bậc trọn vẹn tư cách thánh thiện của Thế Tôn. Nhiều kiếp xa xưa Đức Thích Ca đã nhờ Đề Bà giáo hoá và hiện kiếp Đề Bà cũng tạo những chống phá thử thách giúp cho Đức Phật thể hiện lòng từ, thành tựu những hạnh khó làm. Điều này gợi nhắc chúng ta đối tượng tu hành theo pháp hoa là những người tệ ác….Càng tệ ác hành giả càng phát triển đạo đức mới thật sự tiêu biểu cho hành giả pháp hoa kiểu mẫu. Trong thời gian học kinh pháp hoa với Tiên nhân hay Đề Bà Đức Phật thể hiện tâm từ bi, nhẫn nhục, nhu hoà cao độ, diệt sạch tâm kêu mạn mới thành tựu trọn vẹn hạnh Bồ Tát Đề Bà bằng lòng đoạ địa ngục vì làm việc phá hoại xấu ác cho Đức Phật thăng hoa trên đường giác ngộ. Quả thật Ngài là Đại ân nhân, là đại thiện tri thức của Đức Phật, là người đáng được cung kính cúng dường, thể hiện hình ảnh của Bồ Tát nghịch hạnh, không phải con người mang tâm ác thật sự như phàm phu…
Điều cần thiết đối với chúng ta khi gặp khó khăn phải phát triển niềm tin về Tam Bảo mạnh hơn, sám hối nghiệp chướng cầu chư phật Bồ Tát gia bị cho chúng ta đủ sức chịu đựng những gì trần gian đổ trút lên, chúng ta đừng làm kẻ quỵt nợ, muốn ăn mà không chịu trả, không thể được vì nghiệp theo ta như bóng với hình. Chúng ta nhất định trả nợ quá khứ và không tạo nghiệp tương lai, cuối cùng không còn là con nợ – Trái lại khi ta có thừa của cải, thừa tri thức, việc tốt đẹp tất nhiên chào đón chúng ta.
Phật dạy nên thân cận những chổ tăng trưởng tri thức chúng ta, theo Phật dạy Bồ Tát an trú pháp không nghĩa là sống với trí bát nhã là chổ an trú tốt nhất của Chư Phật ba đời…
Bồ Tát sử dụng trí bát nhã qua lảng kính thập nhị nhơn duyên, thấy rõ nguyên nhân thúc đẩy ta đi thọ sanh hiện hữu trên cuộc đời, nguyên nhân cấu hợp của ngũ uẩn xa hơn quan sát ngủ ấm thế gian để biết vũ trụ là gì, đó là pháp không.
Trên bước đường tu học hành trì kinh Pháp Hoa Bồ Tát đối trước ba hạn thù nghịch này cũng phải rung sợ, đó là:

1- Tục chúng tăng thượng mạn
2- Đạo môn tăng thượng mạn
3- Tiếm thánh tăng thượng mạn.

Kết quả:

1 – Là người ngoài Phật Pháp
2 – Là hạn thế tục không hiểu đạo, chống ta
3 – Là những tu lâu lớn tuổi có nhiều tệ ác..

(Trích lược giải kinh Pháp Hoa của Thượng Tọa Thích Trí Quãng)

———–&————

.
“Kinh điển giáo pháp Đức Phật dùng để soi sáng tâm con người, thường được như ngón tay chỉ mặt trăng hay thuyền dùng qua sông.
Ngón tay hay thuyền dùng để diễn tả giáo pháp là phương tiện và soi sáng, nghĩa là tâm từ mở rộng, trí tuệ phát sinh mới chính yếu, ai nghe pháp mà trí tuệ không phát triển, đạo đức không tăng trưởng, người đó đã kẹt phương tiện. Vấn đề quan trọng ở điểm biết vận dụng giáo lý làm phương tiện sống của mình như ăn cơm, hay hơi thở hàng ngày để giúp chúng ta sống khoẻ mạnh. Nếu cơm và hơi thở này cứ mang vô mà không thải ra chắc chúng ta sẽ chết, cũng vậy phật pháp cứ gom vô làm cho chúng ta mắc bệnh giáo điều chẳng khác gì người chết vì bội thực, ăn không tiêu, cũng từ ý thức này Tổ có day:
Kinh điển lưu truyền tám vạn, học hành không thiếu cũng không dư, đến nay tính lại đã quên hết, chỉ nhớ trên đầu một chữ như.
Học cũng không thiếu cũng không dư mới quan trọng, nghĩa là học để tu, còn học nhiều để phiền não nhiều cũng vô ích.
Học đủ nhưng không giữ lại, vì giữ lại sẽ thành bệnh, nên chỉ nhớ trên đầu một chữ Như là tâm chơn như bình đẳng tuyệt đối, hay đó là trí tuệ của Phật, là đại viên cảnh trí của Duy thức học như một cái đài gương sáng, một viên ngọc MaNiChâu của Pháp Hoa.
Tất cả màu sắc hình ảnh đều hiện đủ trong đó, hành giả không giữ một cái nào nhưng có đủ, không có gì không biết. Học xong và tu là được rồi, tất cả bỏ lại phía sau lời nói là phương tiện để tâm hành giả thanh tịnh dần. Chỉ dạy bằng thân giáo. Ba năm ở Ma Kiệt Đà Đức Phật làm thinh không nói, Bồ Tát nhìn việc của Ngài mà làm theo, lần hồi đi sâu vào trạng thái tu hành, Tâm đây là Thân Giáo.
Thiền sinh, học hạnh thiền sư, không qua ngôn ngữ gọi là giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn trự không thuyết pháp, vì càng nói nhiều càng vướng mắc giáo tướng, ngôn ngữ vướng mắc nhiều trở thành hí luận tâm vọng động thêm…
“Dồn sinh hoạt cho việc phát triển trí tuệ, phiền não tự tiêu hao dần, đèn trí tuệ tự sáng, những phiền não nuôi tâm Bồ Đề, giám giáp mặt với phiền não, ăn nuốt tất cả phiền não, để biến thành trí giác làm lợi khí cho mình và tha nhân”.

———–&———

Đọc Tụng Kinh Pháp Hoa Là Ứng Nghiệm

“Tất cả các Vua hay Vua Thiện, Đề Bà xô Đá Đức Phật – A xá Thế thả voi say giết Phật – sát nhân vô não hại Phật hay người đàn bà mang bụng chửa vụ oan Phật, người hớt tóc hay một dân nữ..v.v..
Tất cả là những người đóng kịch trên sân khấu cuộc đời, vì dù tệ ác đến đâu sau cùng họ đều đắc quả La Hán, vì rõ ràng chỉ có một sát nhân vô não đắc A La Hán, một dân nữ thành thánh (Ma đăng già) một người hốt phân đắc quả…..
Vì thế dưới nhãn quan của Phật giáo Đại thừa, tất cả những người này đều là diễn viên xuất sắc làm sáng danh hình ảnh đạo đức thánh thiện của Đức Phật.
Tất cả đều chứng minh nghịch duyên là thắng duyên giúp hành giả mau đắc quả vô thượng Bồ Đề. Những Bồ Tát vào đời dưới dạng sát nhân, hạ tiện, vượt lên quả vị hiền thánh nhằm khích lệ khơi dậy tâm Bồ Đề cho những giai cấp thấp.
” Trong lịch sử tôn giáo chưa có vị giáo chủ nào ký thác người bài xích mích thành Phật (giáo chủ) bao giờ, chỉo có phật giáo Đức Phật mà thôi, như sát nhân vô não, Đề Bà Đạt Đa….v.v…
Chưa có tôn giáo nào, ai giám chui vào địa ngục bao giờ chỉ có Phật giáo mà thôi như: Ngài Địa Tạng đã phát nguyện “Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật, chúng sanh độ tận phương chứng Bồ Đề”.
Đã phát tâm Bồ Đề rồi thì không bao giờ mất Bồ Đề tâm. Một khi đã phát tâm kết duyên với Phật hạt giống Bồ Đề chỉ mạnh hay yếu, chứ không mất, hành giả sanh chỗ nào, có Bồ Tát thị hiện theo hướng dẫn tu hành vì đó là hạnh nguyên của các Ngài, Ngay như ở thế gian chúng ta nói phật nhập diệt nhưng thật sự Ngài thành Phật ở cỏi khác, bao nhiêu ứng hoá thân trong bốn loài khắp pháp giới, Ngài đều hiện hữu ai có căn lành đều gặp Ngài.
“Tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật. Trên lộ trình giác ngộ, các con hãy trị thắp đuốt lên mà đi, trong đại dương luân hồi các con là Hải Đảo của chính mình, Như Lai chỉ là Bậc Đại Sư trên nguyên tắc”
Lời Phật dạy.

———–&——–

Thiền Định
“Tất cả các quan năng đều khép lại, sự mống khởi của tư duy cũng chẳng còn chỉ có suối nguồn tâm linh đang trôi chảy trong giòng tương tục của chánh niệm và tỉnh giác”.

———-&——–

Trong xác thân dài một tượng này. Cùng với trí giác và tư tưởng, ta tuyên bố: Thế gian, nguồn gốc của thế gian, sự chấm dứt thế gian và con đường đưa đến sự chấm dứt thế gian.
Rohytassa Sutha.
(Trích Nguyệt san giác ngộ số 2 tháng 5 năm 1996. Phật lịch 2540)

Khi đã phát nguyện làm Huynh Trưởng.
Phải hiểu rằng:

Phát nguyện làm Huynh Trưởng là thực hành pháp thí của chư Phật, chư Bồ Tát.
Đức Đệ nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết.
Hoà Thượng Uỷ viên Giáo dục Tăng Ni
Thích Thiện Siêu
Hoà Thượng Cố vấn GĐPT Thích Đức Tâm.

Đều dạy rằng:

“Sự góp công góp sức xây dựng chùa tháp, cúng dường Tăng Ni là quý hoá, nhưng sự cúng dường của các vị sau đây lại quý hóa hơn.
Công khai hoặc âm thầm truyền bá Đạo Pháp, Đạo Pháp mới trường tồn.
Thường xuyên đến Chùa từ trẻ đến già không quản ngại khó khăn là trực tiếp hoặc gián tiếp giúp cho đồng đạo giữ vững tín tâm.
Làm Huynh Trưởng đào tạo một thế hệ trẻ tiếp nối đạo nghiệp của Phụ Huynh. Những người này có đức tính dõng mạnh, tính tâm bất thối mới làm được”.

(Tiếp nhận ánh sáng Tuệ Đăng nhân ngày Thọ Cấp Tín,
Tại Chùa Bảo Quốc 1974)

SỨC MẠNH THẦM LẶNG.

“Ai loan cô đồng thượng.
Thanh âm triệt cửu thiên”.

NGÀI CƯU MA LA THẬP

Kinh nghiệm sinh hoạt của Gia Đình Phật
TửViệt Nam quá trình mấy mươi năm, sinh hoạt vượt qua biết bao nhiêu gian khổ để tồn tại cho đến ngày nay là kinh nghiệm chuyển mình trong thầm lặng, càng xa mọi hào nhoáng của hình thức bề ngoài, càng dể trút bỏ những vuớng mắc để từng bước đi đến đích, đạt được mục tiêu, yêu cầu cụ thể từng nơi, từng lúc.

Hai mươi năm qua, biển tình tàn nhẫn đã tước đoạt mất của Gia Đình Phật Tử Việt Nam cái quyền sống về cả hai mặt củng cố tinh thần và phát triển tổ chức; nhưng đối trị bạo động chỉ có bất bạo động – Thế giới thầm lặng thật kỳ diệu! Hai con rồng tranh châu, có thể xẩy ra tình trạng trầy vi, xẻ trán, nhưng đối với con rồng nằm (tiềm long) là con rồng ẩn (ẩn long) thì không hề hấn gì và rất dũng mạnh. Cuộc đời của Ngài Đạt Ma, cái thời tả xung hữu đột “ tổ sư võ thuật Phái Thiếu Lâm” không bằng cái thời “bích diện-Thiền Sư”, suốt nhiều năm thầm lặng nhìn vào vách. Quãng đời của Ngài truyền đạo tại Trung hoa cũng có nhiều phiền muộn, nhưng cuối cùng sức mạnh thầm lặng lắng đọng từ Ngài là sức mạnh toàn thắng. Ngài Cưu Ma La Thập, tiếng nói thầm lặng từ đời Ngài với sự nghiệp phiên dịch vĩ đại, tân kỳ, mầu nhiệm; dẩu trong quá trình hóa đạo về phương đông, lắm lúc cũng gặp nhiêu trắc trở buồn phiền: Rồi dẫu
(Như con chim loan buồn thảm
Kêu trên cây Ngô đồng
Âm thanh của nó cũng thấu triệt, đến tận chín tầng trời)

“Ai loan cô đồng Thượng
Thanh âm triệt cửu thiên”

Từ bài học thầm lặng truyền thống trong Phật giáo, cấplảnh đạo Trung ương Gia Đình Phật Tử Việt Nam đã vận dụng như thế nào, trong cơn tai biến đầy lầm than, chua xót từ mấy mươi năm nay!
Nhớ lại cố Huynh trưởng Nguyễn Khắc Từ, bấy giờ hai mắt đã mù, trong khuôn khổ một hội đồng Huynh trưởng cấp Tấn GĐPT Việt Nam, thúc đẩy anh chị em cùng nhau rèn luyện, trau dồi thân tâm theo truyền thống tĩnh lặng của Đạo Pháp và Dân Tộc, tạo ra cái thế sinh hoạt thầm lặng, tổ chức thuần nhất theo cấp, từ Hội đồng cấp Tấn ở Trung ương, mở rộng Hội đồng cấp Tín ở tỉnh và thị xã, loan dần ra cả nước. Hình thức tổ chức vừa thầm lặng vừa tự nguyện, liên đới chịu trách nhiệm trong tinh thần tuơng thân tương trợ – Hình thức chỉ đạo và điều động trong thầm lặng vừa là phương pháp cũng vừa là chiến lược và chiến thuật; cứ lặng lẽ mà đi, cứ âm thầm mà làm việc từ tỉnh huyện, thị xã đến hạ tầng cơ sở, các đơn vị gia đình. Vì sinh hoạt không chú trọng hình thức bề ngoài, không địa vị, chức vị, bản vị cá nhân, nên tinh thần hòa đồng càng rộng rãi, sự thầm lặng càng thuần nhất, thu về đầu mối chỉ đạo, chặt không đứt, rựt không rời, do đó mà dễ tồn tại Đấy là sức mạnh thầm lặng, đấy cũng là lực lượng thầm lặng mà các Ban Hưóng Dẫn GĐPT trong một số tỉnh hiện nay cần học tập và rút kinh nghiệm. Điển hình là GĐPT Thừa Thiên trong mọi khó khăn hiện tại. Nên chăng các Huynh trưởng cấp Tấn, các Huynh trưởng cấp Tín của GĐPT tỉnh nhà nên ngồi lại, cùng chung lưng đấu cật với châm ngôn hoạt động:
1 – Thầm lặng xây dựng lực lượng GĐPT.
2 – Thầm lặng nung đức trí tuệ cấp Tấn
3 – Thầm lặng triển khai sinh hoạt Hội đồng cấp Tín!
Trong miên trưởng sinh hoạt thầm lặng “Dẫu buồn thảm như con chim loan cô quạnh Kêu trên cây Ngô đồng, âm thanh nó vẫn thấu triệt đến tận chín tầng trời.

TÂM ĐẠO PHAN XUÂN SANH.

Sơn bất tại cao hữu tiên tắc danh, Thuỷ bất tại thâm hữu long tắc linh.
Nghĩa là:
“Núi không cần cao, có tiên ở thì nổi tiếng, Đầm chẳng cần sâu, có Rồng ẩn thì linh thiêng”.

——–&——–

Đố, Giải Câu Đối Vui.
Rằng: Một em học sinh lớp 4 đi học ngan qua Bác thợ rèn, gặp trời mưa nên xin Bác vào ẩn, thấy Bác làm việc không nghĩ tay. Em thưa Bác mỗi ngày Bác làm được bao nhiêu tiền.
Bác thợ rèn thương tâm nói với em học sinh: Cháu giải câu này Bác thưởng ngày công Bác đang làm.
Em học sinh xin vâng ạ!
Bác ra câu đối sau:
“Than trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò, cũng nên sắt”
Em học sinh, cháu xin trả lời (Đối lại)
“Vở trong cặp, mực trong cặp, viết loáy hoáy cũng nên sách”.
(Bác nói cháu đối giỏi quá Bác thưởng em ba đồng là tiền công 1 ngày của Bác đấy)

Chuyện kể: Nguyên Phương

Phật Tử Và Giáo Dục Gia Đình.
Thái Hoà

Gia đình là nền tảng của xã hội, những phần tử sống trong xã hội, gánh lấy những trách nhiệm của xã hội, nếu họ xuất thân từ một gia đình có một nền giáo dục lý tưởng thì chắc chắn xã hội sẽ được nhờ vả nhiều ở những phần tử ấy. Ngược lại xã hội sẽ bắt gặp sự bất hạnh khi rũi ro có những kẽ cầm quyền quốc gia lại là những người con nổi tiếng là ngỗ nghịch lêu lổng trong một gia đình thiếu giáo dục!
Thế nhưng ngày nay trong xã hội quá nhiều ly loạn, đổ vỡ với một nếp sống khá vật chất, nhất là thiếu vắng một nền đạo lý nhân bản làm chất liệu nuôi dưỡng tâm hồn con người, để họ đủ trầm tỉnh và dễ tin, để khỏi dễ bị cuốn hút vào những cơn lốc của thời đại, gây nên những thảm kịch trong gia đình.
Biết rằng hầu hết gia đình Việt Nam ta chưa bi thảm quá về phương diện giáo dục con cái, nhưng với cái đà gia tăng đáng lo ngại, vì số lượng trẻ em phạm pháp như báo chí hàng ngày đăng tải, chúng ta bổng nhiên cảm thấy lo cho một viễn tưởng mà trong ấy có những đứa con đứa em chúng ta lần lượt thoát khỏi vòng tay uốn nắn của chúng ta chạy lạc vào vòng rào thép của những bạn bè lêu lổng của chúng, thì việc quan tâm đến một đường lối giáo dục gia đình, thiết tưởng là một công việc cấp bách và thường trực, mà những bậc làm cha mẹ phải có.
Công việc giáo dục uốn nắn một con người thật có qúa nhiều phức tạp, đòi hỏi khá nhiều kiên nhẫn liên tục và đa diện. Một người Phật Tử cần hiểu rằng: Tâm hồn con người có dị biệt, là do nguyên nhân của mọi trạng huấn dị biệt ở đời, một đứa trẻ trở nên tốt hay xấu phần lớn là do sự chiếu tỏa ảnh hưởng tâm hồn của cha mẹ lên nhân cách của nó. Từ lúc nằm trong thai, đứa con đã bẩm thụ được những trạng thái tâm lý, cũng như cách sinh hoạt của người mẹ rồi.
Cho nên vấn đề thai giáo rất cần thiết, thế nhưng thật tế ít người để ý đến. Trong suốt thời gian cưu mang, đứa con đòi hỏi nhiều của người mẹ những đức tính (tốt) cần thiết để nó trở nên một người con tốt sau này. Bởi vì như đã nói trên, đứa con sẽ lệ thuột khá nhiều (nếu không nói là tất cả) những gì mà người sáng tạo ra nó đang có những đức tính như bao dung, trầm tĩnh, những ý hướng thanh cao…của người mẹ là một phần tâm hồn của đứa con sau này, người mẹ phải ý thức được cái sứ mạng thiêng liêng của mình, hãnh diện và vui vẽ với sứ mạng sáng tạo ấy. Ngoài ra cách sinh hoạt của người mẹ hàng ngày cũng khá quan trọng: Mọi sự giản dị trong cách trang sức, sạch sẽ và thận trọng trong lúc làm việc, ăn mặc, nghĩ ngơi v.v…sẽ có ảnh hưởng tốt đến thai nhi.
Kế đó là vai trò của người cha không kém phần quan trọng, người cha phải khéo léo giữ gìn thế nào cho không khí gia đình thật thoả mái, để khỏi gây những xúc động buồn phiền, bất an nơi người mẹ; hơn nữa người cha còn hải biết cách dìu dắt, hướng dẫn cho dựng phụ hướng theo những đức tính cần thiết như đã nói. Bởi vì một mình người mẹ sẽ khó tránh khỏi những giây phút bất an trong tâm hồn vì bản tính nhạy cảm của đàn bà.
Qua giai đoạn thai giáo đến giai đoạn giáo dục thực sự là khi đức con cất tiếng chào đời.
Ngày nay cùng với nền văn minh thiên trọng lý trí, trong sự đặc sắc, nổi bật, do đó đã làm nảy sinh tâm trạng thích vượt hơn mọi người, tâm trạng này đã ảnh hưởng nhiều trên tâm trạng của những bậc cha mẹ có tham vọng muốn cho con mình trở nên đặc sắc, vượt hẳn trên mọi người, đây là đầu mối của những tính xấu như ích kỷ, kiêu căng…nhưng tai hại nhất là có thể tạo cho đứa trẻ một sự mất thăng bằng trong tâm hồn, vì lúc nào cũng lo âu áy náy, làm sao cho vượt trên mọi người. Nhưng rồi trên đỉnh vinh quang đó, đứa trẻ gặp phải tai nạn, sụ cô đơn giữa đám đông…vì đứa trẻ dễ mất đi khả năng thích nghi hoà mình với đám đông, và từ đó cũng với sự lớn dần của tánh ích kỷ, đức trẻ sẽ mất tình tương giao của nhân loại, một thứ tình cao đẹp nhất mà bất kỳ một học thuyết nhân bản nào cũng đề cao. Đó là chưa kể đến trường hợp lực bất tòng tâm, đứa trẻ chẳng may không đủ khả năng trổi vượt như cha mẹ mong muốn, lúc ấy chúng sẽ thấy khổ sở, và nếu tình trạng này kéo dài thì đứa trẻ sẽ đâm ra sợ hãi và chán nãn sự học hỏi nữa, cho nên cái lỗi lầm lớn lao của bậc cha mẹ là “Dạy con không phải vì con mà vì chính mình”, những hoài bão ước mơ mong muốn của mình lại bắt con phải thực hiện hay đạt đến, mà không thấy rừng mặc dù lê máu mủ của chính mình, nhưng đứa con vẫn là con người với tất cả chiều kích người của nó, nghĩa là nó cũng có những nét riêng khác với chúng ta.
Nói thế không có nghĩa là để cho đứa con hoàn toàn tự do mà không có sự uốn nắn của chúng ta, tuy nhiên uốn nắn một con người rất khác với công việc áp tập của những người hát xiệc. Con người là một cá thể có tinh thần toàn diện, một đường lối giáo dục tốt là làm thế nào cho mọi khả năng trong con người phát triển một cách quân bình, vừa có thể phát triển cá tánh, làm thế nào cho cá thể cá nhân trong cuộc sống xã hội, có đủ tư cách làm một người bạn tốt, một người cộng tác tin cậy, và nếu là một nhà lãnh đạo thì phải là một nhà lãnh đạo thân dân, có khả năng nghe và hiểu được tiếng nói đám đông chung quanh mình.
Đầu tiên là những bậc cha mẹ cần phải sáng suốt hướng dẫn con cái có tâm hồn biết say mê lý tưởng (chân chính), đây là chiều hướng làm người, làm sao cho đứa con nhận ra cái giá trị người, trong con người của nó, để có thể rèn luyện một đức tính cần thiết như: Bao dung, bình tỉnh, giản dị. v..v.. Phải thấy được nơi đứa trẻ nào ham mê vật chất mà tìm cách hướng dẫn chúng vượt khỏi cám dổ nguy hại làm hạ phẩm giá con người.
Ngoài ra cũng còn một điểm then chốt nhất trong việc giáo dục trẻ, mà những bậc cha mẹ thường ít để tâm đến, đó là việc tạo cho trẻ những thần tượng tất là những tấm gương sáng làm say mê tuổi trẻ. Thần tượng gần gũi nhất với trẻ con là cha mẹ chúng. Thành thử vấn đề tự giáo dục phải được các bậc cha mẹ đặc biệt quan tâm. Tự giáo dục tức là tự thăng hoa mình, đồng thời làm ngọn đèn sáng chiếu, hoá nhân cách lên tâm hồn đứa con nữa.
Đầu tiên là phải có “ngôn hành hợp nhất” Những gì dạy dỗ con cái thì cha mẹ thực hành trước. Ngoài chữ hiếu có tính cách thiêng liêng vĩnh cửu, con cái phải biết kính phục cha mẹ ở nhân cách nữa: mọi sự yếu đuối, thiếu tự chủ, hẹp hòi….cho đến những hành vi phản hại, có những lưòi mình dạy chúng, sẽ gây tai hại cho tính hiếu thảo ở trong lòng con trẻ, đồng thời sẽ gây ra cái nhìn lệch lạc về cuộc đời của chúng nữa.
Ngày nay với những sa đoạ trong xã hội, các thần tượng lần lượt bị đổ vỡ, tuổi trẻ cảm thấy bơ vơ, rồi từ trạng thái ấy bước sang tâm trạng bất kính và hành vi ngổ nghịch phá phách không một chút lý tưởng…đó là sự bất hạnh lớn lao của tuổi trẻ hiện tại.
Người ta chỉ còn hy vọng ở gia đình, vì đó là cơ cấu căn bản nhất của xã hội, nhưng nếu những bậc cha mẹ không ý thức được vai trò giáo dục của mình, thì khó hy vọng ở tương lai có những lớp người xứng đáng nắm giữ những vai trò trọng yếu trong việc chăm lo kiến thiết và xây dựng xứ sở.
Là Phật Tử với một lý tưởng đã chọn (bổn phận làm người học đạo giải thoát), chúng ta không thể không áp dụng những yếu chỉ có tính cách nhân bản giáo dục, như tôn trọng tinh thần, giàu lòng khoan dung, và với một nếp sống giản dị…. Ý chí tự lực tự cường cho việc hoán cải và huấn luyện con cái mình trở nên tốt đẹp…

——–&———-

“Làm thầy thuốc sai chỉ chết một người
Làm thầy địa sai chỉ chết một gia tộc
Nhưng: Làm văn hoá sai thì chết cả nhân loại”

———&———-

“Việt Nam là một nước có nhiều tôn giáo, trong đó đạo Phật là chủ đạo. Văn hóa Phật giáo có từ lâu đời ở nước ta, đa số người dân theo đạo ông bà và đạo Phật. Gai đình tôi theo đạo Phật, tôi không phải là Phật tử nhưng bản thân tôi có thiện cảm với tôn giáo nầy bởi lẽ đây là tôn giáo hòa bình, bao đung độ lượng, gần gủi và hài hòa giữa con người với thiên nhiên, do đó cũng rất hiện đại”.

(Trích Văn Hóa Phật Giáo số 46. năm 2007 Phật lịch 2551)

——&——

BÀN VỀ CHỮ HIẾU

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Các em và toàn thể con cháu yêu quý, nhân ngày rằm tháng bảy xá tội vong nhân và cũng là ngày báo hiếu cha mẹ bảy đời của con nhà Phật. Nhưng tại sao không bàn về chữ hiếu hơn là hiếu tiêu biểu trong đạo Phật.
Như chúng ta biết luân lý nước nhà chịu ảnh hưởng hai nền văn minh có chổ đồng mà cũng có chổ dị, nhưng cả hai đều do sự đô hộ của Trung Hoa sang, một là văn hoá của nho giáo, hai là văn hoá của Phật Giáo cũng truyền sang nước ta gần như một thời kỳ đầu thế kỷ thứ II hay thế kỷ thứ III sau tây lịch, nghĩa là cách đây tới 1800 năm, 1700 năm, nền văn hoá ấy có lúc tranh nhau có lúc hoà nhau, gây một ảnh hưởng sâu xa và hỗn hợp song đến nỗi khó phân giới hạn giữa luân lý nho giáo và luân lý Phật Giáo.
Bài luận của trưởng hôm nay chỉ là một cố gắng cỏn con để phân biệt chỗ sai khác nhau giữa giáo lý của Đức Thánh Khổng Tử và Đức Phật Thích Ca.
Như đã nói trên về phương diện con đối với cha mẹ, bây giờ xin nói trước về hai chữ Hiếu để của nho giáo, Khổng giáo dạy người thực hành đạo nhân mà gốc đạo nhân là Ái – Kính, vì vậy trong sự giáo hoa Khổng tử lấy hiếu để, làm trọng, người có hiếu trước hết phải nuôi cha mẹ, nuôi thì phải kính, không kính thì không phải hiếu, ý này thấy trong lời nói của Đức Khổng với môn đệ là Tử Dung, “Kim chi hiếu dã thị vi năng dưỡng, chí phần mã năng, giai năng hữu dưỡng bất kính hạ dĩ biệt hồ”.
Đời bấy gìờ cho việc nuôi dưỡng cha mẹ là hiếu, vậy chớ đối với chó, ngựa không nuôi sao? Nếu nuôi cha mẹ mà không kính, thì lấy gì phân biệt với thú kia.
Vậy nuôi cha mẹ cốt ở sự thành kính dầu phải ăn gạo xấu, uống nước lã cha mẹ cũng vui lòng khi cha mẹ còn không nên làm đều gì để cho cha mẹ lo buồn bởi vậy không nên đi đâu xa, có đi thì phải cho cha mẹ biết chỗ đi “Phụ mẫu tại bất viễn du, du tất hữu phương”.
Chẳng những kính cha mẹ mà phải kính luôn người cha mẹ tôn trọng, yêu những người cha mẹ đã yêu, nhưng vì Khổng gia chủ trương đạo hiếu trung nên dạy thêm không nên nhắm mắt theo những đều trái đạo của cha mẹ, trong trường hợp cha mẹ làm đều lầm lỗi phải tìm cách êm đềm dịu dàng mà khuyên ngăn, nếu cha mẹ không nghe thì lại kính mà không trái lễ, dẫu có điều đau đớn khó nhọc cũng không dám oán hận, để giải rõ điểm này Đức Khổng nói cha có con can ngăn thì không hẳn là đều vô lễ, kẽ sĩ có bạn can ngăn thì không làm đều bất nghĩa cho nên con theo mệnh lệnh cha mẹ há đã là hiếu, tôi theo mệnh lệnh của Vua há đã là Trung.
Ý thức như thế nên hôm nay xin đề cấp đến vấn đề Trung – Hiếu – Tiết – Nghĩa, Trưởng không muốn ràng buộc ở chỗ định nghĩa, phân tích tỷ mỉ theo cái học chú trọng bề sâu. Chỗ dụng tâm của Trưởng là dựa theo một vài trang sách sử Tàu và Ta, Xưa và Nay để tìm hiểu cái lý hư và thực tiềm tàng trong bốn chữ đó: Thế nào là Trung Hiếu? Sao cho phải đường phải lối, chứ không phải nệ một chiều để làm vật hy sinh cho cái đạo Trung- Hiếu như dưới thời phong kiến là: “ Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung, phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu”. (Vua sử bầy tôi chết, bầy tôi không chết là bất trung, cha sử con chết, con không chết là bất hiếu).
Phải biết rằng Trung với một ông Vua hay là với cả một nước. Hiếu với cha hay vì mù quáng, ngữa cổ cho cha giết để trở thành bất hiếu với cha.
Vậy thì chỉ có biết xét cái đáng theo là theo mới là Hiếu là Trung vậy. Nhưng Đức Khổng Tử không cho con đi tố cáo cha. “ Một hôm có thầy bảo Khổng tử rằng: xóm chúng tôi cứ lấy cái chẳng kà khiến mình, cha đi ăn trộm dê mà con đi tố tụng, Khổng tử đáp: người ngay thẳng xóm chúng tôi cư xử khác là cha che chở cho con, con che chở cho cha cái tật ở trong đó vậy. Lại nữa người có hiếu khéo nối được cái chí của cha mẹ, khéo noi được việc làm của cha mẹ, khéo là cái khéo biết phân biệt, cái chí của cha mẹ đã làm để xem cái gì hay thì theo, cái gì dở thì bỏ, chứ không gặp thế nào cũng phải nhắm mắt mà theo.
Từ trước đến nay thì nói về đạo hiếu khi cha mẹ còn sanh tiền, đối với cái chết của đấng sinh thành Đức Khổng Tử dạy: sanh sự chi dĩ lễ, tử tán chi dĩ lễ, tế chi dĩ lễ nghĩa là sống thì lấy lễ mà thờ, chết thì lấy lễ mà táng, lấy lễ mà tế.
Lễ là hợp thời, hợp nghĩa lý là vừa phải, chứ không thái quá hay bất cập. Nghĩa là vừa sức nhà giàu nghèo Khổng Tư lại nói: ” Phụ tại quan kỳ chí, phụ một quan kỳ hạnh tam niên vô cải ư phụ chi đạo, khả vị hiếu hỹ”.
(Cha còn sống phải xem cái chí của cha, cha mất phải xem việc làm của cha, ba năm không lỗi cái đạo của cha há gọi là hiếu vậy).

Trong Trần Trọng Kim phải hiểu câu ấy như thế này: lúc cha còn phải xem cái chí của cha có điều phải thì theo và có điều gì trái thì cang, việc cha đã làm mà có nên thay đổi thì phải hết ba năm tang chế rồi mới thay đổi, trước là để tỏ lòng bất nhẫn của người hiếu tử, sau là khi làm việc như vậy cần phải kính cẩn thận trọng. Tóm lại mà nói Khổng giáo dạy về chử Hiếu có mấy điều sau đây:
Khi cha mẹ sinh tiền thì phải hết lòng thương yêu là ái và phải hết sức phụng dưỡng với tấm lòng kính trọng đừng để cha mẹ lo buồn về mình, phải yêu kính tôn trọng những người, những vật được cha mẹ yêu quí, phải khéo nối chí của cha mẹ, khéo noi được việc làm của cha mẹ. Gặp khi cha mẹ lầm lỗi phải êm dịu cang ngăn nhưng không nên thẳng thắng đến nổi tố cáo cha mẹ, vì như thế trái với sự ôn hoà và lẽ trung dung.
Điều thứ hai: Khi cha mẹ chết phải lấy lễ mà Táng, lấy lễ mà Tế tuỳ gia kiệm ước, chớ nên thái quá, cử cha trong ba năm tang khó phải giữ gìn cái chí của cha, không nên thay đổi làm buồn lòng người qua cố, như thế thật là chi tiết, thật là rõ ràng, làm người là phải giữ như thế là hoàn thành đạo hạnh nhân thừa của nhà Phật, “ nhân thừa là đạo làm người.”
Nhưng đạo Phật đâu phải chỉ dạy đạo làm người, đạo Phật hoài bảo hơn cao hơn, đạo Phật tự đặt cho mình cái mục đích đưa loài người đến bậc siêu phàm, vì căn bản của loài người là siêu phàm, vì cái hoài bảo cái mục đích này cả hai điều xây dựng trên sự thật tuyệt đối, chứ không phải trên sự thật tương đối của thế gian, nên Phật giáo hình như ít chú trọng đến vấn đề luân lý nói chung, và vấn đề Hiếu để nói riêng.
Tuy vậy Phật giáo không phải quên hẳn việc đời và đạo Hiếu. Kinh Thiện Sinh có dạy những bổn phận của cha mẹ đối với con, của con đối với cha mẹ, bổn phận của thầy trò của vợ chồng, của bạn bè, của chủ tớ.
Con đối với cha mẹ kinh dạy: Giữ dĩ lễ sớm cùng khuya có việc gì phải làm giúp đở, phải thương nhớ đức cù lao, khi yếu đau phải chạy chửa trăm chức sự yên lòng dạ, chỉ vắng tắt như vậy thôi nhưng bao hàm nhiều ý nghĩa, giữ đủ lễ là Kính, phải thương nhớ là Ái, phải giúp đở lo thuốc men là Dưỡng, chăm nom chức sự cho yên lòng cha mẹ, tránh những lo buồn cho cha mẹ, đối chiếu với nền luân lý đạo Nho thì thấy bao nhiêu đó cũng đủ rồi và hai bên có nhiều chổ rất đồng một việc phụng thờ cha mẹ trong lúc sanh tiền.
Trái lại đạo Phật không nói đến bổn phận của người con đối với cái tử và táng hoặc có đề cập đến lại nói rất ít, đây là điễm bất đồng căn bản của hai giáo lý.
Đạo Nho đặc biệt chú trọng đến việc tang chế, vì đạo Nho cho cái chết là còn cho nên có chổ dạy ‘sự tử như sự sinh’ thờ kính cha mẹ chết y như lúc còn sinh tiền, rồi phải tế lễ kể như cha mẹ còn tại thế, mỗi bữa phải dâng cơm cúng nước.
Đạo Phật khác, lại quả quyết rằng các vong linh sau 49 ngày là phải tuỳ nghiệp lực dắt dẫn mà phải chịu sự quả báo, hoặc lành, hoặc dữ trong sáu nẻo luân hồi, chứ không tự do quanh quẩn theo con cháu trong cỏi vô hình được, mà dầu trong khoảng 49 ngày đi nữa đã ra người thiên cổ cởi bỏ xác thịt thì cái dục khí cụ dùng để tiếp xúc với đời, thì lấy gì mà hưởng những phẩm vật mà tế lễ, mà dâng cúng, dùng tiền bạc để sắm đồ tế là một lảng phí vô ý thức, giết trâu, mỗ lợn mà tế là phạm tội đại bất hiếu vì tạo nghiệp ác để vong linh cha mẹ chịu trách nhiệm lấy. Kinh Địa Tạng nói: ở đời ai khỏi tạo nghiệp dữ, mỗi những cái nghiệp không hay của cha mẹ tạo nên lúc còn sống đã quá nặng rồi, nở nào làm cho các nghiệp ấy nặng thêm bằng việc sát hại thú vật để tế lễ, thế chẳng khác người đi đường mang vác hành lý quá nhiều rồi, mà mình còn bắt mang thêm nhiều vật khác nữa.
Vì vậy Kinh Địa Tạng dạy, muốn báo hiếu khi cha mẹ chết thì nên đem tâm thanh tịnh đọc kinh cầu nguyện, xuất tiền làm việc bố thí để cho hướng linh trong mười phần được một công đức thiện nghiệp.
Người Phật tử có thể hối tiếc một việc là cha mẹ không sống thật lâu như ý mong ước để lòng lo phụng dưỡng cho thoả mãn, thoả lòng, “ Cây muốn lặn mà gió chẳng ngừng ” dầu là tiếng than thở não nùng của người con hiếu thảo phải đạo, muốn sớm khuya hầu hạ mãi mãi mà luật vô thường lạnh lẽo không chịu.
Nói tóm lại người Phật tử tự thấy mình có nhiều bổn phận đối với người song thân quá cố, nhưng lại những cái bổn phận đối với thiêng liêng bất diệt của tâm linh, chứ không phải đời sống vật chất mà người đời lầm tưởng còn tiếp tục trong cõi sống của hương hồn. Cần phải nhận thức rõ điều này.
Nếu muốn sử dụng đúng với chân tinh thần Phật giáo trước hết Trưởng cần phải thêm mấy lời. Người Phật tử chân chính phải đừng câu nệ tiếng thị phi, khen chê của khách bàn quan, mà phải sống trung thành vì giáo lý của Đức Bổn Sư, chống lại mọi thành kiến sai lầm hay phong tục hũ bại, đừng sợ người đời chỉ trích những hiếu sự nghịch đời của mình, chỉ cái chính nghịch đời ấy là cái hợp đạo, nghỉ đến những cái nghịch đời ấy là cái hợp đạo, mà cũng đừng có ý muốn mua chuộc tiếng phong tặng của đời, đời khen là trái với đạo đó. Hiếu theo đạo Phật mới chính là Hiếu, chỉ có người thông suốt chân lý mới giữ được, hành được vì nó ăn về bề sâu, thấu đến chỗ u uất nhất của tâm hồn. Những cái Hiếu khác là cái Hiếu bên ngoài ai làm cũng được, và cũng có thể mượn người khác thay mình mà làm.
Cái tâm niệm của người Phật tử hiếu thảo là vô giá không hề mua chuộc được, coi thường như không có gì là trọng, là lớn mà nó nặng vô cùng và bao la không bờ bến.
Không như cái hiếu tế lễ thờ cúng dẫu có đồ sộ đến đâu cũng phải có chừng mực, ranh giới vì thuộc phạm vị hữu hình…
Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiều Liên bồ Tát.

*****&*****

Câu đối:
Bút thụ hữu hoa huynh đệ lạc
Thư điền vô thuế tử tôn canh
Giải:
Bút thành cây dễ trổ ra hoa, mặc sức anh em vui thú
Sách là ruộng không cần nộp thuế, tha hồ con cháu
cấy cày…

Hội Đồng Hương Tộc, Làng, đại diện 43 họ tộc và quý đạo hữu phật tử ở trong và ngoài nước tham dự lễ cầu an đầu năm Đinh Hợi(2007) tại chùa An Bằng

—–&—–

Mái chùa che chở hồn dân tộc hay mái chùa Việt Nam

Từ mấy ngàn năm nay, Phật Giáo và Dân Tộc Việt Nam gắn liền nhau. Phật Giáo thịnh Dân Tộc thịnh Phật Giáo suy Dân Tộc suy, như dòng sữa ngọt, nuôi dưỡng tinh thần dân tộc Việt Nam, như dòng suối mát thấm sâu vào lòng đất mẹ Việt Nam.
Phật Giáo, ngoài kho tàng kinh điển cao thâm, ngoài giáo lý nhiệm mầu, người ta còn nghỉ đến mái Chùa cong cong, cổ kính, nép mình khiêm nhường trong thôn xóm đìu hiu.

Thấp thoáng đâu đây cảnh tượng làng
Có con đường đỏ chạy lang thang
Có hàng tre gợi hồn sông núi
Yên lặng chùa tôi ngập nắng vàng

Có những cây mai sống trọn đời
Bên hàng tùng bách mãi xanh tươi
Nhìn lên phản phất hương trầm toả
Đức phật từ bi mĩm miệng cười.
(Huyền Không nhớ Chùa)

Thật là đạo vị biết bao! Dễ thương biết bao ngôi chùa là tất cả cái gì cao qúi của dân tộc Việt. Chùa tượng trưng cho quê hương dân tộc.
Quê tôi có gió bốn mùa
Có trăng giữa tháng, có chùa quanh năm
Chuông hôm gió sớm trăng rằm
Chỉ thanh đạm thế, âm thầm thế thôi
(Nguyễn Bính – mây tần)
Ngôi Chùa với mái phủ rêu xanh vẫn trơ gang cùng tế nguyệt qua tháng năm, như dầu trải qua bao cuộc thăng trầm trong lịch sử quốc gia Việt Nam vẫn trường tồn:

Chùa đứng hiền lành tự thưở xưa
Hồn dân gởi gắm tự bao giờ
Tổ tiên bồi đắp qua năm tháng
Nối tiếp không ngừng lớp tuổi thơ.

“ Huyền Không ngày vui Dân tộc”.

Vào những đêm trăng thanh sân chùa thật đẹp dân làng đi lễ chùa thật đông.

Lễ tắm Phật nhân ngày Đản Sanh của Ngài

Mỗi tối dân quê đón gió lành
Khắp chùa dào dạt ánh trăng thanh
Tiếng chuông thức tỉnh lan xa mãi
An ủi dân lành mọi mái tranh
(Huyền Không – Nhớ Chùa)

Và nhớ đi tìm đàn em bé, nô đùa dưới ánh trăng ngà, ngoài đồng ruộng hay dưới ánh trăng ngà, trong sân chùa:
nhạc phẩm – Tìm Đâu?

Ngày mười bốn, ba mươi người dân quê lo tắm gội sạch sẽ, sữa soạn hương hoa, lên Chùa lễ phật lạy sám hối. Đây là dịp để cho người ta thăm hỏi nhau, cho tình láng giềng ngày thêm thân mật.

*
Trầm đốt hương thơm bay ngạt ngào
Thôn trên xóm dưới dạ nao nao
Dân làng tắm gội lên chùa lễ
Mười bốn, ba mươi mỗi tối nào
(Huyền Không – Nhớ Chùa)

Ngày xuân, Chùa cũng là nơi để cho các cô gái đến lạy phật, nguyện cầu cho duyên may phận đẹp. Chùa lại được điểm tô thêm tà áo đủ màu của các cô gái đang độ thanh xuân:

*
Đầu xuân cùng em đi
Lễ chùa này vườn nắng tung bay
Và ngàn lau vàng màu khép nép
Bãi sông bay một con bướm đẹp

(Phạm Thiên Sư – Nhạc Phẩm.
Em Đi Lễ Chùa Này)

Phật tử các giới tham dự lễ Phật Đản tại chùa An Bằng

Chùa như điệu nhạc linh thiêng dẫn tâm hồn con người vào cõi thanh tịnh:

An tịnh làm sao khúc nhạc thuyền.
Lắng lòng tu niệm vượt trần duyên
Trăng trong khêu gơị hồn thanh tịnh
Gió mát ngân vang đạo diệu hiền
(Thích Thiền ấn – Nhạc Thuyền)

Đặc biệt nhất là tiếng chuông chùa, tiếng chuông như giọt nước cành dương xoá tan bao u sầu phiền não trong lòng nhân thế.
Giữa cuộc đời lầm tham đầy tham lam ích kỷ, tội lỗi xấu xa, người người chạy theo bã lợi danh, quay quần theo nếp sống phi nhân phi nghĩa, tiếng chuông Chùa làm lòng người dịu xuống, tâm hồn bớt căng thẳng.
Ta hãy nghe thi sĩ Trúc Điệp mô tả tiếng chuông Chùa:
Đây dư âm của hồn chuông quá khứ
Đương gào hôn thức tỉnh mộng thiên thu
Hởi sinh linh trong kiếp sống mê mù
Say đắm mãi cỏi lòng thêm đau khổ.

&

Chuông cảnh tỉnh vang lên lời kể lễ
Như khuyên cơn an ủi vạn linh hồn
Khắp trần giang mà vọng lại cố thôn
Cho tất cả một cái gì linh động.
(Trúc điệp – Tiếng chuông ngân)
Dân làng sống êm đềm theo nhịp chuông sáng, chiều. Đời sống hiền hoà như tiếng chuông chùa:

Vì vậy làng tôi sống thái bình
Sớm khuya gần gũi tiếng chuông linh
Sắn khoai gạo bắp nuôi dân sống
Xây dựng tương lai xứ sở mình
(Huyền không – nhớ chùa)

Hoà với tiếng chuông tiếng mỏ cũng ấm áp không kém. Mõ và chuông hoà thành âm thanh thật đặc biệt:
Thanh tịnh trong đêm thâu
Sự im lặng nhiệm mầu
Không gian vừa thoát đặng
Tiếng mõ vọng từ đâu

An tỉnh tâm hồn ta,
Vủ trụ gần như xa
Duy nhất trong tỉnh lặng
Thời gian là tiếng gà

(Thuyền Ấn – Tiếng mõ vọng từ đâu)

Oanh Vủ GĐPT Văn Nghệ cúng dường Lễ Phật Đản

Trong khung cảnh tịch mịch, tiếng chuông chùa ngân nga không làm tan mất không khí đạo vị chốn Thiền môn mà càng làm tăng thêm sự thanh thoát trong tâm hồn mọi người. Tiếng chuông chùa như lời nhắc nhở tha thiết của đấng Từ bi khuyên chúng sanh nên quay về Bến giác:
Trong làn không khí yên tỉnh, êm đềm, tiếng chuông thong thả, ngân nga, như đem mùi Thiền làm tăng vẻ đẹp của cảnh thiên nhiên. Lá cây rung động, ngọn khói thướt tha, bông lúa sột soạt, như cảm tiếng gọi của Mâu Ni muốn theo về nơi hư không tịch mịch.
(Khái Hưng – Hồn bướm mơ tiên)

Chuông Chùa, vượt thời gian và không gian, bao giờ cũng là thông điệp tình thương của bậc Đại giác:

Chuông không ngại ngày đêm mưa gió thổi
Chuông không vì sông bể núi đèo ngăn
Tiếng của chuông là bản thể xa xăm
Đây vọng lại mấy nghìn năm âm hưởng
(Trúc điệp – tiếng chuông ngân)

Suối từ tuôn chảy theo tiếng chuông dập tắc lửa hận thù cuồn vọng:
Tiếng chuông ngân nga trong bóng hoàng hôn xuống, hỡi Daniel ! Thanh Lương ở bên trời xa, anh có nghe tiếng chuông Chùa vọng lại không? Anh cứ tin tưởng ở tương lai nhân loại, hãy cầu nguyện cho suối từ của Đức Phật mau dập tắc lửa cuồng bạo của mọi người
(Nhất hạnh – Tình người)

Thiền sư Nhất Hạnh về thăm chùa An bằng

Trong lịch sử truyền giáo, phật giáo chưa từng làm đổ một giọt máu đào. Tín đồ đến chùa tin phật là vì Giáo lý cao thâm của đức Thế Tôn, vì niềm tin, vì đạo phật tượng trưng cho Từ bi chứ không vì bạo lực hay vì danh vì lợi. Phật giáo đến đâu là thích hợp ngay với phong tục tập quán của dân tộc đó và trở thành tôn giáo của dân tộc đó. Đạo Phật chỉ có tình thương chứ không có hận thù.
Có những lúc vì kế sinh nhai, hoặc vì hoàn cảnh chiến tranh, chúng ta phải xa quê hương yêu dấu thật là đau lòng cho kẻ ly hương:

Mai này tôi bỏ quê tôi
Bỏ trăng, bỏ gió, chao ôi bỏ chùa
Đem thân đi với giang hồ
Cây đa bến củ con đò lênh đênh
(Nguyễn Bính)

Lễ Tắm Phật tại chùa An Bằng

Xa quê hương, lòng ai khỏi thiết tha mong nhớ, nhưng nhớ quê là nhớ chùa:

” Chuông vắng nơi nao nhớ lạ lùng
Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung”
(Huyền không – Nhớ chùa)

Chùa của thi sĩ Trúc Điệp thật hiền hoà, thật đạo vị.

Viếng cảnh chùa xưa quá nhiêm mầu
Thiền Sư nhập định nói gì đâu
Chim kêu suối chảy hòa muôn điệu
Lá rụng thu về vẽ mấy câu
Không có trăng kia chìm đay nước
Thực hư đây nọ buột đêm thâu
Nam kha giấc mộng nay vừa tỉnh
Nước biếc non xanh đã bấy lâu.
(Trúc Điệp – Mộng Du Tăng Viên)

Dù có việc chi hờn giận nhau, đến chùa, ai cũng thấy lòng hoan hỹ, không khí ở Chùa hiền lành quá, không ai có thể ôm hờn giận trong lòng;
Cổng Chùa bao giờ cũng mở rộng không sợ trộm cắp, vì chùa quá nghèo, và có lẽ dưới lòng từ bi không ai còn có thể sanh lòng tham lam khi vào Chùa.
Một cảnh chùa nghèo nàn như vậy không thể ban phát vật chất lợi lộc cho ai hết, nhưng nhờ đó mà nó trở nên thân mật với mọi người. Ai muốn ghé chùa chơi cũng được, ghé vào giờ nào cũng được, cửa Tam quang gần như không bao giờ đóng. Nhà chùa không phải coi chừng kẻ trộm cắp, vì chẳng có gì đáng để trộm cắp…
(Võ Hồng – Mái chùa xưa)

Dân làng xem chùa như mái nhà thứ hai của mình, vì không khí ở Chùa quen thuộc như ở nhà. Đó là tình quê, tình dân tộc:
Thuyền của toàn dân chính quốc hồn
Là ngôi chùa nhỏ ở hương thôn
Tháng năm bao bọc tình sông núi
Ngăn gió ngàn xa bớt dập dồn
(Huyền không – Đây một con thuyền)

Chùa là tình cảm dịu hiền suối tuôn chảy dòng nước Từ bi, là nơi chất chứa bao tình cảm dịu hiền, nhưng chan hoà đạo vị, nơi mà lợi danh tiền bạc phải bỏ ngoài cổng:

“Quê hương tôi miền trung, sớm hôm chuông chùa nhẹ rung, tiếng muôn đời hồn tổ tiên kiêu hùng. Ôi! Uy nghiêm bóng chùa Từ Đàm, nơi yêu thương phát nguồn đạo vàng, qua bao giông tố, chùa Từ Đàm tôi vẫn còn.
Quê hương tôi là đây, sớm hôm hương trầm nhẹ bay vấn vương lời kinh chiều nay vơi đầy. Ôi! Thân yêu bóng chùa Từ Đàm, nơi Bắc Nam nối liền một nhà tay trong tay quyết vì loài người, đời lầm thang!!….
(Nguyên Thông vì Tâm Đại nhạc phẩm Từ Đàm Quê Hương)
Đất nước Việt Nam nơi bốn ngàn năm Văn hiến, có một lịch sử đầy kiêu hùng, anh dũng. Do đó tình yêu nước bao giờ cũng rạt rào trong lòng người dân Việt. Bảo vệ chùa đồng nghĩa với bảo vệ đất nước:

Lễ Cầu An đâu năm Đinh Hợi (2007)

Muốn sống còn lâu phải hướng về
Gắn liền nếp sống với quê hương
Chung lưng bảo vệ ngôi Chùa cổ
Bên mái đình xưa ruộng bốn bề.
(Huyền Không – Đây một con thuyền)

Trong cơn chinh chiến, mái Chùa thân yêu sao tránh khỏi được lằn tên mũi đạn, mái Chùa có thể bị sụp đổ, hoang tàn. Nhưng không vì sự tiêu điều đó mà chùa mất đi vẻ trang nghiêm cổ kính muôn đời; trái lại có khi nhìn thấy chùa bị đổ nát mà lòng dân càng yêu quê hương đất nước hơn.
Nhìn ngôi chùa mà mái trường lổ đổ, vết đạn đang nhẫn nhục cố khép mình sau bốn bức tường hàng rào cắt ngan.
Trân: Thấy rờn rợn và mũi lòng như đứng trước cảnh hăm doạ của tội ác chiến tranh, đối với niềm đạo đức hoà bình, trong khung cảnh nhuốm về suy vong ấy, bỗng dâng Trân thấy thương ngôi chùa một cách tràn ngập sâu xa, như thương một cái gì cao quí đẹp thuần tuý nhất của gia đình của quê hương chàng, hơn thế nữa của toàn nhân loại.
(Trương Tú – trở về ánh sáng).

Mái Chùa hoang của thi sĩ Lê Nghị cũng lạnh lẽo, rêu phong như thắm đượm tình đạo:

Mái chùa cũ chút hồn xưa
Ngói rêu cỏ mọc trên trưa nắng hồng
Trúc đào nở đỏ từng bông
Bên khe giếng mục biệt dòng nhạn bay
Mây trời trắng tượng ngủ say
Nắng mưa dưới núi tháng ngày có không
Ngõ chùa vắng áo Sư ông
Gió tung năm trước có mong chi về”

(Lê Nghị – Chùa Hoang)

Chùa là gia đình
Chùa là quê mẹ
Chùa là quê hương
Chùa là tình thương
Chùa là quốc gia dân tộc.
Mái Chùa tượng trưng cho tất cả thắm tình chất chứa trong trái tim, trong tâm hồn người dân Việt. Tình yêu quê hương gắn liền với tình yêu đạo Phật, yêu mái chùa thật đúng như lời nhà thơ Đạo Huyền Không:
“Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của Tổ ông”

Sưu Trầm nhân lễ tiểu tường của Bào muội.
Văn Thị Yên.
Pháp danh: Nguyên lành.

19 tháng hai Kỹ mão (5/4/1999)
(Mạnh xuân kỹ mão)

——&——

Lời Phật Dạy

Mọi vật ở đời không có gì quí giá, thân thể rồi sẽ tan rả, chỉ có Đạo ta là quí báu, chỉ có chân lý Đạo ta là bất di bất dịch. Hãy tinh tấn lên để giải thoát…

——&——

Niên Lịch Của Phật Thích Ca
(Theo kinh điển Đại Thừa)
Phật giáng sinh nhằm ngày 08 tháng 4 trước Chúa giáng sinh
642 năm. Nếu tính năm đức Phật nhập diệt thì trước chúa giáng sinh 544 năm.
19 tuổi xuất gia nhằm ngày 08/2
05 năm tầm học các đạo
06 năm tu khổ hạnh
49 ngày nhập định dưới cội Bồ đề
30 tuổi thành đạo nhằm ngày 08 tháng 12
49 năm thuyết pháp độ đời
80 tuổi nhập niết bàn nhằm ngày 15/2.

” Im lặng, nói năng như chánh pháp”.

——-&——
Ý NGHĨA CỜ PHẠT GIÁO.

LỜI NGỎ

Để đáp ứng sự tìm hiểu của quí vị Phật tử về ý nghĩa cờ Phật giáo, ngày lễ Vaisakha, giờ phút nhập từ bi quán và các biểu tượng trong Phật giáo như dấu Pháp luân, chữ Vạn, chữ A chúng tôi xin cúng hiến tập sách nhỏ bé nầy gồm mấy bài vừa biên soạn và mấy bài dịch từ báo thế giới (Anh văn) do Đạo hửu Nguyễn Khoa Việt.
Trông mong ý nghĩa trình bày trong các bài ngắn gọn nầy sẽ làm hài lòng quí vị, và quí vị sẽ thấy nơi biểu tướng Phật giáo kia tiềm tàng những gì là Đại hùng, Đại lực, Đại từ bi, đáng yêu và đáng kính.

TRÍ ĐỨC.
Ý- NGHĨA

CỜ PHẬT GIÁO

Hội nghị Phật giáo thế giới họp vào tháng 6 năm 1950 tại Sri Lanka (Tích Lan) đã chấp nhận và cho thông qua nhiều đề nghị và quyết định quang trọng. Một trong những quyết định ấy chú trọng về sự duy nhất hóa Phật giáo trên thế giới bằng sự nhìn nhận một lá cờ chung tượng trưng cho tinh thần duy nhất ấy. Lá cờ được chấp nhận có 6 sọc ngang ghi lại 6 màu hào quang của đức Phật sắp đặt tuần tự như sau:
Xanh đậm, vàng, đỏ sẩm, trắng, da cam, và một màu tổng hợp cuối biên phía bên kia.
Kỳ diêu ấy không những ghi lại hào quang và tinh thần của đấng Thế Tôn (Blesed One) mà còn là một tượng trưng của nền Phật giáo phục hưng trong giai đoạn cận đại.
Xuất hiện lần đầu tiên tại đảo Sri Lanka với nền phục hưng Phật pháp cuối thế kỷ trước. Lá cờ nầy không những riêng được thông dụng trên đảo, mà còn được Hội Ma ha Bồ đề bên Ấn Độ truy nhận ngay khi Hội nầy mới thành lập (khoản những năm đầu thế kỷ nầy).
Lá cờ với lịch sử tinh thần của nó được hầu hết các nước trên thê giới họp trong những ngày lịch sử tại CoLomBo (Tích Lan) đương nhiên xem như là sự tượng trưng của nền thống nhất Phật giáo Thế giới. Giá trị nó được công nhận ngay, đến nổi có người đề nghị một một lá cờ khác hình tam giác màu da cam với Asakan Dahamana Cakka (Pháp luân) chính giữa, mặc dù lá cờ nầy giản dị và nhiều ý nghĩa hơn cũng xin rút lui ngay.
Ngày nay lá cờ 6 sọc là một bảo vật cao cả của thế giới Phật giáo. Quá khứ và hiện tại đã được quy về một khối trong lá cờ này mà các màu sắc là những hào quang của Chánh pháp, dũng mãnh tỏa ra từ Bổn sư chúng ta và hòa hợp chúng ta với giòng suối vô tận của chân lý bất diệt.
Mặc dù liên hệ với quá khứ, lá cớ 6 màu là một công trình sáng tác của thời đại. Nó xuất hiện ra ăn nhịp với sự phục hưng của Chánh pháp trên thế giới ngày nay.
Vừa tượng trưng cho trí tuệ minh mẫn, vừa là nguồn gốc của giác tánh mặc ngộ, oai lực dũng cảm, để làm việc thiện đời nay, lá cờ Phật giáo thế giới tiềm tàng bao nhiêu chân giả phong phú tối cần thiết cho thời loạn ngày nay. Chỉ thấy lá cờ ấy phất phới trên khung trung cũng đủ cho tâm chúng ta hòa nhập với những điệu nhạc ái tha, trí chúng ta rung lên những ý niệm hòa bình. Lá cờ nhắc ta tỉnh ngộ và tự giác những bổn phận thiêng liêng và phục vụ nhân loại.
Xa tất cả những ý nghỉ hung bạo và chiến tranh, lá cờ Phật giáo chẳng hoen ố bởi một giọt máu đào, dầu của người hay của loài vật nó là một lá cờ vô song trong lịch sử nhân loại và vì thế nó tượng trưng của hy vọng và hòa bình.
Dưới bóng cờ nầy không thể có sự xâm lăng nào. Đó là lá cờ của công lý, của lòng thành kính mến yêu đối với Thánh hiền, nhân loại và sinh vật. Đó là lá cờ tượng trương lòng nhiệt thành đối với những kẻ khốn cùng đau khổ và chán não. Đó là lá cờ của tận tâm phục vụ chẳng chút vị kỷ, của sự cố gắng không ngừng, để đi đến hạnh phúc và hòa binh và trên tất cả, để đi đến cỏi Niết bàn an vui và xán lạng.
Chúng ta hy vọng nơi nào mà lá cờ nầy phất phới tung bay là nơi đó sẽ thoảng ra một hưong vị hòa bình hạnh phúc và trí tuệ, mặc dù là Tích Lan, Diến diện, Thái Lan, Ấn độ, Trung hoa, Việt nam hay Nhật bản, hoặc tại Âu châu, Mỹ châu, Phi châu hay trên những đảo lớn nhỏ tại Thái bình dương, Đại tây dương, Ấn độ dương, khi nào tất cả các đô thị cho đến các hang cùng ngỏ hẻm trên thế giới được thấm nhuần hương vị như thế, các mối xông đột sẽ dứt trừ và hòa bình sẽ thực hiện.
Đó là mục tiêu mà lá cờ đang kêu gọi ta đi đến, với lá cờ trong tay, và với sứ mệnh hòa bình của đức Phật trong tâm, chúng ta hãy băng rừng vượt biển, từ đất nầy sang đất khác, từ xứ nầy sang xứ khác, từ miền nọ qua miền kia, và từ đời nầy sang đời khác, cho đến khi sứ mệnh đầy thiện ý vô biên ấy lan khắp trái đất và hòa bình sẽ trở về với nhân loại.
Thật vậy lá cờ nầy là sứ giả của Chân lý và của từ bi vô hạn, lá cờ nầy khuyến khích ta cố gắng đi đến một kỷ nguyên mới đầy hy vọng ở hạnh phúc và hòa bình của thế giới, Chúng ta cầu nguyện lá cờ nầy sẽ trường tồn và phất phới tung bay mãi mãi với Chánh pháp bất diệt.
Trích dịch Tạp chí của
TỔNG HỘI PHẬT GIÁO THẾ GIỚI

Chúng tôi cũng đã từng cắt nghĩa hào quang 6 màu của Phật là kết tinh của 6 độ bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, mà phật đã thành tựu viên mãn. Với hào quang ấy tỏa soi đến 6 nẻo chúng sanh là Trời, Người, Ngạ quỷ, Súc sanh, Địa ngục, và A tu la, để độ thoát. Nhưng xét vẫn không ra ngoài ý nghĩa nói trên.

Ý- NGHĨA

NGÀY LỄ VESAKHA

Hiện nay trong khi thế giới đen tối vì sợ hãi, trong những lực lượng độc ác đang tàn phá các nước còn chiến tranh, trong khi những quyền tự do của con người bị những nhà độc tài vô nhân đạo dày xéo dưới chân họ, tôi nghỉ đến con Người cao cả đã đem lại hòa bình và thiện chí cho nhân loại đau khổ. Xưa kia cũng như ngày nay, khi thế giới đang quờ quạng trong bóng tôi của cô minh, theo đà lăn xuống vực thẳm, khi triều sóng văn minh của nhân loại gần tàn, thời một vị cứu nhân đã ra đời trong một ngày tốt đẹp để chỉ dẫn một đường sống, để mang lại một nguồn hy vọng cho nhân loại.
Hôm nay cũng trong ngày ấy, ngày trăng tròn, ngày lễ Vesakha, lịch sử nhân loại đã ghi một thắng trận lớn lao nhất và đã chiến thắng tất cả những cái gì là xấu xa.
Trong những ngày hắc ám nầy, lúc mọi sự đều vô thường, lúc số mệnh của thế giới lủng lẳng trên một sợi chỉ, lúc vận mạng của giống người đang mờ mịt, chúng ta cảm thấy, hơn bao giờ hêt, cần có một người như đức Phật để dìu dắt chúng ta ra khỏi đường mê.
Không nên chán nãn! Cũng ngày nầy (i) nằm dưới hai nhánh cây SaLa ở rừng Câu thi (Kusinara), đức Thế Tôn với tình thương nhân loại tràn ngập trong lòng, đã nói với tôn giả A Nan:
_ Đừng khóc, A Nan! Mọi vật hửu sinh hửư diệt đều phải tan rã, Thế Tôn cũng vậy. Nhưng chớ nghỉ rằng Thầy đã lìa các con. Đương còn Chánh pháp của Thế Tôn để dìu dắt các con. Phải xem Chánh pháp như ngọn đèn soi đường cho các con.
Phải ! Chúng ta có một di sản vô tận, là những lời vàng ngọc của đức Thế Tôn- Chánh pháp vô thượng – để chỉ đường chúng ta, an ủi chúng ta, khuyến khích chúng ta. Đấy là lòng từ bi đã chinh phục thế giới, đã chinh phục mọi kẻ hiếu chiến. Chúng ta phải theo những lời dạy ấy rồi chiến tranh tàn khốc sẽ chấm dứt.
Hởi các Phật tử ! Đừng ngại ! Những biến cố hiện nay đều là tạm bợ. Trên những đám mây mù hải hùng kia, một bầu trời quang đảng rực rỡ đang chờ chúng ta. Qua khỏi cơn giông tố rùng rợn, chúng ta sẽ được yên tịnh và sáng sủa
Dịch lời Ngài Tỳ Kheo JINARATAN

NHẬP TỪ BI QUÁN

Hiện tình nhân loại đang chìm ngập trong cảnh đau khổ hãi hùng. một cảnh đau khổ rõ rệt không phải từ đâu bên ngoài đem lại mà chính từ tâm niệm độc ác và bàn tay tàn bạo của con người gây nên, và cũng không thể mơ tưởng một năng lực nào bên ngoài có thể cứu thoát , nếu con người không chịu tự cứu. Do đó người ta dể dàng đồng ý với nhau rằng: muốn cho công lý còn được bảo tồn, muốn cho lẽ phải còn được nhìn nhận, muốn cho lương tri con người khỏi bị vùi lấp dưới thú tính bạo tàn, muốn cho nhân loại còn có hy vọng sống an lành bên nhau, thì cần nhất lòng từ bi cao cả của đức Phật phải được chúng ta, mọi người nhắc nhở luôn ở lời nói, quán tưởng mãi trong tâm tư và thi thố hằng ngày trên hành động. Thật vậy, hận thù không trừ được hận thù, chỉ có trừ bi mới trừ được hận thù, nhưng nếu từ bi cũng không còn được người ta nhắc nhở, khuyến khích, luyện tập hận thù thì nổi khổ của con người gây ra cho người sẽ không biết thế nào mà lường được. Một khi từ bi đã thiếu hẳn trong tâm thì với mọi thủ đoạn mưu mô, chực xáng xuống đồng loại những nổi thảm khốc mà nạn nhân là người xa lạ cũng như người quen thân,kẻ có tội cũng như vô tội; một khi từ bi đã thiếu hẳn trong tâm thì người ta chỉ việc nhắm mắt làm theo mệnh lệnh của ác tánh ma vương, chẳng đếm xỉa gì đến phải chăng, vinh nhục, lương tri hay tình nhân loại; một khi từ bi đã thiếu hẳn trong tâm, thì người ta không ngần ngại đảo lộn sự dữ ra sự lành, sự lành ra sự dữ, chánh ra tà, tà ra chánh, rồi nghiểm nhiên lấy đó làm vinh quang tự đắc.
Có người chủ trương tạo hòa bình bằng chiến tranh, gây hạnh phúc trên thù oán, nhưngđức Phật dạy chỉ có thể tạo hòa bình bằng hòa bình, gây hạnh phúc trên từ bi. Nhân chiến tranh không thể đưa đến quả hòa bình, nhân oán thù không thẻ đưa đến quả hạnh phúc. Dẫu rằng sau nhiều cuộc chiến tranh có thời gian hòa bình, nhưng đã nền hòa bình vương mang sầu hận không thể là nền hòa bình chân thật đáng mong muốn và đề cao, để có thể lãng quên nền hòa bình tạo bằng những tâm hồn hòa bình với tinh thần từ bi của Phật tổ.
Để un đúc lòng từ bi cần thiết cho đời sống an lạc mà ai nấy đều mong muốn, chúng ta phải cố gắng chiêm nghiệm quán trưởng đến đức tánh từ bi của đức Phật, nhất là trong giờ phút kỷ niệm đấng từ bi ra đời. Trong ngày Phật đản, chúng ta hãy cùng nhau nhập từ bi quán, tập trung tư tưởng vào đức tánh từ bi của Phật, đem đức tánh từ bi của Phật biến nhập vào tâm ta, rồi từ tâm ta tỏa ra mọi loài mọi vật. Với một tâm từ bi bắt chước theo Phật, ta mở lòng thành thật xót thương khắp cả, không thể ai thân sơ, sanh hèn, khônhg kể loài lớn bé. khôn dại.
Nếu chúng ta từ một người đến nhiều người, đem lòng thành thật nhập từ bi quán như thế từ hai phút đến hàng giờ, hàng ngày thì hiển nhiên chúng ta đã đem lại cho thế giới một giá trị tinh thần đầy ý nghĩa mà nhờ đó, nỗi thù oán sẽ bớt dần, đời sống an lành sẽ hiện về khắp nơi khắp chốn.
Quý hóa thay phép nhập từ bi quán ! Xin cầu mong ai nấy đều thấu cảm và thật hành.

*****&*****

DẤU CHỮ VẠN

Dấu chữ Vạn là một dấu nổi trước ngực đức Phật, là một trong 32 tướng tốt của Ngài. Vạn là vạn đức cụ túc, Phật đầy đủ muôn hạnh muôn đức mới có được tướng đó. Lại có nghĩa là cát tường hải vân , tức là với dấu hiệu đó chứng tỏ đức từ bi của Phật như đám mây lành che mát chúng sanh.
Thường ta thấy chữ Vạn được vẽ ra hai cách, một cách xoay từ tả sang hữu và một cách từ hữu sang tả. Như thế cách nào đúng? _ Có người vội nghĩ, cho rằng chữ Vạn của Phật khác với chữ Vạn Hitler, thế rồi hễ thấy chữ Vạn Hitler xoay chiều nầy liền nói chữ Vạn của Phật xoay chiều kia. Nói vậy không đúng, vì dẩu sao chữ Vạn của Phật đã có gần ba ngàn năm, còn chữ Vạn của Hitler mới xuất hiện thời Đức quốc xã sau nầy,đâu có có thể lấy chữ Vạn của Hitler làm định chuẩn để nóichữ Vạn của Phật xay như thế nầy như thế kia được ! Vậy muốn xác đáng hơn, chỉ căn cứ theo giáo lý. Theo Phật, phía hữu được coi như là Chánh đạo, nên khi Phật nằm thì nghiên hông bên hữu, tóc Phật xoáy ốc theo phía hữu, tướng lông trắng (bạch hào) giữa hai mi của Phật cũng xoay theo phía hữu, và khi đi nhiễu Phật, ta cũng đi xoay về phía hữu. Như vậy, dĩ nhiên chư Vạn của Phật là xoay về phía hữu. Nhưng chữ Vạn viết theo cách nào mới đúng là xoay về phía hữu?_ Tất phải là chữ Vạn viết theo cách trên đây, vì với cách nầy, ta thử vẻ ra một chữ Vạn lớn hơn trên mặt bàn rồi đi nhiễu quanh nó theo phía tay hữu, tất nó xoay thuận chiều theo phía hữu, còn nếu viết khác đi thì nó lại xoay nghịch chiều theo phía tả.
Phụ thêm vào chữ giải thích trên đây, ta được thấy trong triết học Ấn độ có hai dấu hiệu như hai dầu âm dương trong học thuyết Trung hoa, ấy là Svastika và Sauvastika. Svatika là dấu hiệu chữ Vạn xoay từ tả sanh hữu, còn Sauvastika là dấu chữ Vạn xoay từ hữu sang tả. Trên khuôn dấu của hội Mababodhi (Ấn độ) ngoài bức hình tượng trưng Phật, Pháp,Tăng chính giữa, có hai chữ Vạn chen vào hàng chữ chung quanh vẫn là dấu xoay từ tả sang hữu. Như vậy chữ Vạn mà ta thấy nhiều nơi dùng như cách trên nầy, nghĩa là xoay từ tả qua hữu như kim đồng hồ xoay là lối trình bày đúng đắn vậy.

*****&*****

DẤU PHÁP LUÂN.

Dấu pháp luân (Asakan Dhamma = TheWheel of the Law) là bánh xe Chánh pháp. Do những cái tăm gọp lại thành bánh xe, cũng như vậy, do những giáo pháp góp lại thanh chánh đạo, chánh pháp, nên Pháp Phật gọi là Pháp luân, và lần thuyết pháp quan trọng đầu tiên mà Phật đã thuyết cho 5 vị Tỳ kheo đầu tiên tại vườn Lộc Uyển, gọi là sơ chuyển Pháp luân (lúc nầy chưa tạo ra hình tượng tiêu biểu). Chuyển Pháp luân tức là chuyển pháp mà mỗi người phật tử có bổn phận nối gót Phật làm công việc đó để cho bánh xe Chánh pháp được lăn khắp và lăn mãi trên thế gian.
Lúc sinh thời Phật không dạy đến việc thờ phượng tượng ảnh, Ngài chỉ dạy các đệ tử y pháp tu hành. Nếu người nào thấy Pháp là thấy Phật, thấy Phật là thấy Pháp. Vì nhờ thấy Pháp nên thấy Phật, nhờ thấy Phật nên thấy Pháp (kiến kỳ pháp giả như kiến ngã, kiến ngã giả như kiến pháp. Hà tắc ? – Kiến Pháp cố kiến ngã, Kiến ngã cố kiến Pháp. – Vinya 555 P. 120 – Luật tạng). Có lẽ vì thế mà nhiều năm sau khi Phật diệt độ, các để tử vẫn tuân tuần ý chỉ, y pháp tu hành, chớ không có ý nghỉ tạo nên biểu tượng để chiêm ngưỡng, ngoại trừ thờ tháp Xá lợi và các Phật tích. Mãi đến năm 270 – 232 trước T.L. ( nhằm 270 năm sau khi Phật diệt độ) Hoàng đế Asoka (A Dục) nối nghiệp cha thống nhất Ấn độ và là một tín đồ đắc lực hộ trì Chánh pháp, ngoài việc phái các đoàn tuyền giáo ra ngoại quốc truyền bá Phật pháp, hoặc lấy Chánh pháp trị dân, ông còn dựng tháp, chôn trụ đá kỷ niệm các chỗ xưa kia Phật đã cư ngụ hoặc đã đi ngang qua. Nơi những trụ đá ấy mới bắt đầu thấy có khắc dấu hình bánh xe tượng trưng cho Chánh pháp, rồi mãi đến triều Sungas trị vì ở phương bắc và đến thời kỳ các vua Andhra trị vì ở phương nam hồi đầu thế kỷ thứ 2 sau Tây lịch, biểu tướng Pháp luân nầy lại được tạo riêng ra một hình thức như bánh xe tượng trưng cho Chánh pháp. Đến nay đấu hiệu nầy đã trở thành một dấu hiệu chính tượng trưng cho Phật pháp mà mọi người ít ai không biết.
Dấu hiệu Pháp luân thường được trình bày như một bánh xe gồm có vành, có trục va 8 hoặc 12 hoặc nhiều tăm. Nếu làm 8 là tượng trưng cho Bát chánh đạo, làm 12 là tượng trưng cho 12 nhân duyên, và nhiều nữa tượng trưng cho vô lượng giáo pháp của Phật. Ngày nay dấu hiệu Pháp luân ta cũng thấy in trên lá cờ quốc gia Ấn đô. Tuy vậy Phật giáo không công khai là một quốc giáo của xứ sở nầy, nhưng Phật giáo đã tạo cho Ấn độ về tinh thần một vinh quang lớn lao trong dĩ vãng và ngay cả hiện tại. Có lẽ vì vậy mà dân Ấn đã mặc nhiên lấy dấu hiệu Pháp luân làm lá cờ cao quý của dân tộc họ.

*****&*****

DẤU CHỮ A
A là mẫu vận đầu tiên trong 12 mẫu vận của Phạn tự và là chữ thứ nhất trong 50 tự môn, nên nó là căn bản của tất cả văn tự. Và phàm khi mở miệng muốn nói bao giờ cũng có tiếng A ra đầu, nếu bỏ A thì không có hết thảy âm thanh ngôn ngữ.Theo Phạn tự A có nghĩa là vô,không, phi, bản bất sinh, tức là ám chỉ cho bản tính của sự vật là tịch tịnh, vô vi, bất sinh bất diệt, và một tông phái Phật giáo là Mật tông thường chú trọng quán tưởng chữ A, lấy phép quán tưởng chữ A làm phép tu chính yếu, xem A là nghĩa Bồ đê tâm. Ngày nay dùng chữ A làm biểu tướng là có ý tiêu biểu cho sự tịch tịnh, cho Bồ đề tâm, cho Niết bàn, là những đúc tính mà hàng Phật tử hằng mong muốn. Tuy nhiên dấu hiệu nầy không được phổ cập bằng lá cờ, Pháp luân, chữ Vạn, nên cũng ít người để ý và nhận biết cho lắm …

————-&————

Sự Tồn Tại Của Tôn Giáo

” Tôn giáo trong tương lai phải là một tôn giáo của vũ trụ. Nó phải siêu việt một thượng đế cá nhân và tránh xa giáo điều thần học. Nó phải bao quát tự nhiên và tinh thần, nó phẩi dựa trên một ý thức tôn giáo, xuất phát từ thực nghiệm, thấy mọi sự vật và tinh thần như một thể thống nhất có ý nghĩa.
Đạo phật đáp ứng một định nghĩa tôn giáo như vậy. Và nếu có một tôn giáo nào phù hợp với nhu cầu khoa học hiện tại, thì đó là đạo phật”

Lời phát biểu của Aeiestein là nhà bác học số 1 của kỹ nguyên hạt nhân.
(Ghi lại trong dịp lễ thành đạo tháng 12 năm Canh Ngọ.)

——&——

Năm cái: “Triền cái” là
Năm sự ngăn che chướng ngại cho sự tu học đó là: Tham, sân, hôn, trầm trạo cử và hoài nghi. Còn gọi lại triền cái (triền là trói buộc).
Năm thừa:
Nhân thừa (tu ngủ giới)
Thiên thừa (10 thiện)
Thanh văn (4 đế)
Duyên giác (quản 12 nhân duyên)
Bồ Tát (Tu sáu Pháp Ba La Mật)

Năm thông: 5 sự thông suốt, 5 thần thông và ngoại đạo cũng có:
Thiên nhãn thông
Thiên nhĩ thông
Thần Túc Thông
Tha Tâm Thông
Túc mạng thông.

Năm minh: 5 tài nghệ tinh xảo mà Bồ tát cần học:
– Công xảo minh: Giỏi thả công nghệ.
– Y phương minh: Giỏi về nghề thuốc y dược
– Ngữ minh (thanh minh), giỏi ngôn ngữ địa phương.
– Nhân minh: Giỏi lý luận biện bác
– Nội minh: rành tâm lý con người hay giỏi về phật pháp.

Năm Uẩn: 5 loại mắt mà Đức Phật đạt được:
– Nhục nhãn
– Thiên nhãn
– Huệ nhãn
– Pháp nhãn
– Phật nhãn
• Nhục nhãn: Thấy sự vật trước mắt như con mắt phàm phu, nhưng phật thì không bị đánh lừa.
• Thiên nhãn: Thấy cả sự vật sau lưng, và cách vách, cách xa ngàn dặm.
• Huệ nhãn: Thấy rõ tục đế các phép.
• Phật nhãn: Thấy rõ chân đạo đệ nhất nghĩa đế.

Năm dục: 5 sự ham muốn: Tài, Sắc, Danh, Thực thuỳ là: (Tiền, sắc đẹp, tiếng tốt, ăn và ngũ) 5 yếu tố này gọi là 5 dục: “Công đức” (gu na) hay “dục tương dưỡng” vì nó nuôi lớn dục vọng đối với thế gian.

Năm đạo: 5 cõi trái sinh “Người, Atula, Địa ngục, Ngạ quỹ, Súc sanh”.

Năm lợi tử: Là thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ và tà kiến:
Đây là năm chấp trước của tu sĩ ngoại đạo có thể trừ khử nhanh chóng, lợi khi gặp Phật khai thị:
– Thân kiến: Là chấp thân này là tôi của tôi.
– Biên kiến: là thấy một bên (có, không) tôi có thân (vật) hoặc không có thân (tâm).
– Kiến thủ: là giữ chặt cái thấy của mình
– Giới cấm thủ: là giử giới không đưa đến giải thoát, ví dụ hành thân hoại thể để diệt tội.
– Tà kiến: Thấy sai
Năm căn:
– Tín căn
– Tấn căn
– Niệm căn
– Định căn
– Tuệ căn.

Năm lực:
– Tín lực
– Tấn lực
– Niệm lực
– Định lực
– Tuệ lực

Năm Uẩn: (nhóm)
– Sắc
– Thọ
– Tưởng
– Hành
– Thức
Trong đời sống thường nhật ” Thức ” là cái biết của sáu giác quan, và cái biết này không ai giống ai, do hoàn cảnh, do huân tập như cùng đi vào một khu rừng, mà nhà địa chất thấy khác, người tìm trầm thấy khác, người đi săn thấy khác, nghệ sĩ thấy khác v.v…
” Nhất niệm tam thiên: Ba ngàn thế giới hiện hữu trong khoảnh khắc của sự sống .
Nhưng có thể nói chắc chắn rằng cách thức sống như trên có thể hiện, nhận thấy trong tâm thức của mọi người.
Trong trường hợp Đức Thích Ca như bóng đêm bắt đầu dừng lại để nhường chổ cho những tia sáng ban mai đầu tiên, cảnh thức Phật chứa trong vũ trụ và chứa trong bản thân Phật Thích Ca đã hoà đồng làm một khối hài hoà và bừng nở.
Theo quan niệm của tôi (Daishkuikeda) quả chánh giác của Đức Phật Thích Ca là một cảm ứng xảy ra giữa hai cảnh thức Phật.
Đáp ứng tương đồng hay hoà nhập của các cảnh thức về sự sống không chỉ xảy ra ở trường hợp Đức Thích Ca – Đức Chúa Giêsu dường như cũng trãi qua đều đó, mặt dù mức độ chính xác của Ngài có vẽ khác với Đức Thích Ca. Sự chính xác của Giêsu khiến Ngài có nhận thức về sứ mạng của mình, do khiến Ngài có nhận thức về Sứ mạng của mình và do đó. Theo quan niệm của Phật giáo là sự hoà đồng cảnh thức Bồ Tát ở ngoài vũ trụ, với cảnh thức Bồ Tát ở trong tâm trí Ngài vì Bồ Tát là cảnh thức tồn tại dưới cảnh thức Phật, Bồ Tát thề nguyện cứu vớt chúng sanh trước khi bản thân Ngài tiến vào cỏi Phật ”
(Sách tham khảo. Sự thật nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội 1996 trang 96).

Phật Dạy:

Cho người tại gia 4 pháp an lạc cho hiện tại là:
-Tháo vác
-Phòng hộ của cải bằng nghề chân chính
-Làm bạn với thiện
-Sống đều hoà thăng bằng và bốn pháp tạo hạnh phúc cho tương lai đời sau là:
Lòng tin; Giới đức; Bố thí; và Trí tuệ có đủ tám đều như vậy thì giờ phút nào ở đâu chúng ta cũng xứng đáng là phật tử, không những lợi ích cho chính mình, mà còn lợi ích cho nhiều người khác nữa, cho nên Phật tử muốn hộ trì chánh pháp phải cần có trí tuệ thì việc làm mới thành tựu viên mãn….

———–&——–

Tổng Kết Về Đạo Đế Hay 37 Món Trợ Đạo:

Tứ Niệm Xứ
1. Quán thân bất tịnh
2. Quán tâm vô thường
3. Quán pháp vô ngã
4. Quán thọ thị khổ.

Tứ Chánh Cần
1. Tinh tấn ngăn ngừa những điều ác chưa phát sinh.
2. Tinh tấn dứt trừ những điều ác đã phát sinh
3. Tinh tấn làm phát sinh những điều lành chưa phát sinh
4. Tinh tấn tiếp tục phát triển những điều lành đã phát sinh.

Tư Như Ý Túc
1. Dục như ý túc
2. Tinh tấn như ý túc
3. Nhất tâm như ý túc
4.Quán như ý túc.

Ngũ Căn
1. Tín căn
2. Tấn căn
3. Niệm căn
4. Định căn
5. Hụê căn.

Ngũ lực
1. Tín lực
2. Tấn lực
3. Niệm lực
4. Định lực
5. Huệ lực.

Thất Bồ Đề Phần
1. Trạch pháp
2. Tinh tấn
3. Hỹ
4. Khinh an
5. Niệm
6. Định
7. Xã.

Bát Chánh Đạo
1. Chánh kiến
2. Chánh tư duy
3. Chánh ngữ
4. Chánh nghiệp
5. Chánh mạng
6. Chánh tinh tấn
7. Chánh niệm
8. Chánh định

Mặc dù người ở quốc độ nào đi nữa, khi muốn vào nước Phật phải có một giấy thông hành giống nhau, cùng đóng một khuôn dấu giống nhau đó là ” tam pháp ấn” không thể tự xưng là phật tử mà không chấp nhận sự ” vô thường, vô ngã” tất cả chúng sanh điều có khả năng thành phật và thật tướng…

———————&———————-

Tổ thường dạy:
“Kiến sắc phi can sắc, văn thanh bất thị thanh”
Nghĩa là: Thấy sắc đẹp không hệ lụy về sắc, nghe tiếng hay không dính dấp gì đến tiếng.
Hay câu:
“Ngộ thanh ngộ sắc như thạch thượng tài hoa, kiến lợi kiến danh như nhãn trung trước tiết”
Nghĩa là: Nghe tiếng thấy sắc như hoa hồng trên đá, thấy lợi thấy danh như bụi rơi trong mắt.

—————–&—————-

Nhất thiết chư pháp vô phi phật pháp.
“Tất cả các pháp đều là phật pháp”
Người tu hành xem nghịch cảnh là phương tiện tốt nhất, để giúp mình chóng thành phật quả.
Bởi thế Phật dạy: Đề Bà Đạt Đa là thiện hữu của ngài, vì nhờ có Đề Bà Đạt Đa mà ngài mau thành Phật, nếu không có những hạn người như chàng vô nảo, cô gái ngoại đạo vu oan cho Ngài, Vua A Xà Thế tìm cách hãm hại Ngài thì làm sao thấy được đức tính Đại hùng, Đại lực, Đại trừ bi của ngài.
Cũng vậy: Nếu không có nàng Kỉnh tâm thì làm sao biểu lộ được Đức tính nhẫn nhục của Ngài Quan Âm Thị Kính?.
Nếu không có sa mạc Qua bích, Núi Hy Mã Lạp Sơn, thì làm sao thử thách được ý chí cầu đạo dũng mạnh của ngài Đường Tam Tạng.
a/ Người học đạo, muốn được cứu cánh ruốt ráo, phải tim tòi học hỏi, không quản ngại gian lao nguy hiểm.
b/ Những thuận duyên, thuận cảnh giúp cho chúng ta dể tu, dể học. dể hành, mà những nghịch, duyên nghịch cảnh lại giúp cho chúng ta thành đạo quả….
“Thọ khổ để cứu vớt chúng sanh là hạnh tu, học duy thức chúng ta nắm vững lòng tin, chúng ta thấy rõ giá trị cao siêu của nó, nên lại càng tin tưởng mạnh mẽ vào tôn giáo của chúng ta, một tôn giáo không phải dựa trên giáo điều độc đoán, mà dựa trên thực nghiệm và lấy ngay nội tâm của con người làm nền tảng cho sự tu học của chính mình”.
Xem ” gương hy sinh của Bồ Tát Thích Quảng Đức” tự thiêu ngày 11/6/1963.

—————-&————-

Vifassana Mesitation
Và sự quay về phật giáo ở Ấn Độ

Nhờ vào sự đau khổ của con người những lời giảng dạy của Đức Phật một lần nữa được đề cao tại Ấn Độ nơi cách đây hơn 2500 năm.
“Nhà lãnh đạo tinh thần toàn cầu’ đã lập nên nền phật giáo thế giới. Mặc dù kỹ nghệ thiền định Vipassana được đức Phật giảng dạy từ lâu nhưng việc hiện tại, việc áp dụng này để hóa giải các đau khổ và nội kết trong đời sống thực triễn do công lao của SN GÔENKA một cựu kỹ nghệ gia người Miến Điện hiện là một đạo sư nổi tiếng thế giới về thiền định với sứ mạng cao cả là phục hồi nền phật giáo ở Ấn Độ”.

(Trích báo giác ngộ mới số: 20 năm thứ 21- phật lịch 2540 ngày 17/8/1996 trang 19, phật giáo quốc tế)

—————&—————-

“Trong luật pháp của bậc thánh, những ai thấy tội là thú tội mới đúng với chánh pháp và ngăn chặn ở tương lai”

*****&*****

PHẬT TÂM VÔ XỨ BẤT TỪ BI.

Từ người nghèo nhất, đến người giàu nhất, từ người giỏi đến người dở đức Phật không bỏ ai.
Tu hạnh xưng tán Như Lai chúng ta không những khen ngợi ông Phật đã chết, nhưng khen ngợi đức Phật pháp thân thường trú đang giáo hoá chúng ta, đang chỉ đạo hàng tỷ người trên thế giới…
Ai là người có tư cách khen ngợi Đức Như Lai, vấn đề tư cách người khen ngợi mới là quan trọng. Ví dụ: Trên bước đường tu chúng ta được những người tài cao đức trọng khen ngợi chúng ta mừng, vì đánh giá phê phán của những vị này mới có giá trị. Ngược lại người ác xấu chê chúng ta càng mừng, mà họ khen chúng ta càng sợ.
Đạo Phật tồn tại và phát triển lâu dài mảnh liệt nhờ những thuyết minh trong sáng để mọi người hiểu được và vận dụng được trong cuộc sống của mình tiến bước trên đường thánh thiện.
(trích lược giải kinh pháp hoa)

————&————

Nương vào phổ hiền lực để thấy Phật và khen Phật thì ở trần gian này có bao nhiêu chúng sanh có bao nhiêu Phật, Phật này là Phật tâm không thể xoá được.
Còn Phật đá ở Ấn Độ thì Hồi giáo đập bể như không, Phật tâm có hoạt tính vô cùng, rọi sáng pháp giới, truyền thẳng đến pháp giới, chúng sanh gọi là “Phật Tâm Vô Xứ Bất Từ Bi”.
Một mẫu chuyện Đề Bà Đạt Đa lăn đá hại Phật thả voi say giết Phật, cầm gươm chém Phật, Ma Đăng Già mang bụng chữa đồ thừa Phật “Rốt cuộc sinh ra loài rắn độc”. Đạt Đa luôn luôn đóng vai ác để đức Phật chóng thành Phật bởi vì ngài đã từ bi nhẫn nhục đã đành, phát khởi tâm Phật lại nhanh chóng.
Đem lòng từ bi thương muôn loài không bỏ một ai, ví dụ: như chúng ta ở vào thời nào cũng vậy, ở đâu cũng vậy, dù người dân hay anh em ruột thịt, họ hàng, làng xóm, láng giềng, có lúc cũng sân si tật đố, cải nhau, nhiết mắng nhau, nhưng ai nhẫn nhục, nhẫn nại được, kềm hãm được, đem tâm học Phật ra áp dụng được, nhịn nhục được, chịu sự chê bai được, im lặng được và sau khi yên ổn rồi. Mình lại tốt hẳn với người mà mình tức tưởi, mình giận dữ và nên biết rằng nhờ những người này mà mình thể hiện tâm đến chùa học phật, vì tâm đến chùa học phật khi chúng ta nghỉ đến và phát tâm thì dù súng nổ vang rền bên tai, chưởi bới xô xác lăng mạ mình, “thì chính họ đã lăng mạ họ chứ không phải mình” vì khi đó mình cứ nghĩ đến tâm đến chùa học Phật mà thôi…
Đó là những lời vàng ngọc mà đức Phật dạy chúng ta phải hành trì để thăng tiến trên bước đường tu hành mong cầu giải thoát, bởi vì khi họ sân hận, tật đố, giận dữ mà mình nói lại, mình tranh cải là mình cũng như họ luôn.
Ví như Đề Bà Đạt Đa làm như vậy (như trên) mà đức Phật chống trả lại thì tâm từ của Phật làm gì để lại cho nhân loại hôm nay phải tôn kính tin theo, làm gì có tâm Phật để chúng ta tu hành.
Hạnh phúc thay Đức phật ra đời
Hạnh phúc thay được nghe dịu pháp
Hạnh phúc thay tứ chúng đồng tu

————&————

Bốn Địa Điểm Chiêm Bái
Trong bốn địa điểm quan trọng liên hệ đến bốn sự kiện vĩ đại gây chấn động cả vũ trụ Chư thiên và loài người “Tứ động tâm”, nơi đức Phật Đản sanh; nơi đức Phật thành đạo; nơi đức Phật chuyển pháp luân; nơi đức Phật nhập niết bàn.
Phật nói tới bốn địa điễm có liên hệ đến đức Phật mà phật tử có thể đến chiêm bái đó là:
1- Nơi đức Phật giáng sinh ở vườn LumBiNi (Lum tỳ Ni) tại vùng biên giới Ấn Độ -NePan.
2 – Nơi đức phật thành đạo ở Bothigaya (Bồ đề đạo tràng).
3 – Nơi Đức phật chuyển pháp luân (Saranatho), tức vườn Nai gần (Benares)
4 – Nơi Đức phật nhập niết bàn ở Kusinara nay “là Kasia cách 32 dặm nhà ga Gorakhuyne”.
Đức Phật dạy rằng: ” Những người qua đời trong quá trình đi chiêm bái, với lòng có đức tin thì sẽ được sanh lên cỏi trời”.
Duy Tuệ Thị Nghiệp
“Cố nâng đời sống tinh thần theo lời phật dạy, tinh luyện tinh thần trong hiểu biết đặc thù của đức Phật để điều vật theo mô hình điều mà không điều, không qua lời nói cử chỉ, hành động, mỗi ngày sức mạnh tinh thần phát huy rộng lớn thêm, đến một lúc nào đó đắc đạo. Chúng ta sử dụng trọn vẹn Như Lai lực của chính mình đồng với đức Phật vậy”.

———————-&——————-

Năm Phần Hương.

Đức phật dạy chỉ có 5 phần hương:
– Giới hương
– Định hương
– Huệ hương
– Giải thoát hương
– Giải thoát tri kiến hương.
Năm phần hương này mới có khả năng bay ngược gió. Bồ tát không dùng hương nào khác ngoài 5 phần hương này để dâng cúng Phật.

———&———–

Đức Phật Từng Răn Dạy:
Trạng kinh tỳ ni là mạng sống của tăng già, nếu trạng tỳ ni còn thì phật pháp còn, trạng tỳ ni diệt thì phật pháp sẽ hoại diệt.

———-&————

Đời Huynh Trưởng
Nói rất ít – Làm thật nhiều – Làm những gì cho đàn em thấy được mà noi gương mình.
Phát triển và đi đúng mục đích, Tôn chỉ của GĐPT, uốn nắn Huynh trưởng và đoàn sinh lệch lạc, sinh hoạt tu học theo đúng Nội quy và Quy chế Huynh trưởng, thăng tiến tổ chức ngày càng vững mạnh, không tranh chấp địa vị cấp bậc trong GĐPT. Song cấp bậc, chức vụ trong tổ chức này phải được tôn kính. Đó là những điều cần thiết của người Huynh trưởng điều khiển Huynh trưởng và đoàn viên GĐPT.
Huynh trưởng là đầu não của tổ chức, gia đình còn, mất, hưng thịnh là do ở Huynh trưởng, phải ý thức được sứ mệnh của mình.
1-Sứ mệnh của người huynh trưởng:
Nhìn lại tình trạng của thanh thiếu nhi, văn minh vật chất thao túng kéo luôn một lớp tuổi trẻ vào vòng sa đoạ, trước hết huynh trưởng phải đau xót đến cảnh thương tâm ấy sự đau xót bắt buộc huynh trưởng phải hành động, do đó sứ mệnh của huynh trưởng GĐPT là: “Tham hội, lo cho con em của hội”. Lo cho lớp tuỏi trẻ, phải can đãm nhận lấy sứ mệnh đó là điều tối cần.
2-Hướng đi của huynh trưởng:
Biết sứ mệnh chưa đủ “phải biết hướng đi của tổ chức”. Có biết hướng đi huynh trưởng mới mạnh dạn, mới tin tưởng vào việc làm của mình, bầu nhiệt huyết mới sôi nóng để xông pha vào công việc. Muốn nhận được hướng đi, phải nhận xét hoàn cảnh chung quanh, thực trạng của xã hội, tinh thần của dân tộc, những đòi hỏi tuổi trẻ phải có một hướng đi phù hợp, hướng đi của huynh trưởng phải được xây đắp trên các căn bản chính.
– Thực hiện giáo pháp Đức phật
– Hợp với dân tộc tính
– Thoả mãn nhu cầu tuổi trẻ
a/ Là phật tử, đời sống huynh trưởng phải là hình ảnh trung thành của đệ tử phật, phải học hỏi giáo lý, áp dụng phương pháp giải thoát vào đời mình và để rồi truyền vào đời các đoàn sinh là đàn em của mình.
b/ Hợp với dân tộc để khỏi phản bội quê hương xứ sở, để hoà đồng với quần chúng, để sống còn với đất nước.
c/ Thỏa mãn nhu cầu của tuổi trẻ, mới thu hút được đoàn sinh.
Nhu cầu tuổi trẻ là động, dùng sự bắt chước để hướng dẫn các em nhận rõ hướng đi của mình rồi, mọi sự sinh hoạt của huynh trưởng mới hướng về chính đích.
3 – Để thành công:
Điều kiện trước tiên là phải làm gương mẫu “Dỉ thân tác chúng” giáo dục bằng chính hành động của mình, mới tác dụng sâu đậm vào các em. Thứ nữa phải cầu tiến, các em tiến, huynh trưởng dừng lại tức là đi thụt lùi.
Thứ ba là cần phải kiên tâm, nhẫn nại, từ hoà, biết thưởng mà cũng phải biết phạt.
Thứ tư: Dũng mạnh để kích động các em, gặp khó huynh trưởng phải lăn vào trước, được vui cho các em hưởng trước, làm sao cho các em thấy được huynh trưởng hoạt động cho trẻ, vì trẻ.
Kết luận:
“Cứu được một người lớn chỉ cứu được một người, cứu được một trẻ nhỏ là cứu được một bản tính nhân”.
Phải lấy kết quả để gây nhân, và cũng phải nhìn rõ “quả” để tạo “nhân”, thấy được như thế huynh trưởng quả thật đã làm một việc hết sức cao cả, tôn quý đối với đạo pháp, đối với dân tộc…

—————–&——————

Thế Nào Là Đáp Đúng Pháp
“Vì đấng Vô Thượng Chánh Đẳng Giác ở đời quá khứ đồng với ta, đấng Vô Thượng Chánh Đẳng Giác ở thời vị lai đồng với ta. Nhưng nếu bảo ở thời hiện tại mà có hai vị phật xuất hiện ở thế gian cùng một lúc thì không thể có sự kiện đó”.
(Trích trường A Hàn trang 626, kinh tự hoan Hỹ).

*****&****

Định lý duyên khởi.
Định lý duyên khởi là một định lý cơ bản của phật giáo do đức Phật đã giác ngộ và chỉ lại cho chúng ta, với một cái quy luật, thử hửu cố bỉ hửu, thử vô cố bỉ vô, thử sanh cố bỉ sanh, thử diệt cố bỉ diệt. Trong kinh pháp hoa có một câu dạy rất đặc biệt câu đó là:
“Các đức Phật chỉ vì một việc trọng đại duy nhất mà ra đời đó là: Vì khai thị cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật”.

————–&————–

Trích “Kinh Thiện Sinh”.
Đối với Nam Nữ cư sĩ, những người có các bổn phận đối với tự thân, gia đình, đoàn thể, tôn giáo và xứ sở, đức Phật đã rất thực tế giảng dạy qua nhiều bước thực tập. Bước căn bản thứ nhất, theo kinh ” thiện sinh” (Si gà la ka, Digha nikaya, No 31) là từ bỏ bốn tà nghiệp:
Sát sanh, Trộm cắp, Tà hạnh và Nói dối; không tiêu phí tài sản qua sáu ngõ: Uống rượu mạnh, lang thang trên đường phố phi thời (ngoài giờ sinh hoạt của dân chúng) ; tham dự các tổ chức đình đám, đánh bạc, làm bạn với kẻ xấu, và nhàm cư.
Ngoài các điều vừa nêu, người cư sĩ cần sống giữ gìn tốt sáu mối liên hệ gia đình và xã hội: Liên hệ giữa bố mẹ và con cái, giữa chồng và vợ, giữa thầy và trò, giữa các bà con thân nhân láng giềng, giữa tu sĩ và cư sĩ, giữa chủ và thợ. Các mối liên hệ ấy xây dựng trên cơ sở tình người, sự chung thủy, sự biết ơn, chấp nhận nhau, sự cảm thông và sự tương kính, chúng liên hệ mật thiết với hạnh phúc và cá nhân trong hiện tại./.

————-&————-
Câu Đối Anh Em Nguyên Vinh Lộc tặng nhân ngày lễ mừng thọ thân mẫu và khánh thành vào nhà mới năm 1991.

* An sở trú Nhị tu phước huệ
* Bằng chí tâm Hạnh nguyện cao thanh.

*****&*****

Xuân Chốn Thiền Gia
Mãn đời phiêu bạt tìm mùa xuân đích thực. Hoá ra mùa xuân ấy chỉ có trong cảnh giới thiền của Phật giáo, một mùa xuân phi không gian, phi thời gian. Đó là mùa xuân nằm ngoài cuộc thạnh suy phù phiếm của Thế nhân như bài kệ dưới đây của Thiền sư vạn Hạnh:
Thân như điệu ảnh hửu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hưu khô
Nhận vận thịnh suy vô bố uý
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
Dịch là:
Thân như bóng chớp có rồi không
Cây cỏ xuân tươi tốt thu qua đượm nồng
Mặc cuộc thịnh suy không sợ hãi
Thịnh suy như cỏ hạt sương đông.
Đợi gì hoa nở mới là xuân; giàu mới có mùa xuân, Bậc Đại Nhân thung dung giủ áo xinh xoan, bước ra ngoài càng khôn mà hưởng xuân…
(Trích xuân trong cửa thiền

Nước mắt của Bồ Tát

Nước mắt của Bồ Tát chỉ chảy vào ba lúc:

Một: Lúc thấy người thực hành lẽ phải, vì kính mến nên chảy nước mắt.
Hai: Lúc thấy người khổ sở, vô phước, vì thương mến nên chảy nước mắt.
Ba: Lúc tự mình đại hạnh bố thí, thì thương mừng tràn ngập nên chảy nước mắt.
Nước mắt ấy của Bồ Tát đã đổ bằng bốn bể đại dương. Người đời cha chết, mẹ chết, khóc không bằng Bồ Tát, thấy người nghèo khổ mà không có của cho họ, bởi vậy Bồ Tát thực hành đại định cứu vớt chúng sanh.
Dũng xuất vô tâm vật dụng tài sản, tất cả người xin tuỳ ý tự tại:
“Thấy người khác bố thí cúng dường và nhận được của. Mà mình phát tâm hoan hỹ thì hưởng phước đức giống người bố thí vậy”.
(Trích luận Đại Trượng Phu)
——————&—————–

Tránh gây phiền não, cắt đức phiền não

Bị phiền não chướng ngại thì không lập chí cầu giải thoát, bị nghiệp báo chướng ngại thì không lập chí cầu trí giác.
Đi đường nào tà? Đi đường nào chánh? Tham ái biến tướng, lấy 4 không định làm giải thoát là đường tà, chí nguyện cầu trí giác, thực hành tám chánh đạo là đường chánh. Muốn giàu có thì thực hành bố thí. Muốn vui thì thực hành từ bi. Nhưng muốn cứu vớt an vui tất cả chúng sanh thì phải kiến lập chí nguyện mong cầu trí giác vô thượng.
Không thực hành diệu hạnh thì có 3 điều khó:
1. Khó gần các vị thiện tri thức
2. Khó thực hành từ bi
3. Khó ham trí giác Phật đà
Mà muốn thực hành diệu hạnh thì phải lập chí nguyện, mong cầu trí giác vô thượng, lập chí nguyện mong cầu trí giác vô thượng rồi; là được nhất thế trí vậy.
(Trích luận Đại Trượng Phu).

Một tấm lòng được muôn vạn tình thương
Chuyện kể: Huynh Trưởng Nguyên Phương
Rằng: Có một người Pháp sang du lịch Việt Nam. Trên đường đi tham quan từ Huế ra Hà Nội, khi xe đến cầu Hiền lương các công nhân ở đây đang tu sửa cầu đường xe không qua cầu được. Anh xuống xe và tiến đến bờ sông bến đò để chờ đò sang sông, tại đây có một em bé gái 12 tuổi bán quạt em đến gần anh và mời anh mua một cái quạt với tầm lòng thương nên anh đưa luôn 20 đô.
Nhưng em bé không chịu nhận, anh nài nĩ em cũng không nhận, em chỉ lấy tiền quạt 1.500đ.00 mà thôi.
Anh thương quá buộc em phải nhận. Sợ nói qua lại mất thời gian nên em phải nhận 20 đô ấy, anh xuống đò sang sông, có em bé ấy xuống theo đò nhưng anh không để ý.
Qua được bên kia sông anh người Pháp vào một quán giải khác, điểm tâm, trong lúc anh đang vui vẽ giải khác, điểm tâm cũng vừa ngắm cảnh Hiền lương thư mộng.
Thì em bé gái ấy đem 20 đô của anh người Pháp vừa đưa để trả tiền quán cho anh, em chỉ lấy tiền cái quạt 1.500đồng mà thôi. Rồi em bảo chủ quán còn bao nhiêu thối lại đưa hết cho anh người Pháp ấy và nói rằng tiền giải khác của anh đã có một em bé gái bán quạt trả đây rồi, tiền còn thừa em bảo tôi đưa lại cho anh đây.
Trong lúc người Pháp đưa mắt tìm xem em bé gái này đứng ở đâu? thì ra không thấy em nữa.
Nhưng em bé gái đã qua lại bên kia sông để tiếp tục bán quạt môi sinh rồi.
Và cũng ngay chuyến du lịch Việt Nam, anh trở về nước, thấy các em trẻ thơ Việt Nam đang lang thang đường phố, với tấm lòng chân thật, khiêm tốn, giản dị như vậy.
Tình thương ấy đã thúc đẩy anh đứng ra vận động một quỹ tình thương để giúp đỡ các em trẻ thơ đang lang thang đường phố ở Việt Nam.
Do nguyên nhân ấy hôm nay về sau và mãi mãi các em đã và đang có tình thương bao la rộng lớn giữa khung trời xanh.
Không những ông bà, cha chú, anh chị em trong nước mà cả năm châu bốn bề đều thương yêu các em vô bờ bến.
Anh tin chắc rằng các em không cô đơn lạc lõng đâu, các em hãy vui sướng đi, cứ thế các em nhé “Phải giữ lấy lề, dù cho giấy có rách”.
Khi hỏi ra đứa bé bán quạt này là một em Oanh vũ của GĐPT Việt Nam.
19/2/Ất hợi (19/3/1995)

*****&*****

PHẢI DIỆT TRÙ VÔ MINH
Vô minh hiện hành, đó là ái, thủ. Vô minh hiện hành có diệt được, thì tự nhiên vô minh tiềm năng là cái vô minh duyên hành đó sẽ được diệt trừ. Cho nên trong bước đường tu hành hằng ngày của chúng ta. Muốn diệt trừ vô minh, cái đích thị và trực tiếp là diệt trừ ái, thủ, thì không có hửu, không có hửu là không có sanh, không có lão trí, không bị kết nghiệp vì sau nữa, khi đó là được giải thoát.

—————-&—————-

Tinh Thần Vô Ngã
Ở trong đời này, người có sức mạnh nhất không phải là người có nhiều súng đạn. Người có sức mạnh nhất không phải người có nhiều nhà tù. Người có sức mạnh nhất không phải là người có nhiều võ thuật.
Mà người có sức mạnh nhất trong đời, chính là người dám nhận cái lỗi của mình và dám lắng nghe người khác chỉ lỗi của mình.
Người nào có khả năng nhận lỗi của mình và lắng nghe người khác chỉ lỗi mình, người đó là người có sức mạnh phi thường, sức mạnh đó được trang bị từ tinh thần vô ngã.

——————&——————

Đức Phật Vị Giáo Chủ Đứng Toàn Năng
Trong lịch sử tôn giáo, chưa có một tôn giáo nào thọ ký cho người bài xích mình, chống bán mình làm Phật bao giờ, chỉ có đạo phật mà thôi. Đức Phật ngài đã thọ ký cho Đề Bà Đạt Đa làm phật.
Và trong tất cả mọi tôn giáo, chưa có tôn giáo nào dám lao mình vào nơi địa ngục, chỉ có đạo Phật mà thôi, tôn giáo nào cũng sợ địa ngục hết, mà chỉ có đạo Phật không sợ địa ngục. Bồ Tát Địa Tạng nguyện rằng ” Địa ngục vị không thệ bất thành Phật, chúng sanh độ tận phương chứng Bồ đề ”
Ngài nguyện rằng nếu cỏi địa ngục còn có tội nhân, thì Ngài chưa bao giờ thành Phật.
Đó là cái Dũng của đạo Phật mà hàng đệ tử xuất gia, tại gia phải làm cho được, nuôi dưỡng cho được để chúng ta xứng đáng làm đệ tử của phật….

*****&*****

Tam Giới Hay Ba Cỏi Là:

Dục Giới – Sắc Giới – Vô Sắc Giới.

Có 12 loại chúng sanh ở Dục giới. 12 loại ấy là gì ?
1. Địa ngục, 2. Súc sanh, 3. Ngạ quỷ, 4. Nhân, 5. A tu luân, 6. Tứ thiên vương, 7. Đao lợi thiên, 8. Diêm ma vương, 9. Đâu xuất thiên, 10. Hoá tự tại thiên, 11. Tha hóa tự tại thiên, 12. Ma thiên.
Có 22 loại chúng sanh ở sắc giới, 22 loại ấy là gì ?
1- Phạm Thân Thiên
2- Phạm Phụ Thiên
3- Phạm Chúng Thiên
4- Đại Phạm Thiên
5- Quang Thiên
6- Thiểu Quang Thiên
7- Vô Lượng Quang Thiên
8- Quang Âm Thiên
9- Tịnh Thiên
10- Thiểu Tịnh Thiên
11- Vô Lượng Tịnh Thiên
12- Biến Tịnh Thiên
13- Nghiêm sức thiên.
14- Tiểu Nghiêm Sức Thiên.
15- Vô Lượng Nghiêm Sức Thiên.
16- Nghiêm Thắng Quả Thật Thiên.
17- Vô Tưởng Thiên.
18- Vô Phiền Thiên.
19- Vô Nhiệt Thiên.
20- Thiện Kiến Thiên.
21- Đại Thiện Kiến Thiên.
22- ACaNiTra Thiên.

Có bốn loại chúng sanh ở cỏi vô sắc giới, bốn loại ấy là gì ?
1 – Không trí thiên
2 – Thức trí thiên
3 – Vô sở trí thiên
4 – Hửu tưởng vô tưởng trí thiên.

Có bốn Đại thiên thần, bốn vị ấy là:
1 – Địa thần
2 – Thuỷ Thần
3 – Phong thần
4 – Hoả thần.
(Trích kinh trường A Hàm. Tập 2 trang 419)
Có ba trung kiếp. những gì là ba:
1 – Kiếp đao binh
2 – Kiếp mễ cốc khan hiếm
3 – Kiếp bệnh dịch
Ở thế gian này con người vốn sống bốn vạn tuổi (40.000), sau đó giảm lần 20.000 (hai vạn tuổi), 10.000 (một vạn tuổi) 1000 (một ngàn tuổi), 500 (năm trăm tuổi), 300 (ba trăm tuổi), 200 (hai trăm tuổi), như hôm nay con người sống 100 (một trăm tuổi), tăng ít giảm nhiều
Về sau tuổi thọ giảm dần chỉ còn 10 (mười tuổi) là dừng lại, khi đó người nữ sinh 5 tháng đã lấy chồng.
(Trích Kinh Trường A Hàm – tập 2 trang 477)

———— & ————

Chữ Tiết, Nghĩa.
Tiết là khí tiết của con người, phải noi theo chánh đạo mà lập thân hành sự. Gái phải nêu cao phẩm chất con người tiết trinh mẫu mực. Trai phải lo cho có khí chí tinh thần vượt bậc cầu tiến, giữ cho khỏi hổ tiếng râu mày, tư tưởng phải dứt khoát, lập trường phải rõ ràng, đi đứng nói năng hành động phải chánh đạo quang minh. Gặp chuyện biến không thay lòng, đổi dạ, thủy chung như nhất. Ấy là cái tiết của người công tử, của chàng trai thế hệ nghĩa là hoà mình vào nhân quần, xã hội thấy việc trái phải can, việc chính phải giúp, không cầu danh vụ lợi, không cầu đắt thất thành bại, dù phải thiệt thòi, phải hy sinh đến cùng để đạt mục đích, sống phải có lý tưởng, đã chọn con đường chánh nghĩa thì sống chết với chánh nghĩa đó mới xứng đáng là người có nghĩa…
Người quân tử thấy việc nghĩa phải làm “Kiến nghĩa tức vi”
“Kiến nghĩa bất vi, vô dũng giã, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng”
Dịch là
Làm việc nghĩa chớ tính lợi hại.
Luận anh hùng chớ kể hơn thua.
Gương xưa tích củ, nếu nói về tình nghĩa anh em ở với nhau có nghĩa thủy chung như nhất thì có “Đoàn viên kết nghĩa giữa Lưu, Quan, Trương là tấm gương sáng hơn hết”.
Hay là Bàn Đức muốn trọn nghĩa với Tào Tháo, sai quân khiên quan tài ra mặt trận quyết tự chiến với Quan Công. Giữ nghĩa được như thế mới trọn tiết nghĩa với người mà mình đã thụ ơn thụ nghĩa.

Chữ Hiếu, Trung
Hiếu: Cũng cảm hoá được lòng người như: ” Tích Mạnh Mẫu, trạch lân sử, tử bất học, đoạn cơ trử “.
Thầy Mạnh Tử lúc nhỏ ham chơi không chịu học, bà mẹ một hôm cắt đứt cái khung cửi mà bảo con: ” Con còn nhỏ không lo học thì lớn lên không nên người, giống như bức dệt này đang dệt nửa chừng rồi bỏ vậy, mẹ chịu cực khổ nuôi con ăn học mà con không chăm chỉ lo học thì từ nay mẹ cũng dẹp nghề luôn không dệt nữa”.
Thầy Mạnh Tử ăn năn không bỏ đi chơi nữa cố gắng lo học tập. Tuy bà mẹ có lời dạy hay, nhưng người con có hiếu với mẹ mới làm được như vậy..
“Điều thiện nào cao hơn, không gì cao hơn hiếu
Việc ác nào cũng cực, không gì bằng bất hiếu”.

Trung:
“Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung. Phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu”.
Dịch là:
“Vua sử bầy tôi chết, bầy tôi không chết là bất trung. Cha sử con chết, con không chết là bất hiếu”
Trung hiếu thời xưa là theo chế độ phong kiến, kiểu này cũng không đúng trái với nền luân lý đạo đức.
Ví dụ: Một ông Vua hại nước buôn dân, tàn nhẫn độc ác, trung thần khuyên can không nghe, rồi Vua cho vị ấy bất trung đem ra chịu chết hay sao?
Lại nữa một người cha ham mê tửu sắc, bỏ rơi vợ con, hạnh phúc gia đình tan nát. Người con khuyên cha không nên làm như vậy, người cha tức giận con bảo con chết, nhưng người con không chịu chết thì người con bất hiếu hay sao?
(Tôi) Thần can Vua như vậy chính là trung.
(Tử) Con can cha như vậy chính là Hiếu

——–&——–

Trích “kinh Na Tiên Tỳ Kheo”
Sau cuộc đối thoại công minh giữa Na Tiên Tỳ Kheo cùng Vua DiLanĐà. Vua DiLanĐà phải chấp nhận ngay thái độ đối thoại của một hiền giả như Tỳ Kheo Na Tiên vừa trình bày, Vua vừa nêu lên câu hỏi:
Bạch Đại đức vậy Trẫm xin hỏi một câu?
– Đại Vương hỏi đi?
– Trẩm đã hỏi rồi
– Bần đạo đã đáp rồi
– Đại đức đáp thế nào
– Đại Vương hỏi thế nào
– Trẩm không hỏi gì hết
– Bần đạo không đáp gì hết.
Không hỏi mà hỏi, hỏi mà không hỏi, đáp mà không đáp. Đó là cách hỏi đáp tranh biện không bị điều động bởi ngã chấp hẹp hòi của người muốn tranh luận, để cầu đạt đến chân lý vô ngôn. Tranh luận như vậy há không phải là điều lợi ích lắm ư…

——————–&——————–

Ngưỡng Vọng Về Giác Linh Bổn Sư
Thượng Chơn HạThức Húy Pháp Danh Tâm Thành.

Xin chứng giám lòng thành của con là nguyên phương Văn Tiến Nhị.
(Trích lại lễ tang của bổn sư)

Câu đối này của thầy Thiện Tấn giám tự Tổ Đình Huyền Tôn Huế, viếng lễ tang cố Thượng Tọa Thích Chơn Thức giám tự Tổ Đình Tường Vân, Nguyên đặc uỷ Thanh niên Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Thừa Thiên Huế Năm 1973. Tôn sư đồng pháp lữ với Bổn sư hồi đó. Nội dung lời cảm đề.

Vẫn biết tử ly là thế đó.
Nhưng:
Hạnh nguyện còn dở dang
Tường Vân còn vướng lệ

Đám tang cố chưa nguôi niềm kính tiếc
Bất thần Sài gòn anh đi không một lời giả biệt
Môn đồ cần hướng dẫn
Giáo hội cần có anh.
Vết đau thương vẫn âm ỉ chưa lành
Bàng hoàng xứ Huế tôi buồn bi thiếc khóc phân ly.

Ngưỡng vọng giác linh anh chứng giám.
Thuyền tôn tự pháp đệ Thiện Tấn cẩn bái-1973.

****&****
Để quí Phật tử biết thêm về Ngài Đức Quán Thế Âm

(Tài liệu tu học Phật pháp Bậc Sơ Thiện, dành cho Gia Đình Phật Tử)

SỰ TÍCH ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ VÀ ĐỨC QUÁN THẾ ÂM.

A. ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ.

I.DANH NGHĨA ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ
Đức Phật A Di Đà là một Đức Phật làm giáo chủ ở cỏi Tây phương Cực lạc. Tên Ngài có ba nghĩa:
1.Vô lượng quang: Nghĩa là hào quang trí huệ của Ngài vô lượng vô biên chiếu khắp các thế giới.
2.Vô lượng thọ: Nghĩa là thọ mạng Ngài sống lâu không lường kể.
3.Vô lượng công đức: Đức Phật A Di Đà làm những công đức to lớn không thể kể xiết.

II. SỰ TÍCH ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ
Theo kinh Đại A Di Đà, về thời Đức Phật Thế Tự Tại Vương ra đời, có một vị quốc vương tên Kiều Thi Ca. Vua Kiều Thi Ca nghe Đức Phật thuyết pháp liền bỏ ngôi vua xuất gia làm vị Tỳ kheo hiệu là Pháp Tạng. Một hôm Ngài đảnh lễ Phật, quì xuống chấp tay cầu Phật chứng minh và phát 48 lời nguyện. Do nguyện lực ấy sau nầy thành Phật A Di Đà.
Lại theo kinh Bi Hoa, về đời vua Chuyển luân thánh vương tên Vô Tránh Niệm có một vị đại thần Bảo Hải. Vị nầy có người con tên Bảo Tạng, tướng tốt dị thường, sau xuất gia thành Phật hiệu là Bảo Tạng Như Lai. Một hôm vua Vô Tránh Niệm nghe Phật thuyết pháp, liền phát tâm cúng dường các món ăn uống, y phục cho Đức Phật và đại chúng luôn trong ba tháng. Vị Đại thần Bảo Hải khuyên vua nên pháp tâm Bồ đề cầu đạo vô thượng. Vua liền nguyện sau nầy thành Phật sẽ làm giáo chủ một cảnh giới cực kỳ trang nghiêm thanh tịnh để giáo hóa chúng sanh. Vua Vô Tránh Niệm phát nguyện xong, đức Bảo Tạng Như Lai liền thọ ký cho vua sau nầy sẽ thành Phật hiệu là A Di Đà và cõi nước của Ngài sẽ là cõi Cực lạc Tây phương. Vị Đại thần Bảo Hải sau nầy cũng thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni.

III. HẠNH NGUYỆN CỦA ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ.
Đức Phật A Di Đà là gương sáng của hạnh Thanh tịnh vì thân Ngài chói ngời ánh hào quang thanh tịnh sáng suốt, cõi Tịnh độ của Ngài chói ngời các món trân bảo thanh tịnh sáng suốt và các chúng sanh ở trên cõi Cực lạc hết thảy đều thanh tịnh sáng suốt. Đức Phật A Di Đà có phát 48 lời nguyện rộng lớn, cứu độ tất cả chúng sanh, trong đó có lời nguyện tiếp dẫn tất cả chúng sanh nào hướng niệm đến Ngài đều được vãng sanh lên cõi Cực lạc. Ngài lại có nguyện nếu chúng sanh nào niệm danh hiệu Ngài, đến 10 niệm Ngài cũng tiếp dẫn lên cõi Cực lạc.

IV. LÒNG QUY NGƯỠNG CỦA PHẬT TỬ
Nước Việt Nam phần đông theo tôn Tịnh độ nên thờ tượng Đức Phật A Di Đà. Tượng Ngài đứng hoặc ngồi trên tòa sen, tay phải duỗi xuống phóng hào quang, tay trái đè ngang ngực bắt ấn cam lồ. Tại các chùa Đức Phật A Di Đà thờ chung với Đức Phật thích Ca (bên phía tay mặt Đức Phật Thích Ca) và Đức Phật Di Lặc, có khi thờ một mình hay Đức Quan Thế Âm bên tay trái và Đức Đại Thế Chí hầu bên tay mặt Ngài, hai vị này trợ hóa cho Ngài bên cảnh Cực lạc.
Thường năm đén ngày 17 tháng 11, các phật tử làm lễ vía của Ngài, trong khi gần lâm chung, khi đưa đám, hoặc khi cúng lễ, thường niệm hiệu Ngài là hiệu thanh tịnh trong sạch để trừ những tà niệm, chuyển đổi cảnh đời ô trược thành cảnh giới thanh tịnh sáng suốt như cảnh giới Cực lạc.

*****&*****

B. ĐỨC QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT

Đức Quán Thế Âm là một vị Bồ tát thường hay quán xét tiếng đau khổ của chúng sanh để cứu giúp nên gọi Ngài là Quán Thế Âm; lại do Ngài quán sát nghe và giác ngộ tự tại cứu độ chúng sanh nên cũng gọi là Ngài Quán Tự Tại. Trong khi Đức Phật thích Ca Mâu Ni ra đời. Đức Quán Thế Âm thường trợ hóa cho Đức Phật A Di Đà ở cõi Cực lạc, và thường hầu bên tay trái Đức Phật A Di Đà.

II. LỊCH SỬ
Kinh Bi Hoa chép rằng: Về thời quá khứ, Ngái Quán Thế Âm làm Thái Tử con vua Vô Tránh Niệm, đồng thời có Đức Bảo Tạng Như lai ra đời giáo hóa chúng sanh. Vua nghe Đức Phật thuyết pháp hiểu đặng đạo lý phát tâm Bồ đề, mong sau thành Phật đặng cứu độ chúng sanh. Vua cúng dường Đức Phật và Tăng chúng luôn trong ba tháng. Thái Tử cũng cúng dường và cũng tu như vậy. Vua Vô Tránh Niệm tu hành tinh tấn, đến công hạnh vẹn toàn thì thành Phật ở cõi Cực lạc Phương tây hiệu A Di Đà. Thái tử cũng công hạnh trọn đủ cũng sanh về cõi ấy thành Bồ tát hiệu là Quán Thế Âm, đặng cùng với Đức Phật A Di Đà tiếp dẫn chúng sanh về cõi Phật.

III. HẠNH NGUYỆN CỦA NGÀI
Trong Kinh Phổ Môn Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có nói về hạnh nguyện của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát là cứu độ chúng sanh thoát khỏi ba tánh tham, sân, si, nếu chúng sanh niệm đến danh hiệu Ngài. Đức Quán Thế Âm lại thường hiện thân vào tất cả từng lớp chúng sanh để cứu chúng sanh thoát khỏi các nạn tai ách. Hạnh nguyện của Đức Quán Thế Âm là tượng trưng cho hạnh Từ Bi và tất cả chúng sanh thường niệm danh hiệu Ngài là Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát, hay Nam Mô Đại Từ Bi Phụ Linh Cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.

IV. LÒNG QUY NGƯỠNG CỦA PHẬT TỬ
Vì Đức Quán Thế Âm có nhân duyên, cơ cảm với chúng sanh ở cõi Diêm Phù Đề này, nên Ngài rất được tôn thờ. Một khi có tai nạn gì xẩy ra, mọi người liền niệm đến danh hiệu Ngài để nhờ Ngài cứu độ. Trong những thời kỳ binh đao, tai nạn, mọi người thường hay ấn tống tượng Ngài để thờ hoặc để đeo. Người ta thường vẽ tượng Ngài bằng hình dáng phụ nữ tượng trưng cho lòng thương không bờ bến của Ngài, bà mẹ hiền của chúng ta, Ngài cầm một cành dương liểu để tiếp dẫn chúng sanh và bình nước cam lồ để rưới tắt phiền não, đem lại nước trong mát cho mọi loài. Người ta vẽ Ngài đi trên hoa sen giữa bể cả ba đào, tỏ rằng trong bể khổ sóng gió Đức Quán Thế Âm lúc nào cũng gần gủi chúng sanh, cứu vớt chúng sanh bằng hoa sen Từ bi ngát hương chân ý. Có khi vẽ Ngài ngồi pháp tọa trong rừng trúc, hình dung Ngài ở núi Phổ Đà thường nhập định, đồng thời tùy duyên thuyết pháp cứu độ chúng sanh; tuy tùy duyên ứng thân thuyết pháp mà vẫn không rời pháp tọa tự giác vậy. Hình ảnh nầy là hình ảnh có Thiện Tài, Long Nữ đứng hầu là tượng trương cho phạm hạnh đồng chơn của Đức Quán Thế Âm, nghĩa là hoa sen trong sạch giữa bùn lầy ô trược như tâm hồn tươi trẻ trước cảnh sắc mê hoặc. Trong năm có ba ngày vía lớn của Ngài là ngày 19 tháng 2, 19 tháng 6, 19 tháng 9.
Người Phật tử chân chính niệm Đức Quán Thế Âm là luôn luôn thể theo hạnh Từ bi của Ngài mà độ cho tất cả chúng sanh đau khổ, làm tất cả hạnh lành, dầu phải gặp những gian nan đau khổ.

&

Người ăn thịt đoạn mất giống từ bi.
Không ăn thịt thời không có người sát hại chúng sanh.
Kinh LĂNG GIÀ

*****&*****

Người mê sẽ nhờ học mà tỉnh, người ngu sẽ nhờ học mà sáng suốt, nhờ học mới có thể sửa mình và chỉ đường cho mọi người.
KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ

*****&*****
ĐƯỢC GIEO VÀO CÁC THỬA RUỘNG CỦA TAM BẢO LÀ CÓ PHƯỚC ĐỨC LỚN NHẤT VÀ QUÝ NHẤT TRÊN ĐỜI

Nguyên Luật Văn Công Kỷ

Tam Bảo là nơi duy nhất để ông bà cha mẹ và cả chúng ta nương tựa vào để được giải thoát sanh tử ra khỏi luân hồi lục đạo. Quan trọng hơn nữa khi ông bà, cha mẹ, người thân nhắm mắt lìa đời chúng ta hầu hết bị bất lực không biết giúp đỡ hương linh siêu thoát sanh về các thế giới an lành. Từ trước đến nay, chúng ta thường thấy biết, ai là người có hiếu đều thỉnh mời và nương vào Tam Bảo lực mà cầu nguyện để tiếp dẫn hương linh sanh về các Phật quốc.
Khi ông bà cha mẹ và chính chúng ta ra đi thì lầu đài lăng mộ đồ sộ, tiền tài vàng bạc quý báu chẳng mang theo được gì cả. Đó là một sự thật rành rành trước mắt không thể phủ nhận. Vạn vật trên thế gian này không có thực thể của nó. Thân con người cũng vậy, đều do tứ đại và nhiều duyên hợp lại mới thành nên phải trở về với ” đất, nước, gió, lửa” để chịu cái luật vô thường chi phối chẳng có gì là Ngã cả: ” Cái Ta và của Ta”. Đó là chân lý bất di bất dịch Tam Bảo đã nhiều lần dạy bảo cho chúng ta biết, đời là ” vô thường vô ngã”. Thế nhưng chúng ta cứ chấp đời “có thường có ngã”. Chiếc áo bận lâu ngày phải cũ rách mục nát, thân con người như chiếc áo bận lâu ngày phải già bệnh mục nát. Tất nhiên cái áo cũ mục nát không thể dùng được, phải mua hoặc may cái áo mới khác để dùng. Thân con người sau khi chết mục nát tiêu ra cát bụi thì cũng phải tìm vào một thân khác để tái sanh ra một đời sống khác. hoặc lành, hoặc dữ. Thế mà chúng ta cứ bám vào cái đã mục nát ra cát bụi mãi mãi chẳng có lợi ích gì giúp cho ông bà cha mẹ chúng ta giác ngộ giải thoát cả.
Duy nhất chỉ có lời dạy vàng ngọc của Tam Bảo, ông bà cha mẹ và cả chúng ta đã học hỏi được chứa lại trong tàng thức và mang theo đi được để nương nhờ vào đó mà giải thoát ra khỏi sáu cỏi luân hồi. Cúng dường tu bổ một ngôi chùa nghèo, trùng tu một ngôi chùa lớn hơn, đẹp hơn, đầy đủ tiện nghi hơn; hay góp sức xây một ngôi chùa ở bất cứ đâu trên Việt Nam hay ở Hải Ngoại để bảo tồn Phật Pháp tôn thờ Tam Bảo và có nơi trang nghiêm thanh tịnh để hàng Phật tử đến tụng kinh lễ Phật, chiêm bái, nghe pháp giác ngộ giải thoát của Chư phật thì việc làm này chẳng lẽ vô ích ư ?
Đã có nhiều anh chị lên tiếng phản ánh như sau: Có người bảo rằng chùa làng mình lớn quá rồi, đẹp lắm rồi, hãy để tiền giúp đỡ các Chùa nghèo khác ở Việt Nam. Ý kiến này rất phải, rất hay, rất tốt. Nhưng thưa với quý anh chị, nó chỉ đúng theo quan niệm của một số anh chị thôi chứ không đúng với tâm niệm của tất cả thiên hạ. Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương Đức Phật có dạy: ” Hãy dè dặt đừng tin theo ý ông, ý ông không thể tin được, hồi nào chứng được quả A – La – Hán rồi mới có thể tin theo ý ông”. Tôi cũng nghe quý bác ở Việt Nam qua Mỹ kể thế này: Hiện giờ chùa làng mình hàng tuần phải chia ra 3, 4 khóa lễ khác giờ để có chỗ ngồi lễ. Bác trai đi chùa thì bác gái phải ở nhà, thay phiên nhau vì không đủ chỗ ngồi lễ. Mùa hè thì ngồi ra hai bên hiên còn được nhưng mùa đông gió bức lạnh lẽo ẩm ướt không ngồi được.
Khi đi lạc quyên cũng có một vài Phật tử nói như quý anh chị vậy: Chùa làng mình giàu rồi, đẹp rồi, lớn rồi, để tiền giúp các chùa nghèo khác. Nói nghe cũng có lý, rất phải, rất đúng. Nhưng xin thưa không đúng sự thật, vì chỉ có nói mà thôi vì từ trước đến nay không giúp đỡ các chùa nghèo ở Việt Nam là bao nhiêu cả, chỉ tuỳ hỷ công đức cống dường của Tam Bảo, đã cúng dường rất nhiều chùa ở Hoa Kỳ cũng như ở Việt Nam trên cả hàng chục ngàn Mỹ kim.
Như quý Phật tử đã thấy biết có nhiều ngôi chùa ở bang Texas và các bang khác ở Hoa Kỳ hiện nay xây rất lớn từ một triệu đến hai, ba triệu Mỹ kim, đầy đủ tiện nghi như các nhà thờ của người Mỹ. Nếu cả trăm ngàn vạn người nghĩ như quý anh chị ‘chùa vậy là đủ rồi, đẹp rồi’ thì các ngôi chùa Phật giáo khó mà phát triển ngày càng lớn mạnh được. Anh Hoàng Khắc Long thường tâm sự với tôi rằng: ” Con cái của mình và các em trẻ lúc này đi chùa, nếu ngôi chùa không đầy đủ tiện nghi chật hẹp cũ kỹ quá nhất là phải xếp hàng dài đợi đi restroom, các em trẻ sẽ không thích và sợ đi chùa luôn đó”. Tôi thấy rất đúng vì lúc này bà con Phật tử mình đâu có ai chạy xe hơi cũ kỹ năm bảy trăm, một ngàn như hồi mới qua Mỹ nữa đâu; nhà ở cũng vậy, không còn thuê mướn những căn nhà cũ kỹ, chật hẹp nữa vì đời sống cũng tương đối sung túc hơn mười mấy năm về trước. Ngôi nhà của Tam Bảo cũng phải thích hợp theo hoàn cảnh của xã hội mới phát triển được chứ! Anh Long cũng kể Anh Nguyễn Thể tâm sự một câu rất chí hiếu chí tình như sau: ” Anh Long ơi! Cha mẹ bà con giòng họ nội ngoại bốn bên của mình đang còn sống ở quê hương, thì đại trùng tu ngôi chùa làng của mình cho đầy đủ phương tiện, có nơi cho bà con tụ họp về tụng kinh lễ Phật nghe Pháp thật là vô cùng quý hoá không gì bằng. Vì cha mẹ bà con cô bác của mình đang sống được tận mắt thấy và hoan hỷ theo”. Anh Hoàng Xuân Luật cũng tâm sự rằng: “Việc xây dựng hay đại trùng tu ngôi nhà của Tam Bảo là một việc làm rất có lợi ích phước đức lớn, chúng ta không nên bàn cãi xôn xao ngăn cản mà làm lòng tin của quý Phật tử có tâm đạo. Vì Tam Bảo hãy phát tâm tuỳ hỷ cúng dường theo khả năng của mình”. Bác Phạm Văn Vinh luôn luôn thao thức làm thế nào để xây lại ngôi nhà Tam Bảo cho xứng đáng để lưu lại cho thế hệ mai sau. Cho nên bác hay liên lạc với bác khuôn trưởng bên nhà. Quý bác trong khuôn giáo hội và anh chị em bên gia đình Phật tử cho biết đã quyết tâm đại trùng tu ngôi chùa thờ Tam Bảo để phát triển đạo pháp theo nhu cầu trong quê hương. Bác Vinh cũng hay tâm sự nhắc nhở rằng ông bà cha mẹ thân bằng quyến thuộc của mình đa số ký tự thờ ở chùa mình, dù khó khăn trở ngại gì đi nữa anh em mình phải cố gắn giúp đỡ khuôn giáo hội bên nhà hoàn thành tâm nguyện. Nếu tài chánh không đủ thì phải quyên góp nhiều đợt. Lòng bác cũng buồn rười rượi khi nghe nhiều anh chị em ở bên Mỹ bàn tán ngăn cản làm nhiều bà con Phật tử hoang mang thối bồ đề tâm.
Nguyên luật thì đang nửa tĩnh nửa mơ. Tĩnh là thấy người Phật tử ở đời đều mang bốn ân nặng: ân cha mẹ, ân Tam Bảo, ân quốc gia thầy tổ xã hội, ân chúng sanh. Ba ân kia được biết một chút ít về lý nhân quả, lý nhân duyên, lý luân hồi, lý vô thường, lý vô ngã, tứ đế, bác chánh đạo, v.v… đều nhờ vào ân nặng của Tam Bảo chỉ dạy mới vơi đi nỗi khổ đau phiền muộn của cuộc đời, để chuyển thành hạnh phúc giác ngộ giải thoát và an lạc hơn. Đến cuối cuộc đời trút hơi thở cuối cùng rồi cũng phải nương tựa vào ân Tam Bảo mà cầu nguyện giải thoát sanh tử ra khỏi sáu cỏi luân hồi; ngoài ra đâu còn có ai mà nương tựa được nữa phải không? Thế nhưng có một số đông bà con Phật tử chúng ta chưa biết trân quý ngôi nhà Tam Bảo đúng mức. Đáng lý ra ngôi nhà quý báu nhất trên đời này phải được lớn nhất, đẹp nhất, nguy nga nhất, đồ sộ nhất trong làng mới đúng vì có đến 80 phần trăm trong làng là thành phần Phật tử. Nhưng lại thấy cổng tam quan, tiền đàng của chùa lại nhỏ và xấu hơn một số đền thờ lăng mộ khác. Ước tính khoảng chừng 3 đến 4 triệu Mỹ kim bà con chúng ta bỏ ra xây dựng cho người đã quá cố, còn người đang sống so với các làng khác thì lại thiếu trường học, trạm xá chữa bệnh. Nên có hai lần tờ báo ở Huế đăng tin này và đăng ra cả Hải Ngoại, họ gọi thành phố của người chết – nghe không đẹp chút nào, thật đau lòng khó chịu làm sao! Giả sử chúng ta cùng nhau phát khởi bồ đề tâm rộng lớn để đại trùng tu ngôi chùa, hay làm trạm xá chữa bệnh, xây trường học cấp III thì ngoài được phước đức lớn lao, cũng có lợi ích thiết thực và khoa học hơn vì có rất nhiều bà con giòng họ láng giếng của mình đang sống trước mắt được nhờ. Bà con từ họ nội đại tôn, họ bà nội, họ ông ngoại, họ bà ngoại,v.v… tu bổ một ngôi chùa cho đầy đủ tiện nghi khang trang hơn, một trạm xá để chửa bệnh, trường học để được đi học, thì quả là một việc làm quý hoá hạnh phúc vô cùng – đúng theo tinh thần bố thí cúng dường của nhà Phật.
Bà con Phật tử chúng ta đa số đang có hạt giống tốt về tiền tài vật chất thuộc hàng trung lưu so với một số người Mỹ đã ở đây nhiều đời. Hạt giống tốt nên chọn vào các thửa ruộng tốt để gieo trồng cho phước đức ngày càng lớn thêm, thì các thửa ruộng của Tam Bảo tối thắng hơn; tất cả trên đời không gì sánh kịp. Người đóng góp công của xây dựng, làm chổ trang nghiêm tốt đẹp để thờ Tam Bảo cho người tín tâm kính lễ, người đó được công đức tính theo số luỹ thừa. Có nghĩa là một trăm ngàn vạn người lễ Phật được phước đức lớn và người đóng góp xây dựng cũng được phước đức lớn trên số lượng người đến lễ Phật. Theo lời Phật dạy, niệm một câu Nam Mô A Di Đà Phật nhất tâm diệt được tám vạn bốn ngàn tội lỗi của nhiều đời nhiều kiếp trước. Tam Bảo là ruộng phước lành hơn hết để chúng sanh gieo trồng phước đức trí huệ.
Có hạt giống tốt nếu gieo vào các thửa ruộng đất các sỏi đá khô cằn, hay bỏ trên tảng đá, nóc nhà thì không bao giờ mọc được, hoặc bỏ vào đống lửa sẽ bị cháy rụi luôn – ví dụ như bốn vị chẳng lẽ, fooball, casino gamble, v.v…. Nhưng đã có nhiều bà con Phật tử gieo vào đó, nhiều lúc coi năm bảy trăm một ngàn đồng như giấy mà chơi không tiếc, còn nghe quyên góp làm chùa coi lớn hơn như cả trăm ngàn đồng. Thật đáng tiếc! Thật đáng tiếc! Nếu các anh chị biết tự ngăn cản đừng cho gieo vào các thửa ruộng xấu kia thì hay biết mấy. Sao lại phản đối bà con Phật tử mình đang cố gắn gieo duyên với ruộng phước quý báu của Tam Bảo ở quê nhà? Đang mơ? Ước gì giấc mơ trở thành sự thật thì người khác quê sẽ lên báo tán thán, đổi tên kêu lại là thành phố chùa. Vì có chùa lớn đẹp nhất trong làng không có gì sánh bằng, có thêm trường cấp III, trạm xá chữa bệnh ở làng An Bằng nữa thì hết chổ thán phục vì hết thảy con em các làng lân cận đều nhờ hàng ngày.
Trong kinh Địa tạng Phật dạy: các vị thần linh, thiện thần như: thần biển, thần sông, thần núi, thần ngày, thần đêm, thần không gian, thần thời gian, thần lúa mạ,v.v… với các loài chúa quỷ như: chúa quỷ gây bệnh hoạn, chúa quỷ bảo hộ làng xóm, chúa quỷ bảo hộ người sinh nở, chúa quỷ ăn máu huyết, chúa quỹ mắt dữ v.v… với hết thảy các đoàn tuỳ tùng của họ đều quy y với ngài bồ tát Điạ Tạng vương để hộ trì ngôi Tam Bảo trường tồn cho chúng sanh được nhờ. Thì chúng ta tu bổ chùa họ cũng được nhờ và rất hoan hỷ vui mừng vì họ cũng Phật tử như mình.
Một đoạn kinh cúng hương tán Phật mình thường được nghe khi lễ Phật như sau:
Đấng pháp vương vô thượng
Ba còi chẳng ai bằng
Thầy dạy khắp trời người
Cha lành chung bốn loại
Nguyên Luật tạm hiểu không còn ai và pháp nào cao quý bằng Phật Pháp nữa, kể cả tam thiên đại thiên thế giới gồm ba cỏi là dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Phật là bậc thầy cao quý nhất của 33 cỏi trời và cỏi người. Một đấng cha lành thương tất cả chúng sanh bốn loại như mẹ thương con, là hết thảy loài thai sanh, loài noãn sanh, loài hoá sanh và loài thấp sanh. Các loài muốn giác ngộ giải thoát sanh từ đều phải nương tựa quy về ba ngôi báu Phật – Pháp – Tăng. Được góp phần đại trùng tu hay xây dựng tu sửa một ngôi chùa bất cứ ở đâu để bảo tồn văn hoá Phật giáo, phát triển đạo pháp ngày càng lớn mạnh và thờ phụng ba ngôi báu là một phước đức to lớn không gì sánh kịp trên đời này.
Nhân dịp đại lễ Phật đản 2001 tại tịnh xá Ngọc Phước, Memphis, hoà thượng Thích Mãn Giác đã về chứng minh buổi lễ, ngài đã nhắc lại bài thơ thật thắm thiết của nhà thơ Nguyễn Bính như sau:
Quê tôi có gió bốn mùa
Có trăng giữa tháng, có chùa quanh năm
….
Mai này tôi bỏ quê tôi
Bỏ trăng, bỏ gió, chao ôi! bỏ chùa.

Hai câu thơ hủ của hoà thượng cũng được hàng Phật tử Việt Nam nhắc đi nhắc lại nhiều lần; Càng nhắc lại càng thấy cao quý nhiệm mầu và hồn thiêng bổng dâng cao lên phơi phới tuyệt vời, để tinh tấn hơn trong trách nhiệm của người Phật tử cùng nhau bảo tồn và phát triển đạo pháp cùng khắp mọi nơi, mọi miền.

Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của tổ tông

Nam mô A Di Đà Phật
Kính chào tinh tấn
MỘT SỐ HÌNH ẢNH LỄ NGHI, QUA TU HỌC VÀ SINH HOẠT PHẬT SỰ TẠI KHUÔN HỘI PHẬT GIAO AN BẰNG TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY.
Lễ cầu an đầu năm Mậu Tý tại chùa An Bằng (làng và 43 họ tộc tham dự
Đoàn sinhGĐPT An bằng đang ăn cơm trước hiên chùa

Khóa học Liên trại A Dục – Lộc Uyển

Trên hồ Thủy Tiên – Huế nhân dịp về thăm quê huơng

Ban từ thiện cứu tế dân nghèo

Khuôn giáo hội dự lễ khai mạc trại của GĐPT

Xe hoa diễu hành mừng Phật Đản của 13 Khuôn hội cụm P/Vang.

Ban Đại Diện Khuôn Hội và Ban Huynh trưởng GĐPT A/Bằng trước trụ đá vua A Dục tại lễ đài Chùa An Bằng PL2551

Lễ Chào cờ GĐPT An Bằng nhân trại hộ lễ Phật Đản PL Lễ 2550

Quí Huynh trưởng tham dự và phát biểu tại lễ Khai mạc trại

Lễ bế mạc trại

Một đội của ngành thanh nam GĐPT An Bằng

Bác gia trưởng gắn phù hiệu trại cho đoàn sinh

Ban Hướng Dẩn GĐPT Thừa Thiên chụp ảnh lưu niệm nhân dịp, tham dự lễ Mùng thọ của thân mẫu huynh trưởng Nguyên phưong năm 1992.

Nhớ Vinh An
Nguyên Ngộ: Văn Nhân Đạo

Đi mô rồi cũng nhớ Vinh an
Năm canh thao thức nỗi bàng hoàng
Hà Úc ven sông xanh dương liểu
An Bằng thơ mộng đất Nam triều.

Đi mô rồi cũng nhớ Vinh an
Gái trai duyên dáng cả hai làng
Mỹ Hà vô tới vùng Bến lội
Thương nhớ khôn cùng thương nhớ ơi!

Hôm qua ta ghé Xóm bàu chơi
Cuốc bộ hai chân muốn rã rời
Bằng hữu dăm thằng nay biệt dạng
Đường xưa xóm cũ quá điêu tàn.

Đi mô rồi cũng nhớ Vinh an
Nhớ mái Chùa xưa cạnh Đình làng
Ngày ấy ta còn chim Oanh vũ
Nay đã xa rồi tít mù xa.

Hôm nay lưu lạc giữa chợ đời
Thân tàn mang kiếp sống đơn côi
Vinh an ta nhớ đầy tim óc
Lệ cứ rơi hoài, lệ mãi rơi …

Thế Nào Là Đáp Đúng Pháp.
“ Vì Đấng Vô Thượng Chánh Đẳng Giác ở đời quá khứ đồng với ta, Đấng Vô Thượng Chánh Đẳng Giác ở thời vị lai đồng với ta.
Nhưng nếu bảo ở thời hiện tại mà có hai vị Phật xuất hiện ở thế gian cùng một lúc, thì không thể có sự kiện đó ”.
(Trích Trường A Hàm trang 626, Kinh Tự Hoan Hỷ)

Măng non GĐPT An bằng

Nhớ Mẹ
Nguyên Thảo: Văn Thị Lệ Hiếu

Vĩnh biệt mẹ quê hương yêu dấu
Nơi đây trăng sáng chiếu qua nhà
Dưới trăng con đùa nhảy hát ca
Bên bóng mẹ tấm lòng con mong ước
Chưa từng xa xứ để mẹ đau
Nơi đất lạ giăng đủ muôn màu
Sao con thấy lòng mình trống trải
về thăm mẹ lời con mong mỏi
Nhìn dáng mẹ gầy từ hôm nào
Mái nhà mình tràn đầy hương đạo
Mỗi đêm về con niệm nam mô
Nguyện cho mẹ phúc thọ lâu dài
guyện linh cha vãn sanh cực lạc
Cho đàn con hưởng mát đạo từ
Và lấy từ bi làm đạo hạnh
Xa xôi vạn dặm vẫn nhớ câu
Con ơi ! Quê đó nhớ về thăm
Đã mười sáu xuân rồi xa thẳm
Xuân này con hứa dịp thu về
Cho mẹ niềm vui ngày đoàn tụ

——–&——–

Mái Ấm Nhà Lam.

Mái ấm nhà Lam khen ai khéo dựng.
Cho chúng mình giữ vững niềm tin.
Cùng nhau xây dựng gia đình.
Tre tàn măng mọc đẹp xinh vô cùng.
Kìa bốn biển nghìn trùng xa lắc.
Nọ năm châu ngăn cách đôi bờ.
Nhưng cùng chung một nội quy.
Cùng chung quy chế khác chi một nhà.
Mốc một chín bảy ba nên nhớ.
Đại hội nầy lịch sử còn ghi.
Mồ hôi xương máu sá gì.
Quyết tâm bảo vệ nội quy đến cùng.
Vo tròn bóp méo đừng hòng.
Chỉ có đại hội mới mong khiện toàn.
Cùng chung một mái nhà lam.
Thịnh suy nung nấu tâm can thêm bền.
Nội quy, quy chế giữ gìn.
Anh em già trẻ đạo tình sắc son.

(Bài đã đăng trên Sen Trắng số 10 trang 129 ngày 22/5/2005).

Lễ cầu an đầu năm Canh Dần vào ngày 15 tháng 1 Â Lịch, Phật lịch 2553 Năm 2010. Tại Chùa An bằng gồm co 43 họ tộc, Ban Hương Tộc, quí Bô Lão Làng An Bằng và quí đạo Hửu Phập tử An Bằng từ trong nườc đến Hải ngoại đêu tham dự

Lễ Cầu An Đầu năm Canh Dần tại chùa An Bằng (2010)

Ban Hướng Dẫn GĐPT/Thừa Thiên thăm GĐPT An Bằng vào ngày 15 tháng giêng Năm Canh Dần (2010) PL 2553

HỌC PHẬT PHÁP
Bàì
TỨ DIỆU ĐẾ.

Khái Niệm Tổng Quát Về Tứ Diệu Đế.
Tinh Yếu và Trích dẫn bài: Tứ Diệu Đế của Hòa Thượng. Thích Thiện Hoa giảng cho Ngành Thanh
GĐPT. An Bằng trong những năm 2000 đến 2005
Nguyên Phương

CHƯƠNG. I

KHÁI NIỆM TỔNG QUÁT VỀ TỨ DIỆU ĐẾ

NGUYÊN NHÂN VÀ HOÀN CẢNH đỨC PHẬT THÍCH CA GIẢNG VỀ PHÁP TỨ DIỆU ĐẾ LẦN ĐẦU TIÊN.

Đức Phật Thích Ca: Sau khi thành đạo dưới cội cây Bồ đề, liền nghỉ đến việc đem giáo lý của Ngài vừa chứng được, ra truyền bá cho chúng sanh.
Nhưng giáo lý của Ngài là giáo lý cao siêu, thâm diệu. Còn chúng sanh căn cơ đang thấp kém khó có thể giác ngộ như Ngài được.
Nhưng không lẽ vì thế mà không giáo hóa chúng sanh, để làm nhiệm vụ hóa độ của Ngài. Ngài dung phương tiện nói pháp Tứ Diệu đế là tiệm giáo cho chúng sanh để tu hành.
Quán căn cơ Năm người bạn đồng tu với Ngài trước kia là nhóm Kiều Trần Như. Có thể khai ngộ với pháp Tứ Diêu Đế, Đức Phật đi đến Vườn Lộc Uyển là nơi họ đang tu hành để nói pháp Tứ Diệu Đế.
Sau khi nghe pháp Tứ Diệu Đế thành kiến mê lầm tan vở trí tuệ siêu thoát xuất hiện năm vị nầy được ngộ đạo chứng quả vị A La Hán đó là năm vị đệ tử đầu tiên của Đức Phật Thích Ca.
Từ đấy về sau Tứ Diệu Đế là giáo lý căn bản về Tiệm giáo (phương pháp tu chứng từ từ) và đã giác ngộ cho biết bao nhiêu đệ tử của Phật.
Ngày nay đem pháp Tứ Diệu Đế để trình bày tùy căn cơ tu học từ từ.

II. Định nghĩa về Tứ Diệu Đế: Tứ là 4, diệu là hay, là đẹp, quí báu. Đế là sự thật, chắc chắn, rõ ràng, đúng đắn nhất, không có một giáo lý của ngoại đạo nào sánh kịp.
III. Tứ Diệu Đế bao gồm những gì ? Tứ Diệu Đế là: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế.
1/ Khổ đế (Dukkha).
Là chân lý chắc thật trình bày rõ ràng cho chúng ta thấy tất cả những nổi thống khổ thế gian mà mỗi chúng sanh đều gánh chịu như: Sống là khổ, Đau là khổ, Già là khổ, Chết là khổ v.v…Những nổi khổ đầy dẫy trên thế gian, bao vây chúng ta, chìm đắm chúng ta như nước biển. Do đo Đức Phật thường ví cỏi đời là bể khổ mênh mông.
2/ Tập đế: (sameđaukkha)
Là chân lý chắc thật trình bày nguyên nhân của bể khổ trần gian lý do vì đâu mà có những nổi khổ ấy, Khổ đế như bản kê hiện trạng của chứng bệnh; còn Tập đế như bản kê nói rõ nguyên nhân của chứng bệnh, lý do vì sao mà có bệnh.
3/ Diệt đế: (Nỉodha dukkha)
Diệt đế là chân lý chắc thật trình bày rõ ràng hoàn cảnh quả vị an lành, tốt đẹp mà chúng sanh sẽ đạt đến khi diệt trừ hết những nổi thống khổ, và nguyên nhân của đau khổ… Diệt đế như là một bản cam đoan của lương y nói rõ sau khi người bệnh lành thì sẽ ăn ngon, ngủ yên như thế nào, thân thể tráng kiện, tâm hồn khoan khoái như thế nào.
4/ Đạo đế:Nỉrodha Gâmdukkha)
Đạo Đế là những phương pháp đúng đắn chắc thật để diệt trừ đau khổ. Đó là chân lý chỉ rõ con đường quyết định đi đến Niết bàn. Nói một cách giản dị, đó là phương pháp tu hành, để diệt khổ và được an vui.
Đạo đế cũng như cái toa thuốc mà vị lương y đã kê ra, để người bệnh mua và những lời chỉ dẫn mà bệnh nhân cần phải y theo để lành bệnh.

IV.Bố Cục Kỳ Diệu Của Tứ Diệu Đế:
Tứ Diệu Đế đã được Đức Phật sắp đặt theo một thứ tự rất khôn khéo, hợp lý, hợp tình. Ngày nay các nhà nghiên cứu Phật học ở Âu Tây mỗi khi nói đến Tứ Diệu Đế, ngoài nghĩa lý sâu xa, nhận xét xác đáng còn tóm tắt, tán thán cái kiến trúc, cái bố cục các thứ lớp của toàn bộ pháp môn ấy.
Trước tiên Đức Phật chỉ cho chúng sanh thấy cái thảm cảnh hiện tại ở cỏi đời, cái thảm cảnh bi đát này nó nằm ngay trước mắt ta, bên tai ta, ngay trong chính mỗi chúng ta, những sự thật có thể thấy, nghe, ngửi, nếm, sờ được, chứ không phải sự thật xa lạ ở đâu đâu. Đã là một chúng sanh, ai không có sinh, ai không đau ốm, ai không già, ai không chết v.v…
Và những trạng thái ấy đều mang tính chất khổ cả, đã có thân tất phải khổ, đó là một chân lý rõ ràng, giản dị, không ai là không nhận thấy, nếu có một chút ít nhận xét.

V. Địa Vị Quan Trọng Của Tứ Diệu Đế Trong Toàn Bộ Giáo Lý Của Đức Phật Thích Ca.
Tứ Diệu Đế ; Là giáo lý căn bản của đạo Phật không phải riêng đối với Tiểu Thừa mà chung cho cả Đại Thừa nữa. Người tu hành muốn có kết quả chắc chắn không thể bỏ qua Tứ Diệu Đế được. Pháp môn nầy tuy tiến chậm, nhưng khi tiến được bước nào chắc chắn bước nấy, tuy không đưa thẳng người tu hành đến quả vị Phật, nhưng với một sự tinh tấn và quyết tâm nó có thể dễ dàng đưa người tu hành đến quả vị A La Hán. Rồi từ từ quả vị A La Hán hành giả tu theo một pháp môn khác của Đại thừa, để tiến đến quả vị Phật….

VI. PHẬT TỬ PHẢI HỌC VÀ THỰC HÀNH PHÁP TỨ DIỆU ĐẾ
Một giáo lý căn bản quan trọng như Tứ Diệu Đế, người phật tử không thể không hiểu biết được, không hiểu biết về Tứ Diệu Đế là không hiểu gì về giáo lý đạo Phật cả. Người phật tử hơn ai cả phải thấu triệt cỏi đời là khổ. Muốn thế, không gì hơn là hãy lắng nghe Đức Phật dạy về Khổ đế, vì chỉ có Khổ đế mới nói lên một cách tường tận, đầy đủ, chính xác về mọi khổ đau của cỏi đời…
Người phật tử phải thực hành pháp Tứ Diệu Đế một giáo lý căn bản quang trọng, mà người phật tử không thể không hiểu được. (Hơn ai cả các em hôm nay không hiểu được Tứ Diệu Đế là không hiểu gì về giáo lý của đạo Phật cả).
Muốn thế không gì hơn là phải lắng nghe Đức Phật dạy về Khổ đế. Vì chỉ có Khổ đế mới nói lên được một cách tường tận, đầy đủ về mọi khổ đau của cuuộc đời, và chỉ bày phương pháp diệt khổ.
Muốn thực hiện Niết Bàn thì phải có đầy đủ phương tiện, những phương tiên nầy đức Phật đã cung cấp một cách đầy đủ trong Đạo đế.
Như thế đức Phật đã làm đầy đủ nhiệm vụ của người dẫn đường cho chúng ta đi từ cỏi đời đen tối đến cỏivị A La Hán. Ngài đã đặt vào bàn tay chúng ta một bản đồ chỉ dẫn rõ ràng về cuộc hành trình, và ban cho chúng ta đầy đủ phương tiện cần thiết trong chuyến đi vĩ đại ấy. Chúng ta chỉ còn lên đường và bước tới…

CHƯƠNG HAI

KHỔ ĐẾ
(DUKKHA)

ĐỜI LÀ MỘT BIỂN KHỔ ĐẦY MỒ HÔI VÀ NƯỚC MẮT
Có người cho rằng đời là một bữa tiệc dài, không hưởng thụ cũng uổng. Do đó họ không để lở một dịp nào có thể đem lại cho họ những khoái lạc vật chất.
Nhưng họ không ngờ rằng những khoái lạc ấy đều là giả dối, lừa phỉnh, chẳng khác gì cái khoái lạc mong manh của người khác nước mà uống nước mặn, càng uống lại càng khác; và cổ họng, sau cái phút uống vào lại thêm đắng chát.
Khế kinh có câu: Nước mắt chúng sinh nhiều hơn biển; thật thế cuộc đời không vui; cuộc đời là bể khổ; Nhưng nổi vui nếu có chỉ tạm bợ, hào nhoáng như một lớp sơn bên ngoài mà thôi; chứ bản chất của cỏi đời là đau khổ. Cỏi đời là một biển đầy mồ hôi và nước mắt, trong ấy chúng sanh đang bơi lội, hụp lặn, chìm nổi, trôi lăn.Đó là sự thật. Nhưng sự thật ấy, không ai nhìn thấy một cách tận tường và nói lên một cách rõ ràng như Đức Phật đã nói trong Khổ đế, phần thứ nhất của Tứ Diệu Đế.

I. ĐỊNH NGHĨA CHỮ KHỔ ĐẾ
Khổ đế do chữ DUKKHA mà ra Du là khó-Kkha là chịu đựng là kham nhẫn. Dukkha nghĩa là khó chịu đựng, khó kham nhẫn là đau khổ. Trung Hoa dịch là “ khổ” nghĩa là đắng; nghĩa rộng là những cái gì làm cho mình khó chịu là đau khổ. Có nghĩa là những gì làm mình khó chịu, đau đớn, mình đau đớn như: đau ốm, đói khác, buồn rầu, sợ hải v.v…
“Đế” là sự thật vững chắc hoàn toàn cao hơn cả.
Khổ đế là sự thật đúng đắng, vững chắc cao hơn cả về sự khổ ở thế gian, sự thật nầy nó rõ ràng minh bạch, không ai có thể chối cải được.
Dưới đây chúng ta hãy nghe Đức Phật giải bày một cách tường tận, sâu sắc, tỷ mỉ về sự khổ thế gian.

II. LUẬN VỀ SỰ KHỔ CỦA THẾ GIAN
Kể cho hết tất cả sự khổ ở thế gian thì không bao giờ cùng song căn cứ theo Kinh Phật có thể phân laọi ra làm ba thứ khổ gọi là (tam khổ); hay tám thứ khổ (bát khổ).
1. Ba khổ: Ba thứ khổ là: khổ khổ; hoại khổ, hành khổ.
a) Khổ khổ: Cái khổ chồng lên cái khổ; bản thân đã khổ, mà
hoàn cảnh chung quanh lại đè lên bao cái khổ khác. Đó là “Khổ Khổ”.
Thật thế, mỗi chúng sanh, tự mình là nạn nhân của bao nhiêu cái khổ,cái xấu xa; thân thể là một cái bầu thịt xương dơ bẩn, nếu một vài ngày không săn sóc rửa ráy, thì thối tha không thể chịu được. Hơn nũa cái thân ấy không bền chắc, mà trái lại rất mong manh; khác nước độ ba ngày, ngạt thở độ năm phút, đứt một mạch máu, bị nhiễm một số vi trùng độc… thế là mạng vong.
Lại trên cái khổ sông chết bất ngờ mà con người không làm chủ được, còn nhiều cái khổ khác chất chồng, không sao tránh khỏi được như: bệnh tật, đói khác, bảo lụt, hỏa hoạn, chiến tranh, áp bức,, sưu cao thuế nặng v.v…Vì thế nên gọi là “Khổ Khổ”.
b)Hoại khổ: Trong khế kinh nói: “Phàm vật có hình tướng đều bị hoại diệt” Thật thế, vạn vật trong vũ trụ đều bị luật vô thường chi phối, không tồn tại mãi mãi được, cứng rắn như sắc đá lâu năm cũng mục nát; to lớn như trái đất, mặt trăng, mặt trời lâu ngày cũng tan rã. yếu ớt, nhỏ nhen như thân người, thì mạng ssống lại càng ngắn ngủi phù du: cái búa tàn ác của thời gian đập phá tất cả, mỗi phút, mỗi giây ta sống, là mỗi phút mỗi giây ta bị hủy hoại…
c)Hành khổ: Về phương diện vật chất ta bị ngoại cảnh thời gian chi phối phá hoại, còn về phương diện tinh thần ta cũng không thể tự chủ được, yên ổn, tự do không. Tâm hồn ta thường bị dục vọng giằn vật, lôi kéo thúc đẩy từng phút, từng giây…đó là hành khổ.
2.Tám khổ:
Nếu chúng ta phân tích tỷ mỉ hơn, thì cái khổ của thế gian có thể chia làm tám loại. Tám loại nầy tựu trung cũng không ngoài ba khổ kia.
Tám loại khổ là: Sanh khổ, Lão khổ, Bệnh khổ, Tử khổ, Ái biệt ly khổ, Cầu bất đắt khổ, Oán tăng hội khổ, Ngũ ấm xí hạnh khổ. Dưới đây chúng ta hãy nói về tám nổi khổ nầy.
a) Sanh khổ: Sự sanh sống của con người có hai phần khổ, khổ trong lúc sanh, khổ trong đời sống.
Khổ trong lúc sanh: Người sinh và kẻ bị sinh đều khổ cả, khi người mẹ mới có thai là bắt đầu biếng ăn, mất ngủ, nôn ọe, dã dượi bần thần, thai mỗi ngày một lớn, người mẹ mỗi ngày một mệt mỏi, rồi đến lúc sanh, thuận thai, nghịch thai, không biết bao nhiêu sự cố xẩy ra v.v…Đến kỳ sinh sản thân con người phải chen qua chổ chật hẹp, như bị đá ép bốn bề, nên vừa thoát ra ngoài, liền cất tiếng khóc vang “ khổ a ! khổ a !”. Thật như đúng hai câu thơ Ôn Như Hầu:
“ Thảo nào lúc mới chôn nhau
Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra!”
– Khổ trong đời sống: về phương diện vật chất, tinh thần đều có nhiều nổi khổ sở v.v…
b) Lão khổ: Ca dao có câu “Già nua là cảnh điêu tàn, cây già cây cổi người già người si”. Con người đến già thân thể hao mòn, tinh thần suy kém nên khổ cả thể xác, lẫn tinh thần.
– Khổ thể xác. Khi đã già khí huyết hao mòn.
– Khổ tinh thần. Càng già thân thể suy kém, trí tuệ hao mòn.
c) Bệnh khổ: Lúc lâm bệnh hành hạ con người làm cho khổ sở không gì hơn là cái đau đớn… bất luận đau gì…nào là tiền bạc tốn kém, tiền mất tật còn…oan oan, ương ương thật, là khổ nảo thật đúng là bệnh khổ.
d) Tử khổ: Trong bốn hiện tượng của vô thường. Sanh, già, bệnh, chết. Chết là cái làm cho chúng sanh sợ hải nhất, con người sợ chết đến nổi ở trong hoàn cảnh sống thừa, không nên sống làm gì nữa, thế mà nghe nói đến chết cũng sợ. Những người xấu số như bị bệnh nan y, ung thư, bệnh hủi sống thêm một ngày, là khổ thân một ngày, thế mà con người bạc phước muốn sống mà thôi. Cái chết làm khổ con người như thế nào mà ai cũng sợ hải thế.
Về thân xác có mục kích nhìn người hấp hối chúng ta sẽ thấy…Về tinh thần khi sắp chết tâm thần rối loạn, sợ hải vô cùng, nào còn thương con, nhớ vợ nhớ chồng v.v…
e) Ái biệt ly khổ: Ttrong tình yêu thương giữ vợ chồng, con cái, anh em đang mặn nồng, thắm thiết mà bị chia ly thì thực không có gì đau đớn hơn, sự chia ly có hai loại: Sanh ly và Tử biệt.
– Sanh ly khổ; một gia đình đang sống trong cảnh vui vầy, bổng vì hoàn cảnh bắt buộc hay vì gặp một tai họa thình lình như: Giặc dã, bảo lụt động đất, tai nạn, dịch nạn làm cho mọi người bơ vơ thật đau lòng xót dạ. Người đời thường nói chẳng thà lìa tử, hơn lìa sinh, đó là cái khổ của sanh ly.
– Tử biệt khổ; nhưng mặc dù xa cách nhau ngàn dặm, người sống còn có ngày gặp gỡ, chứ chết rồi, bao thủa sum vầy để lấy đâu mà sum vầy, ví dụ…đó là cái khổ tử biệt.
g) Cầu bất đắc khổ (thất vọng). Ở đời hy vọng càng nhiều, hì thất vọng càng lắm, bất luận trong một vấn đề gì, số người được toại nguyện thì quá hiếm hoi, mà người thất bại bất như ý thì không sao kể xiết…
– Thất vọng công danh.
– Thất vọng vì phú quý.
– Thất vọng tình duyên.
Đây là những điều cầu bất đắc khổ.
h) Oán tăng hội khổ: Con người ở đời lúc nào cũng muốn trong cảnh thương yêu, chẳng ai muốn chia ly… cũng như trong hờn ghét chẳng ai muốn gặp gở…
Nhưng oái ăm thay ở đời khi mong muốn hội ngộ, lại phải chia ly, với hai người thương yêu nhau như thế nào, thì cái khổ hội ngộ hai người ghét nhau như thế ấy, người ta thường nói thấy mặt kẻ thù như kim đâm vào mắt, ở chung với nhau người nghịch như nếm mật nằm gai.
Trên đây là ý nghĩa của Oán tăng hội khổ
i) Ngũ ấm xí hạnh khổ: Cái thân tứ đại của con người cũng gọi là thân ngũ uẩn (năm món che đậy) 1 Sắc ấm, 2 Thọ ấm, 3 Tưởng ấm, 4 Hành ấm, 5 Thức ấm. Nó chi phối làm thân con người chịu những cái khổ sau đây.
– Bị luật vô thường chi phối từ trẻ đến già, từ mạnh đến ốm, từ đau đến chết luôn làm cho con người lo sợ buồn phiền.
– Bị thất tình lục dục lôi cuốn làm cho con người phải đắm nhiều sáu trần, làm cho con người phải khổ lụy thân tâm.
– Bị vọng thức điên đảo chấp trước, nên con người nhận thấy một cách sai lầm, có ta, có người, còn mất, khôn dại, có không, rồi sinh ra rầu lo khổ nảo. Ấy là Ngũ ấm xí hạnh khổ.

III. ĐỨC PHẬT NÊU RÕ NHỮNG NỖI KHỔ ẤY ĐỂ LÀM GÌ?
Có người sẽ băng khăn thắc mắc tự hỏi: Đức Phật nêu một cách rốt ráo những nỗi khổ của thế gian để làm gì? Cuộc đời đã đau khổ như thế, thì nên che dấu bớt đi chừng nào hay chừng ấy, sao lại lột trần nó ra làm gì cho người ta càng thêm đau khổ? Ta cố gắng tạo nên một ảo tưởng tốt đẹp về cuộc đời để sống an ổn trong ấy, có hơn không? Đứa trẻ nít sống một cách hồn nhiên, yên ổn trong hạnh phúc vì nó không biết đến những nỗi đau khổ, xấu xa của cuộc đời. Tại sao không cố gắng bắt chước như chúng, đừng tìm biết gì cả về phương diện xâu xa của cỏi đời, để sống một cuộc sống hạnh phúc hơn? Đức Phât thường được gọi là một đấng Từ Bi, sao lại làm một việc nhẫn tâm như thế?
Những câu hỏi thắc mắc trên, mới nghe tưởng chừng như có lý, nhưng nếu suy xét một cách rôt ráo, sẽ thấy chúng ta là nông cạn. Đức Phật không nhẫn tâm khi nêu lên những nỗi khổ căn bản cùa cỏi đời; chính vì lòng Từ bi mà ngài làm như thế. Đức Phật muốn cho người đòi biết rõ những nỗi khổ của trần gian vì những lợi ích sau đây:
1.Gặp cảnh khổ không khủng khiếp.
2.Không tham cầu nên khỏi bị hoàn cảnh chi phối.
3.Gắng sức tu hành để thoát khổ.

IV. BIẾT KHỔ PHẢI TÌM RA NGUYÊN NHÂN SANH RA KHỔ ĐỂ DIỆT TRỪ
Chúng ta duyên lành được đức Phật từ bi chỉ rõ cho ta thấy rằng: Cỏi Ta bà nầy cũng như Tam giới. Nguyên nhân phát sinh ra khổ đức Phật đã thuyết trong đoạn thứ II của Tứ Diệu Đế là Tập đế.

Chương Thứ Ba

Tập Đế:
(SAMEDA DUKKHA)

VÌ SAO ĐỨC PHẬT NÓI KHỔ ĐẾ TRƯỚC VÀ TẬP ĐẾ SAU:
Trong Khổ đế chúng ta thấy rõ những nỗi thống khổ của trần gian. Trước những nỗi khổ ấy, không ai là không nhàm chán, ghê sợ cho cuộc đòi ở cảnh giới ta bà nầy, và không ai có thể an tâm điềm nhiên sống trong cảnh ấy. nhiều câu hỏi liền nẩy ra trong đầu óc chúng ta: Vì đâu sinh ra những nỗi khổ ấy ? Ta có thể thoát khỏi móng vuốt của chúng, để có một cảnh giới đẹp đẽ hơn chăng, và thoát bằng cách nào ?
Đó là câu hỏi mà đưc Phật sẽ lần lược giải đáp một cách tường tận ở ba phần Tập; Diệt và Đạo đế.
Ngay trong phần Tập đế này, đức Phật sẽ lần lượt giải đáp câu hỏi thứ nhất của chúng ta là nói rõ nguyên nhân của đau khổ.
Nguyên nhân sanh ra bệnh của chúng sanh đức Phật gọi là Tập đế
I. Định nghĩa: Tập đế: Tập là chứa, nhóm, dồn thêm mỗi ngày mỗi nhiều hơn lên. Đế là sự thật vững chắc và đúng đắn hơn cả, Tập đế là sự thật đúng đắn, vững chắc về nguyên nhân của nỗi khổ đã chứa đựng, nhóm đã tích trử, lâu đời lâu kiếp trong mỗi chúng sanh. Đó là sự thật về cội gốc của sinh tử, luôn hồi, của bể khổ trần gian.

II / NGUYÊN NHÂN CỦA NỖI KHỔ LÀ NHỮNG GÌ?
Đức Phật dạy là gốc của sinh tử luân hồi do các phiền não mê lầm mà ra. Phiền não mê lầm là những dục vọng xấu xa, những ý niệm sái quấy làm não loạn thân tâm chúng ta.
Phiền não thì rất nhiều nói rộng thì đến tám muôn bốn ngàn (84.000), nói hẹp thì có mười phiền não gốc, gọi là căn bản phiền não. Do mười phiền não gốc nầy mà sinh ra vô số phiền não ngành ngọn. Mười gốc phiền não là:
1. Tham: Nghĩa là tham lam. Tánh tham có động lực bắt ta phải dòm ngó, theo dỏi những gì ưa thích như: Tiền tài, danh vọng, miếng ăn, chổ ở v.v…
2. Sân: Nghĩa là nóng giận. Khi gặp phải những cảnh trái ý nghịch lòng như lòng tham không được toại nguyện, thì Sân nổi lên như ngọn lửa đốt cháy lòng ta. Rồi từ đó mà phát ra những hành động không lường được v.v…
3. Si: Nghĩa là si mê, mờ ám. Si như một tấm màn che đậy dày đặc, đen tối trùm lên trí tuệ của ta, làm cho ta không nhìn thấy sự thật, phán đoán được cái hay, cái dở, cái tốt, cái xấu. Do đó gây ra không biết bao nhiêu tội lổi làm hại mình, hại người mà không hay biết.
Ví dụ: bất si tức là sáng suốt có trí để nhận rõ cái đúng, cái sai… để hành động.
Tham-Sân-Si Phật gọi là ba món độc vì do nó mà chúng sanh phải chịu nhiều kiếp luân hồi đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
4. Mạn: Tự nâng cao mình lên và hạ thấp người khác xuống.
5. Nghi: Nghĩa là nghi ngờ không có lòng tin.
Người nghi ngờ không làm được việc gì hết đối với người thân trong gia đình họ không tin cậy…bạn bè…bản thân mình cũng không tự tin nữa, nghi pháp, nghi nhơn…
6. Thân kiến: Nghĩa là chấp thân ngũ ấm Tứ đại, giả hiệp nầy là ta là của ta.
Vì do cái chấp sai lầm ấy nên thấy có một cái ta (ngã) riêng biệt chấp chặt tồn tại không có biến đổi.
7. Biên kiến: Nghĩa là chấp một bên nghiên về một phía, có một thành kiến cực đoan.
Biên kiến có 2 lối chấp sai lầm nhất là:
a) Thường kiến; chấp tin chắt rồi, Người, Thánh, Nhơn vật đều trái lại.
b) Đoạn kiến: Chấp chết rồi mất linh hồn cho là khi tắt thở rồi không còn gì nữa, không tin nhân quả, luân hồi. Lối chấp này Phật dạy là đoạn kiến ngoại đạo.
8. Kiến thủ: Chấp chặt sự hiểu biết sai lầm của mình.
9. Giới cấm thủ: Nghĩa là theo lời răn cấm của ngoại đạo tà giáo.
10. Tà kiến: Chấp theo lời tà không chơn chính, trái với sự thật, trái với luật nhân quả.
Nói một cách khác, tà kiến nghĩa là: Mê tín dị đoan, như thờ đầu trâu, đầu cọp, bình vôi, ông táo, xin xăm bói quẻ, coi sao, cúng hạn v,v…
Nói chung cả bốn món chấp trên thuộc về tà kiến cả.

Chương Thứ Tư

Diệt Đế
(NỈODHA DUKKHA)

SAU KHI NÓI VỀ PHƯƠNG DIỆN ĐAU KHỔ XONG ĐỨC PHẬT NÓI VỀ PHƯƠNG DIỆN AN LẠC.

Sau khi giải bày đầy đủ hiện tượng nhân quả, về phần nhiễm, về phương diện đau khổ xong, đức Phật liền thuyết minh các hiện tượng nhân quả về phần tịnh, về phương diện an lạc.
Nói một cách khác sau khi dạy xong Khổ đế và Tập đế đức Phật liền dạy đến Diệt đế và Đạo đế. Có người chỉ thấy hai phần đầu của Tứ đế, Khổ và Tập nên đã tưởng đạo Phật là yếm thế, bi quan, họ cho rằng Phật giáo gieo vào lòng người sự chán đời và tuyệt vọng, họ đã lầm lớn. Kẻ bi quan chán đời là kẻ thấy cuộc đời xấu xa, đau khổ mà không tìm phương pháp thoát ra cảnh ấy mà chỉ buông xuôi tay rồi ngồi khóc than, sầu khổ.
Đạo Phật không làm như thế, đạo Phật trình bày cho mọi người thấy cái hiện tượng đen tối của mình, cái hoàn cảnh xấu xa, có nhiều sự khuyết điễm để cải đổi nó, kiến tạo lại một cuộc sống đẹp, an vui hơn. Một giáo lý như thế không thể gọi là yếm thế bi quan được, mà chính là lạc quan, yêu đời, vì còn tin tưởng khả năng kiến tạo của mình, tương lai tươi đẹp của mình và chúng sanh.
Cảnh giới mà đức Phật trình bày trong phần Diệt đế sau đây.

I.ĐỊNH NGHĨA
Sao gọi là Diệt đế ?
Diệt là tiêu diệt, trừ diệt. Diệt ở đây tức là diệt dục vọng, mê mờ, phiền não.
Đế là lý lẽ chắt thật đúng đắn do trí tuệ sang suốt, soi thấu và thuyết minh.
Diệt trừ tập nhân phiền não, vậy diệt trừ được phiền não tập nhân là đã bước lên gần giải thoát chừng ấy, như một cái phao càng bớt dần được chừng nào vật nặng dìm nó xuống, thì lại càng nổi lên mặt nước chừng ấy vậy.

II. THỨ LỚP ĐOẠN HOẶC
Như chúng ta đã biết trong bài Tập đế, tập nhân phiền não rất phức tạp, có thứ mong manh cạn cợt, có thứ in sâu vào tâm thức từ lâu đời lâu kiếp rất khó dứt trừ. Do tính chất cạn, sâu của các thứ
phiền não ấy, nên sự đoạn trừ cũng phải tuần tự theo thứ lớp. Có hai thứ đoạn hoặc chính là:
I. Kiến Đạo Sở Đoạn Hoặc
Những thứ mê lầm nầy khi thấy Chánh đạo mới đoạn được. Đây là dứt trừ những sai lầm về phần lý trí. Những phiền não nầy thuộc loại cạn cợt gây ra bởi sự gần gủi tà sư, sự tuyên tuyền tà vậy của sách vở, cùng những người tri kiến không chân chính. Nếu gặp được Minh sư, thấy được chân lý, thì liền đoạn hết, vì thế, sự dứt trừ phiền não nầy, gọi là “Kiến đạo sở đoạn hoặc”.
2.Tu Đạo Sở Đoạn Hoặc.
Những mê lầm nầy khi tu đạo mới đoạn được. Đây là sự đoạn trừ phiền não sâu kín đã đâm gốc rễ trong tâm thức, biến thành thói quen, như sự chấp ngã, sự say đắm nhục dục, tham, giận, kiêu căng…Đối với những thứ phiền não nầy, phải cần nhiều công phu tu hành dẻo dai, chắc chắn mới có thể đoạn trừ được. Do đó, mới gọi là “Tu đạo sở đoạn hoặc”.

III.CÁC TẦNG BẬC TU CHỨNG
I. Tứ gia hạnh: Muốn đoạn trừ kiến hoặc, trước tiên người tu hành phải xa rời tà thuyết.
Thánh quả người tu hành phải tu bốn gia hạnh sau đây:
a) Noản vị: Noản là hơi nóng, vị là địa vị. Người xưa khi lấy lửa họ dùng 2 thanh củi cọ vào nhau, trước khi lửa sắp bốc lên phải qua giai đoạn phát ra hơi nóng. (Học đạo như dùi cây kiếm lửa, không ngừng khi gặp khói bốc lên).
b) Đảnh vị: Đảnh là chóp cao, qua khỏi đảnh vị là vượt qua khỏi chóp núi mê mờ.
c) Nhẫn vị: Nhẫn là nhẫn nhịn, chịu đựng. Người biết nhịn, luôn luôn vẫn yên lặng sáng suốt, trước sự quấy phá của đối phương…
d)Thế đệ nhất: Bậc nầy cao quý nhất trong đời, tu đến bậc nầy là một công phu rất to tát, gần giải thoát ra ngoài Dục giới, như con diều giấy bay lượng giữa khung trung.
Tóm lại, tu hành thường xuyên bốn món gia hạnh nầy, tức là phá được cái lầm về tri kiến hay kiến hoặc, cái lầm của phi phi tưởng mà chứng đặng quả Tu Đà Hoàn là quả vị đầu tiên trong Thanh văn thừa.
2. Tu Đà Hoàn: Tiếng Hán dịch là dự lưu quả (dự vào dòng Thánh).Ở qủa vị nầy, ý thức đã sáng suốt, không còn bị mê lầm nữa, song thất thức còn chấp ngã, nên phải trở lại trong cỏi Dục, nhiều nhất là phải bảy phen sanh tử nữa, mới gội sạch các kiết sử phiền não thâm kín, nằm nép trong tâm thức, và chứng quả A La Hán.
3. Tư Đà Hàm: Tiếng Hán dịch là Nhất lai, nghĩa là còn có một phen sanh lại cỏi dục, để tu hành và dứt phần mê lầm ở cỏi Dục, mới tiến đến bậc A La Hán. Trên kia cỏi Tu Đà Hoàn, chỉ là kết quả công phu tu hành đoạn được kiến hoặc, chứ chưa đã động để tư hoặc. Sau khi chứng quả Thánh đầu tiên rồi, phải tu nữa để đoạn trừ tư hoặc, mới được bậc nầy, tuy nhiên ở cỏi Dục có chín phẩm tư hoặc, mà vị nầy chỉ mới đoạn có 6 phẩm, còn 3 phẩm nữa chưa đoạn. Nghĩa là mới đoạn 6 phẩm thô thiển bên ngoài, còn 3 phẩm sâu kín bên trong chưa đoạn. Vì thế phải trở lại một phen để đoạn cho hết 3 phần sau, mới bước lên Thánh quả thứ ba là A Na Hàm được.
4. A Na Hàm: Tiếng Hán dịch là Bất lai (nghĩa là không còn trở lại cỏi Dục nữa). Khi còn bị mê lầm của cỏi Dục lôi kéo, mới sinh vào cỏi Dục đến địa vị A Na Hàm nầy, những mê lầm ấy không còn nữa, nên không bị tái sanh ở đây nữa, trừ trường hợp phát nguyện trở lại ở cỏi đời nầy để độ sanh. Vị nầy ở cỏi trời Ngũ tịnh cư thuộc Sắc giới, cũng gọi là Ngũ bất hoàn thiên hay Ngũ Na Hàm. Vị nầy đã xa cách chúng ta như trời với vực, đã thoát ra ngoài cỏi Dục. Tuy thế họ vẫn còn mang trong mình những mê lầm vi tế câu sanh của hai cỏi Sắc và vô Sắc. Vì vậy ở Ngũ tịnh cư thiên, họ phải tu luyện để dứt hết vi tế hoặc, mới bước lên Thánh Quả A La Hán (tư hoặc gồm có chín phẩm. Tư Đà Ham quả, đoạn 6 phẩm, A Na Hàm quả, đoạn thêm 3 phẩm, đến A La Hán quả là đoạn kết)
5. A La Hán: Đây là quả vị cao nhất trong hàng Thanh Văn Thừa. Tiếng Hán dịch có ba nghĩa:
a)Ứng cúng: Vị nầy có phước đức hoàn toàn, trí tuệ hơn cả, đáng làm nơi phước điền cho chúng ta cúng dường.
b)Phá ác: Vị nầy đã phá tan những phiền não, tội ác, không còn bị chúng quấy phá sai sử, trói bược nữa.
c)Vô sanh: Vị nầy không còn bị xoay vần trong vòng sinh tử luân hồi nữa, vì đã phá trừ phiền não là yếu tố sanh tử luân hồi.

IV.GIÁ TRỊ (DIỆU DỤNG) CỦA BỐN CÕI THÁNH

Giá trị diệu dụng của bốn cõi Thánh trên do công năng tu tập chứng đắc.
a/ Thiên nhản thông: Nhản lực soi thấy khắp muôn loài cùng sự sanh hóa trong thế giới bao la hiện đại…
b/ Thiên nhỉ thông: Nhỉ lực nghe khắp mọi nơi,đủ các tiếng tăm đồng loại và dị loại…
c/ Tha tâm thông: Tâm lực biết được tâm niệm sở cầu của người khác…
d/ Túc mạng thông: Trí lực hay biết các kiếp trước của mình và kiếp của người…
đ/ Thần túc thông: Có hai nghĩa: một là được thần thông tự tại như ý muốn; hai là trong giây lát đi đâu được như ý muốn, không bị vật hửu tình làm chướng ngại.
Năm phép thần thông nầy tuy có đặc biệt hơn nhân loại nhiều, song chưa phải là điễm quan trọng của người tu hành cầu giải thoát. Điễm quan trọng nhất của lối tu giải thoát là “Lậu tận thông”.Lậu tận thông là được trí tuệ thông suốt cả ba đời, không còn bị các phiền não, hửu lậu làm ngăn ngại, nghĩa là giải thoát sanh tử, chỉ những vị A La Hán mới được quả vị nầy Lậu Tận Thông.

V. DIỆT ĐẾ TỨC LÀ NIẾT BÀN
Kinh Niết bàn dạy các phiền não diệt gọi là Niết bàn.
Niết bàn hay Niết bàn Na Nê Hoàn là do Tàu dịch Niết ban có nghĩa như sau: Niết là ra khỏi, Bàn là rừng mê, Niết bàn là ra khỏi rừng mê…Niết bàn không dệt ra sinh tử luôn hồi.
Diệt đế là chân lý chắc thật nói về quả vị mà một kẻ tu hành có thể chứng được quả vị ấy tức là Niết bàn. Nhưng vì sự tu hành có thấp có cao nên quả chứng, tức là Niết bàn cũng có thấp, có cao, có hoàn toàn, chưa có hoàn toàn.
Tiểu Thừa thì ba quả đầu.
1. Tu Đà Hoàn
2. Tư Dà Hoàn
3. A Na Hàm.
Vì phiền não chưa hoàn toàn tuyệt diệu. Muốn thấy được Niết bàn thật, phải tự mình thân chứng thể nhập Niết bàn, cần phải tu theo phương pháp mà đức Phật đã dạy trong phần Đạo đế sẽ trình bày trong những bài sau đây.

Chương Thứ Năm

ĐẠO ĐẾ
(NỈODHA GAMADUKKHA)

A. NÓI VỀ TỔNG QUÁT ĐẠO ĐẾ
Như trong bài đã nói, muốn thật chứng thể nhập Niết bàn, thì tu theo phương pháp mà đức Phật đã dạy, phương pháp chân chính có hiệu quả chắc thật để thành phật đó là Đạo đế, phần nầy quan trọng nhất trong bài Tứ Diệu Đế.
Vì nếu có rõ biết đời là đau khổ, nguyên nhân của nó (khổ) là gi?
Và nếu có biết cầu giải thoát khỏi cảnh khổ đến một cỏi an vui tốt đẹp nhất là Niết bàn. Nếu không có phương pháp hiệu nghiệm để thực hiện ý muốn ấy thì biết bao nhiêu cũng vô ích và càng thêm đau khổ.
Do đó Đạo đế là phần quan trọng và được đức Phật dạy một cách rõ ràng chu đáo.
Đạo đế có 37 phẩm chia làm 7 loại “ 37 phẩm trợ đạo”
1. Bốn món Niệm xứ (Tứ niệm xứ)
2. Bốn món chánh cần (Tứ chánh cần)
3. Bốn món như ý túc (Tứ như ý túc)
4. Năm căn (Ngũ căn)
5. Năm lực (Ngũ lực)
6. Bảy phần bồ đề (Thất bồ đề phần)
7.Tám phần chánh đạo (Bát chánh đạo phần)

A. TỨ NIỆM XỨ

I. Đ ỊNH NGHĨA VỀ TỨ NIỆM XỨ
Tứ là bốn, niệm là hằng nhớ nghĩ, xứ là nơi chốn. Tứ niệm xứ là bốn chổ, 4 điều mà kẻ tu hành thường để tâm nhớ nghĩ đến đó là:
– Quán thân bất tịnh.
– Quán tâm vô thường.
– Quán pháp vô ngã.
– Quán thọ thị khổ.

1. QUÁN THÂN BẤT TỊNH
Quán nghĩa là tập trung tư tưởng để quan sát cho thấu đáo, bất tịnh nghĩa là không trong sạch…Dẫn dụ….

2. QUÁN TÂM VÔ THƯỜNG
Tâm vô thường nghĩa là cái tưởng của tự tâm chúng ta luôn luôn thay đổi không thường. Cái tưởng của tự tâm là gi? Chính là cái phân biệt, hiểu biết hăng ngày…

3. QUÁN PHÁP VÔ NGÃ
Nghĩa chữ Pháp là rộng lớn mênh mông, chỉ cho tất cả mọi sự vật trên vũ trụ, chẳng những các vật hửu hình, cho đến các vật vô hình tưởng tượng như: Lông rùa, sừng thỏ cũng gọi là pháp cả. Còn ngã có nghĩ là chủ tể là riêng có tự tướng của mình…
4. QUÁN THỌ THỊ KHỔ
Thọ là chịu nhận lảnh, thọ thị khổ có nghĩa là là đã có nhận lảnh là có khổ… nhận lảnh ở đây là nhận lảnh cái gì?.
Tứ niệm xứ: Là giáo lý căn bản trong phần Đạo đế, có hiểu được giáo lý nầy một cách tường tận thì sự tu hành mới vững chắc được. Nó đánh đổ được một cách rốt ráo 4 thành kiến sai làm lớn của con người là: Tưởng tâm mình là vĩnh viễn thường còn như một linh hồn bất diệt.
– Tưởng mọi sự vât trên đời nầy là chắc thật, trường cửu.
– Tưởng thu nhận, tom góp được nhiều chừng nào thì sung sướng chừng ấy.
a)Thân thì bất tịnh không nâng nêu chiều chuộng…
b)Pháp thì vô ngã không có tự tánh nhất định, không chắc thật đều là như huyển, như hóa…
c)Thọ thị khổ: Chẳng hạn ta thọ lảnh cái thân, thì cái thân này là dơ bẩn, thọ lảnh cái tâm là cái tâm vô thường luôn luôn biến đổi, ta thọ lảnh những vật chung quanh thì sự thật đều giả trá như khói như mây, do đó càng thọ lảnh nhiều chừng nào thì lại càng đau khổ chừng ấy.
Phải luôn luôn quán xét ghi nhớ 4 sự thật nói trên, càng chứng được sự thật chừng nào thì sự chấp ngã, chấp pháp, tham, sân, si lại càng bớt chừng ấy…
Phật tử càng nắm 4 sự thật nầy thì sự tu hành các môn trong Đạo đế sau đây như 4 món chánh cần, 4 món như ý túc, 5 món ngũ căn, ngũ lực v.v…mới dõng mạnh và chóng có kết quả chứng.

Chương Thứ Năm

B. TỨ CHÁNH CẦN

Nhờ Tứ niệm xứ, chúng ta đã thấy rõ sự thật của đời. Đó là: Thân bất tịnh, Tâm vô thường, Pháp vô ngã và Thọ thị khổ. Thấy rõ được sự thật đau khổ ấy rồi chúng ta phải gia công cố sức, làm thế nào để thoát ra ngoài móng vuốt nguy hiểm của chúng.
Muốn thế sự siêng năng, tính tấn là điều kiện trên hết trong công cuộc giải thoát của chúng ta.
Ngoài đời cũng như trong đạo, mỗi người muốn đạt được kết quả tốt đẹp trong đời mìng thì phải luôn luôn gia công gắng sức.Nhất là tu hành, mà cái quả là xuất trần, cái cứu cánh là an vui vĩnh viễn, thì sự gia công, sức cố gắng lại càng phải bền bỉ, dẻo dai vượt bực mói thành tựu được.
Hơn ai cả, Đức Phật hiểu rõ sự quan trọng của sự tinh tấn, nên đã dạy bảo chúng ta, trước khi sâu vào Đạo, phải chuẩn bị những phương tiện cần thiết, phải tỏ rõ một thái độ quyết tâm; quyết tâm xa lánh điều dữ và thực hiện những điều lành. Đó là ý nghĩa của “ Tứ Chánh Cần ” mà chúng ta sẽ nghiên cứu dưới đây.

1. ĐỊNH NGHĨA TỨ CHÁNH CẦN
Tứ Chánh Cần là bốn pháp siêng năng tinh tấn hợ với Chánh đạo, bốn pháp tinh tấn ấy là:
1. Tinh tấn ngăn ngừa các điều ác chưa phát sinh.
2. tinh tấn dứt trừ các điều ác chưa phát sinh.
3. Tinh tấn phát triển những điều lành chưa phát sinh.
4. Tinh tấn phát triển những điều lành đã phát sinh.

QUAN NIỆM VỀ ĐIỀU LÀNH ĐIỀU DỮ TRONG ĐẠO PHẬT
Trước khi làm điều lành tránh điều dữ, chúng ta phải biết rõ thế nào là lành, thế nào là dữ. những đièu dữ có thể làm tổn hại cho mình và người trong hiện tại cũng như trong tương lai, chúng bao giờ cũng nghịch với từ bi, bình đẳng, trí tuệ và chân lý.
Với hai định nghĩa nầy, không phải đợi đến khi phát lộ ra bằng hành động, mới gọi là lành hay dữ. Ngay trong ý nghĩ, và quan trọng nhất là ý nghĩ cũng đã phân biệt được lành hay dữ rồi. Theo Đạo Phật ba nơi phát sinh của lành hay dữ là: Thân, khẩu, ý. Như thế, một cử chỉ, một lời nói, hay một ý nghĩ, đều có thể lành hay dữ. Do đó, Đức Phật dạy chúng ta phải lo ngăn ngừa những điều dữ, hay thực hiện điều lành ngay khi chúng còn ở trong ý thức.
(Xem lại bài Thập thiện trong Phật học Phổ thông khóa nhì)

III. NỘI DUNG CỦA TỨ CHÁNH CẦN

1. Tinh tấn ngăn ngừa những điều ác chưa sinh.
2. Tinh tấn dứt trừ những điều cá đã phát sinh.
3. Tinh tấn làm các điều lành chưa phát sinh.
4. Tinh tấn tiếp tục phát triển những điều lành đã phát sinh.

III. Ý NGHĨA RỘNG LỚN VÀ DIỆU DỤNG CỦA TỨ CHÁNH CẦN
Tứ chánh cân là 4 pháp siêng năng chân chính trong công việc diệt trừ tội ác và phát triển điều lành (Thiện). Nó bao gồm tất cả những quy điều căn bản thiết yếu của mọi tôn giáo, đạo đức, luân lý.
Thật thế, nếu suốt đời chúng ta chỉ theo cho đúng bốn pháp siêng năng nầy là: ngăn ngừa không cho điều ác phát sinh, diệt trừ những điều ác đã lỡ phát sinh, thúc đẩy thực hiện điều lành vừa móng lên ở trong tâm và tiếp tục thực hiện nhiều hơn nữa những điều đã thực hiện được, nếu chúng ta tinh tấn làm như thế thì chúng ta chắc chắn được địa vị Thánh hiền.

C. TỨ NHƯ Ý TÚC
Sau khi đã nhận rõ chân tướng của cỏi đời (Tứ niệm xứ), đã quyết tâm bỏ ác theo thiện (Tứ chánh cần), hành giả muốn đi trên con đường đạo, cần phải vạch cho mình một hướng tiến nhất định và phải có một thái độ quyết tâm nhằm theo đúng hướng đã vạch mà đi, không nhìn ngang, nhìn ngữa, không mong ước cái nầy cái khác. Hành giả chí quyết đi một đường, tập trung tất cả mong ước, chú nguyện ý chí, năng lực tinh thần của mình vào đó cho đến khi được toại nguyện như ý mới thôi.
Muốn được như thế Hành giả phải tu theo pháp “Tứ như ý túc”, một trong những pháp môn của Đạo đế dưới đây.

I. ĐỊNH NGHĨA TỨ NHƯ Ý TÚC
Tứ như ý túc là bốn pháp thiền định. Nói cho rõ đó là bốn phương tiện giúp chúng ta thành tựu các Tam ma địa (Sâmdhi: chánh định),vì thế nên cũng gọi là định pháp “Như ý” là được như ý muốn “Túc” là chân có nghĩa nương tựa mà cũng có nghĩa là đầy đủ. Tứ như ý túc, có nghĩa là bốn pháp làm nơi nương tựa cho các công đức thiền định, thần thông được thành tựu mỹ mãn như ý muốn của mình. Bởi lý do đấy, nên cũng gọi nó bằng tên tứ thần túc. Luận Câu Xá quyển 25 có nói: “Vì sao định mà gọi là thần túc? Vì các công đức linh diệu thù thắng đều nương nơi bốn định nầy mà được thành tựu”. Bốn định ấy là:
1. Dục như ý túc: là mong muốn….
2. Tinh tấn như ý túc: Dũng mạnh chuyên cần vào phương pháp của mình đang tu học.
3. Nhất tâm như ý túc: Nhất tâm vào định cảnh không bao gời tán loạn.
4. Quán như ý túc: Là dung trí tuệ sáng suốt, quán sát mình đang tu học…

III. TÓM TẮT Ý NGHĨA VÀ DIỆU DỤNG CỦA TỨ NHƯ Ý TÚC
Sở dĩ Dục, Tinh tấn, Nhất tâm và Quán đều được gọi là Như ý túc, vì chúng là những thứ để cho tất cả công đức tu hành, thần lực nương vào đó để phát sanh hợp như ý muốn của hành giả.
Bốn pháp nầy như bốn nấc thang kế tiếp theo nhau, để đưa hành giả từ cái nhân hửu lậu mê mờ, đến cái nhân lậu vô giải thoát, trước hết do tâm hằng mong muốn (Dục), cho nên sự tu tập càng dũng mạnh (Tinh tấn). nhờ sự tu tập dũng mãnh, nên phiền não, tiêu tán động hết, do đó tâm được chuyên nhất nên quán trí được thanh tịnh mẫn lợi (Quán), và có năng lực phá tan cội gốc vô minh.
Khi vô minh hết, thì vô số nghiệp chướng phải tiêu, hằng sa trí đức phát hiện. Người tu hành khi trí huệ và công đức viên mãn, tức khắc đầy đủ vô biên thần dụng trong sự hiện thân, hiện độ, để cứu khổ chúng sanh, chứ không phải đâu chỉ khi chứng được lục thông mới đuợc tự tại.

D. NGŨ CĂN – NGŨ LỰC
Sự tương quang của Ngũ Căn Ngũ Lực trong 37 phẩm trợ đạo:
I. ĐỊNH NGHĨA NGŨ CĂN
Là năm căn. Căn ở đây là căn bản, là gốc rễ, là nguồn gốc để tất cả các thiện pháp phát sinh. Luận Trí Độ quyển thứ 10 giả rằng “ Năm căn là năm căn bản để phát sinh tất cả các thiện pháp, nên gọi là ngũ căn”. Năm căn ấy là: Tín căn, Tấn căn, Niệm căn, Định căn và Huệ căn.
II. Nội dung của ngũ căn.
1.Tín căn: Là lòng tin mạnh mẽ vững chắc. lòng tin nầy không giống như lòng tin mù quáng, vô điều kiện, bất chấp lý của phần nhiều kẻ ngoại đạo, lòng tin ở đây là con đẻ của lý trí. Đức Phật không bao giờ bắt buộc phật tử tin một điều gì mà không suy luận được, không giải thích được.
Phật dạy: “Tin là mẹ của vô lượng công đức” Nhưng phật tử tin cái gì? Phật tử tin Tam Bảo.Tin Phật, Tin Pháp, Tin Tăng….
2.Tấn căn: Tấn là tinh tấn. Tấn căn là sự dũng mãnh, tinh tấn trên bước đường tu tập, không bao giờ thối lui.
Người phật tử tin Tam Bảo thì phải luôn luôn tinh tấn thực hành giáo lý của Phật theo Luận Nhiếp Đại Thừa, tinh tấn có ba thứ.
Bị giáp tinh tấn: Nghĩa là mang áo giáp tinh tấn. người phật tử trong chiến đấu để diệt trừ đau khổ, tiến tới giải thoát, cần phải mang theo áo giáp tinh tấn, xông pha vào trận địa phiền não khỏi bị ma quân hãm hại, nhờ có áo giáp ấy mà không lùi bước trước một địch thủ nào…
Gia hạnh tinh tấn: Nghĩa là luôn luôn gắng sức không bao giờ ngừng nghỉ trên bước đường đạt đến giải thoát, càng thêm lực, càng phấn chí không bao giờ mệt mỏi, thối chuyển.
Vô hỷ túc tinh tấn: Vô hỷ túc nghĩa là không vui sướng tự mãn, cho là vừa đủ khi mới thu được một ít thắng lợi trên đường tu hành, người phật tử chưa chứng được quả, thì còn gia công gắng sức tu luyện mãi..
3. Niệm căn: Niệm là ghi nhớ, ghi nhớ những gì? Thứ nhất niệm thí, nghĩa là tu bố thí, người phật tử thường đem tài sản bố thí cho người bần cùng, đêm hùng lực cứu giúp người sợ hải, đem chánh pháp chỉ gióa người si mê, khiến họ hết khổ được vui.
Thứ hai niệm giới, nghĩa là nhớ trì tịnh giới để đoạn trừ phiền não nghiệp chướng, tăng trưởng mọi hạnh lành.
Thứ ba niệm thiên, Luận Nhiếp Đại Thừa có nói “ Thiên niệm trụ là an trụ bốn món thiền định” Vậy niệm thiên là nhờ tu các niệm thiên định, để gạn sạch tất cả phiền não, thể chứng chân như.
4. Định căn: Định hay tịnh là lắng tâm yên tịnh, chuyên chú vào chánh pháp, để suy đạt thật nghĩa của nó theo Luân Nhiếp Đại Thừa định có thể chia làm ba bậc:
An trụ định: Để tâm an trụ vào định cảnh không cho tán động, do đó phiền não được tiêu trù.
Dẫn phát định: Do đoạn sạch phiền não, nên được phát sanh sáu món thần thông là các công đức thù thắng.
Thành sở tác sự định: Do đã phát khởi được các công đức thần thông, nên thường làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, cứu độ chúng sinh thoát khỏi sinh tử, chứng được niết bàn
5. Huệ căn: Huệ là trí huệ sáng suốt, thâm nhập được thân tương của vạn pháp. Trí tuệ ấy không có sự phân biệt, vì phân biệt là tác dụng của vọng thức là mê lầm. Cũng theo Luận Nhiếp Đại Thừa Trí tuệ có ba thứ:
Vô phân biệt gia hạnh huệ: Quán trí nầy không còn thấy có phân biệt, nhưng còn có gia hạnh nghĩa con phải dụng công tu hành để thành tựu hoàn toàn vô phân biệt trí. Vì thế nên gọi là “ Vô phân biệt gia hạnh huệ”.
Vô phân biệt huệ: Trí huệ nầy không có sự phân biệt, mà không cần phải gia hạnh, vì đã thuần thục do không phân biệt nên không có mê vọng, nhờ trí tuệ nầy. Người tu hành được tự tại, thể chứng chân như.
Vô phân biệt hậu đắc huệ: Hay hậu đắc trí, Nghiữa là trí tuệ có được sau khi đã đắc chứng được chân như, trí tuệ nầy hoàn toàn sáng suốt, tỏ ngộ được thật nghĩa của chánh pháp, Chư Phật nhờ hậu đắc trí nầy mà thi tác vô lượng công đức để cứu độ chúng sanh.

III. ĐỊNH NGHĨA NGŨ LỰC
Nói một cách tổng quát, giản di, huệ căn là trí huệ do thiền định đã làm láng sạch các vọng tưởng, phân biệt mà phát sanh, nó thông đạt được sự thật của các pháp, nó là căn nguyên phát sanh mọi vĩ đại để giải thoát chúng sanh.
Ngũ lực tức là năm lực vĩ đại, năm thần lực của ngũ căn. Nói một cách dể hiểu, ngũ căn như năm cánh tay, còn ngũ lực là sức mạnh của năm cánh tay ấy.

IV. THÀNH PHẦN VÀ NỘI DUNG CỦA NGŨ LỰC.
1. Tín lực: Tức là thần lực của đức tin, hay sức mạnh lớn lao, vi diệu do tín căn phát sinh.
2. Tấn lực: Tức là thân lực của đức tinh tấn, hay sức mạnh bất thối chuyển, kiên cố, có thể sang bằng mọi trở lực, sức mạnh nầy do tấn căn phát sinh.
3. Niệm lực: Tức là thần lực của sự ghi nhớ, hay sức mạnh lớn lao bền chắc của niệm căn.
4. Định lực:Tức là thần lực của sự tập trung tư tưởng, hay sức mạnh vĩ đại của định căn.
5. Huệ lực: Tức là thần lực của trí huệ, hay sức mạnh vô biên của huệ căn.
Nói một cách tổng quát, những sức mạnh nầy là kết quả thâu đạt được do sự kin cố tu luyện ngũ căn, nó như một ngọn lửa bật lên, sau khi người ta đã nổ lực cọ xát hai cây củi vào nhau để lấy lửa.

V. DIỆU DỤNG CỦA NGŨ CĂN VÀ NGŨ LỰC.
Như chúng ta đã thấy trên, ngũ căn, ngũ lực vừa làm căn bản, vừa là nghị lực để phát sinh tăng tưởng vô lượng công đúc.
Bất luận người nào hễ lấy trí làm nền tảng, tinh tấn thực hành Chánh pháp (tấn) hằng ghi nhớ Chánh pháp để tiến tu (niệm), tập trung tư tưởng để trừ sạch vô minh phiên não (định), đem diệu huệ vô phân biệt (huệ), thể chứng chân như, thì người ấy thế nào cũng nắm chắc trong tay quả vị vô thượng Bồ đề. Vì sao ? Vì người ấy đã có những thần lực vĩ đại (ngũ lực), do ngũ căn gây tạo. Với ngũ lực nầy hành giả như một người bộ hành có đủ phương tiện linh hoặt diệu dụng để băng rừng, vượt biển mà đi đến đích cuối cùng. Đích cuối cùng của người tu hành theo chánh pháp tức là thành Phật, đến đích nầy người ấy là ánh sáng của chúng sanh, là ruộng phước tối thắng để chúng sanh gieo mầm an lạc. Chính người nầy mới có đủ thần lực diệu dụng làm cho chúng sanh trở thành những kẻ hoàn toàn giải thoát, hoàn toàn giác ngộ.
Kết quả ngũ căn, ngũ lực lớn lao quý báu như thế đó, chúng ta không thể không tu theo hai pháp môn ấy.

THẤT BỒ ĐỀ PHẦN.

I. ĐỊNH NGHĨA THẤT BỒ ĐỀ PHẦN
Bồ đề do phiên âm chữ Phạn Botthi mà ra. Người Trung Hoa dịch là giác đạo, hay đạo giác ngộ. Phần là từng phần, từng loại. Thất bồ đề phần là: bảy pháp tu tập tuần tự hướng đến đạo quả vô thượng bồ đề, hay bảy pháp giúp ta thành tựu đạo quả Đại giác.
Nó cũng có tên là thất giác chi. Giác tức là bồ đề, Chi cũng như phần vậy. Thất giác chi tức là bảy nhánh, bảy phương tiện đi đến giác ngộ.

II. THÀNH PHẦN VÀ NỘI DUNG CỦA THẤT BỒ ĐỀ PHẦN.

Thất Bồ Đề Phần Gồm Có:
1.Trạch pháp: Trạch là lựa chọn, pháp là pháp môn, là phương tiện tu hành. Trạch pháp là dung trí tuệ lựa chọn pháp lành để tu, pháp dữ để tránh. Trong sự tu tập nếu ta không có trí tuệ phân biệt chánh tà, tất phải lầm lạc. như các bài trước đã nói, lòng tin của người phật tử phải dựa trên lý trí, nếu không là mê tín. Đức Phật có dạy: “Hãy dùng trí tuệ suy nghiệm, giản trạch các pháp rồi sẽ tín thọ, thực hành theo”, nếu tu lầm, tin chạ đều đó còn nguy gấp trăm nghìn lần người không tu hành. Vì vậy, phật tử chúng ta muốn thẳng tiến trên đường giác ngộ, giải thoát, không phải nghe ai bảo gì tin nấy, không phải tự bảo một cách bừa bãi: đạo nào cũng tốt cả; không phải dung hòa Phật giáo với ngoại đạo; trái lại. Phật tử cân phải sáng suốt đề phòng sự đánh lộn sòng của các nhà ngoại đạo, sự xuyên tạc xảo quyệt để làm mất lòng tin sáng suốt của chúng ta. Chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo phân biệt chánh tà, chân ngụy; phải thường dùng trí tuệ mà giản trạch cả những pháp ở ngoài và những ý tưởng chơn vọng của tâm để tu để đoạn.
2. Tinh tấn: Nhưng một khi đã lựa chọ được pháp môn chấn chỉnh để tu rồi, thì phải tinh tấn, nghĩa là luôn luôn dũng tiến trên bước đường tu tập, không quản ngại gian lao khó nhọc, không khiếp sợ, không thối chuyển, không tự mãn, tự cao mà bỏ mục đích chưa đạt được, (như đã nói ở bài ngũ căn).
3. Hỷ: Nghĩa là hoan hỷ. Nhờ tinh tấn tu hành, nên đoạn trừ dần được phiền não thành tựu vô lượng công đức, do đó sanh tâm hoan hỷ mà phấn chí tu hành.
4. Khinh an: Khinh là nhẹ nhàng, an là an ổn. Nhờ sự tinh tiến tu tập, nên thân tâm được thanh tịnh. Do đó, người tu hành cảm thấy nhẹ nhàng, khoan khoái, khinh an, như đã trút được gánh nặng dục vọng mê mờ.
5.Niệm: (cũng như chữ niệm trong mấy bài trước). Nghĩa là thường ghi nhớ chánh pháp để thực hành. Tâm niệm ta nếu không thường nhớ Chánh pháp, tất nhiên tạp niệm phát sinh, phiền não tăng trưởng. Cũng như một đám đất không trồng hoa, thì cỏ mọc, vì thế người tu hành cần để tâm ghi nhớ Chánh pháp, đừng cho xao lãng, buông lung nghỉ bậy.
6. Định: (cũng như chữ định ở mấy bài trước). Nghĩa là chuyên chú, tập trung vào pháp mình đang tu.
7. Xả: Nghĩa là bỏ ra ngoài vương bận. Xả tức là hành xả tâm sở, một trong 11 món thiện tâm sở.

III. HÀNH XẢ NGHĨA LÀ NHƯ THẾ NÀO?
Người tu hành nhớ trí sáng suốt, nhận biết “thọ là khổ”, nên không nắm giữ một thứ gì hết, dù quý bao nhiêu. Ngay trong sự tu hành cũng vậy, họ không trụ trước ở các pháp mình đã tu, đã chứng; trái lại họ luôn luôn xả bỏ những gì mình đã đạt đến, để tiến triển trên bước đường đi đến giải thoát. Nếu người tu hánh cứ mãi say đắm vào quả vị của mình đã chứng, thì suốt đời sẽ bị trầm ở một nơi nào đó, không bao giờ có thể tiến lên, để đạt thành quả vô thượng bồ đề. Kim Cang sớ có nói:, “ Người tu hành phải như người nương thuyền sang sông, khi thuyền đã cập bến, nếu ta không bỏ nó để lên bờ, thì đừng hòng đến đâu và biết gì được. Người muốn hành đấng siêu việt tự tại, cần phải khước trừ mọi đắm say”.
Pháp hành xả nầy giúp ta thành tựu siêu thoát ấy.
Tóm lại, người tu bảy pháp bồ đề phần nầy, chắc chắn sẽ đạt được bốn kết quả quý báu sau đây:
-Tất cả pháp ác điều được tiêu trừ.
– Tất cả pháp lành ngày càng tăng trưởng.
-Vì thường tu thiện, đoạn ác, nên luôn luôn được an lạc, không bị khổ đau.
-Sẽ chứng thành Phật quả.

BÁT CHÁNH ĐẠO
Trong 37 món trợ đạo, Bát chánh đạo là một pháp môn thường được coi như là pháp môn chính, được nhắc nhở đến nhiều nhất. vì thế mỗi khi nói đến Đạo đế, là người ta liên tưởng đến Bát chánh đạo, thậm chí có người tưởng lầm rằng Đạo đế với Bát Cánh Đạo là một.
Sở dĩ Bát Chánh đạo được xem là pháp môn chính của Đạo đế, vì pháp môn nầy rất đầy đủ, có thể bao gồm các pháp môn khác của Đạo đế. Nó rất phù hợp với mọi căn cơ, mọi thời đại, mọi phương sở, đối với Tiểu thừa, cũng như Đại thừa, người Đông phương cũng như người Tây phương ai ai cũng đều công nhận giá trị hoàn toàn cao cả của Bát Chánh đạo, và đều áp dụng pháp môn nầy trong sự tu hành của mình, để đoạn trừ phiền não, khổ đau, hầu bước lên con đường giải thoát, an vui, tự tại.

I. ĐỊNH NGHĨA BÁT CHÁNH ĐẠO
Bát Chánh đạo là tám con đường ngay thẳng, hay tám phương tiện mầu nhiệm đưa chúng sanh đến đời sống chí diệu.
Người ta cũng có thể định nghĩa, Bát Chánh đạo là con đường chánh có tám ngành, để đưa chúng sanh đến vị Thánh. Cũng có khi người ta gọi, Bát Chánh đạo là Bát Thánh đạo, vì các diệu dụng của nó sau đây:
a. Những kẻ phàm phu học đạo, noi theo pháp môn này mà tu, thì khỏi lầm lạc vào nẻo nguy hiểm, lần hồi sẽ được chứng quả Hiền Thánh.
b. B. Những bậc Hiền thánh nương theo tám phương tiện nầy, sẽ đi đến cảnh Niết bàn.
c.
Bát Chánh đạo gồm có:
1. Chánh tri kiến
2. Chánh tư duy
3. Chánh ngữ
4. Chánh nghiệp
5. Chánh mạng
6. Chánh tinh tấn
7. Chánh niệm
8. Chánh định.

II.NỘI DUNG VÀ GIÁ TRỊ MỖI THÀNH PHẦN CỦA BÁT CHÁNH ĐẠO
1.Chánh kiến: Chánh là ngay thẳng, đúng đắn; kiến là thấy, nhận biết. Chánh kiến hay Chánh tri kiến là thấy nghe hay biết một cách ngay thẳng, công minh đúng với sự thật khách quan. người có Chánh kiến thấy như thế nào thì nhận đúng như thế ấy, không lấy trắng làm đen, lấy xấu làm tốt, hoặc trái lại.
2.Chánh tư duy: Tư duy là suy nghỉ, nghiệm xét: nó thuộc về ý thức. Chánh tư duy là suy nghỉ, xét nghiệm chân chính, tư tưởng đúng với lẽ phải.
3.Chánh ngữ: Ngữ là lời nói, Chánh ngữ là lời nói chân thật, công bình, ngay thẳng và hợp lý.
Người tu theo Chánh ngữ không bao giờ nói sai sự thật, không thiên vị, thấy dở nói hay, không xuyên tạc, nghe một đường nói một ngã. người tu theo chánh ngữ rất thận trọng lời nói, trước khi muốn nói gì phải suy nghỉ coi có lợi ích và chân thật không. Xưa Đức Khổng Tử vào viếng chốn cổ miếu, thấy bức tranh họa một hình người bị kẹp miệng ba lần. Ngài dạy lại môn đệ phải cẩn thận lời nói.
Ngày xưa khi đức Phật sắp nhập Niết bàn có đệ tử hỏi:
Bạch đức Thê Tôn khi Phât nhập Niết bàn rồi, người đời sau gặp nhiều sách vở ngoại đạo, không sao phân biệt với kinh Phật như thế biết tin theo lời nào mà tu. Phật dạy:
Chẳng luận lời nói của ai, miễn lời ấy đúng sự thật, hợp chân lý, thì cứ tin theo mà tu.
Vậy Phàm những lời nói đúng lý, hợp lẽ, có lợi ích cho toàn thể chúng sanh là Chánh ngữ. Những lời nói ấy chúng ta phải tin theo và tập nói cho đúng như thế.
4.Chánh nghiệp: Nghiệp là do người Trung Hoa dịch chữ Phạn Kâm mà ra, Nghiệp hay Kâm nghĩa là hành động tạo tác.
Chánh nghiệp là hành động,việc làm chân chánh, đúng với lẽ phải, phù hợp với chân lý, có lợi ích cho người, lẫn vật. Ngoài ra cũng là chánh nghiệp, là khi hành giả dùng trí huệ để quán tưởng những pháp chân chánh, hoặc ngồi thiền, niệm phật, hoặc tụng kinh hành, để giữ gìn thân, khẩu, ý ba ngiệp cho thanh tịnh.
5.Chánh mạng: Mạng là sự sống, đời sống. Chánh mạng là sanh sống một cách chân chính bằng nghề nghiệp lương thiện, trong sạch của mình. Người theo đúng Chánh mạng sống một cuộc đời ngay thật, không gian tham, không làm giàu trên mồ hôi nước mắt của người khác, không làm cho người và vật phải đau khổ vì nghề nghiệp của mình.
Người theo Chánh mạng sống đúng Chánh pháp, không mê tín dị đoan, và biết thân tứ đại vốn vô thường, nên lấy tịnh giới làm thể, lấy trí huệ làm mạng, bỏ niệm vọng cầu, an vui với Chánh pháp.
6.Chánh tinh tấn: Nghĩa là chuyên cần siêng năng, thẳng tiến tới mục đích đã vạch sẵn, không vì một lý do gì mà lùi bước. Chánh tinh tấn là chuyên cần, siêng năng làm việc chánh nghĩa, lợi lạc cho mình cũng như cho người và vật.
Nói tóm lại, người theo chánh tinh tấn, quyết tạo nghiệp vô lậu xuất thế gian, lấy chánh trí làm mãnh lực, lấy Niết bàn làm chỗ quy hướng, một lòng chẳng trể, muôn kiếp không dời, quyết gắng công phu, định thành đạo quả để trước tự độ, sau hóa độ chúng sanh.
7.Chánh niệm: Niệm là ghi nhớ, Chánh niệm là ghi nhớ những điều hay lẽ phải, những điều lợi lạc cho mình cho người, những đạo lý chân chính, quý trọng cao siêu. Chánh niệm có hai phần:
a.Chánh ức niệm: Là nghỉ nhớ đến các điều lỗi lầm, để thành tâm sám hối, và nghỉ nhớ đến Tứ trọng ân: ân cha mẹ, ân Tổ quốc, ân chúng sanh,và an Tam bảo, để lo báo đền.
b.Chánh quán niệm: là dùng tâm từ xét nghĩ, cuộc đời là khổ não, tật bệnh, mê mờ mà chúng sanh đang mắc phải, để mở rộng lòng thương yêu và quyết ra tay cứu độ.
Người theo đúng Chánh niệm, thường quán sát cảnh chân đế, năng tưởng niệm các pháp trợ đạo; bất luận ở đâu làm gì, cũng nhớ đến cái quả vô lậu xuất thế gian, dù trãi qua bao nhiêu số kiếp cũng không thối tâm, xao lãng.
8.Chánh định: Nghĩa là tập trung tư tưởng vào một vấn đề gì, để thấy cho rõ ràng. Chánh định là tập trung tư tưỏng vào một vấn đề chính đáng, đúng với chân lý, có lợi ích cho mình, và người.
Người theo đúng Chánh định, thường tập trung tư tưởng để quán sát những vấn đề chính sau đây:
-Quán thân bất tịnh: (bất tịnh quán), tức là quán tưởng thân không thanh tịnh, để trừ tham dục, si ái.
-Quán từ bi: (từ bi quán), là quán tưởng tất cả chúng sanh đều một chân tâm, bình đẳng không khác, để đoạn trừ thù hận,mở rộng lòng yêu thương, để cứu đọ chúng sanh.
-Quán nhân duyên: (nhân duyên quán), là quán tưởng tất cả pháp hửu tình như muôn vật, vô hình, như tâm niệm đều là giả hợp. duyên nhau mà có, chứ không có một cách chân thật, không trường tồn, để đoạn trừ ngu si, pháp chấp.
-Quán giới phân biệt: (giới phân biệt quán), nghĩa là phân biệt và quán tưởng sự giả hợp của 18 giới: 6 căn, 6 trần và 6 thức để thấy không thật có “ngã pháp”, ngõ hầu trừ ngã chấp, ngã pháp.
-Quán hơi thở: (sổ tức quán), nghĩa là quán tưởng bằng cách chuyên chú đếm hơi thở ra vào, để đối trị sự tán loạn của tâm thức.
Người chuyên tu theo tám đường chánh nầy, không những có nhiều lợi lạc trong cuộc đời hiện tại mà còn gây tạo cho mình một tương lai tươi sáng, gieo trồng cho mình những hạt giống bồ đề, để ngày sau gặt hái quả vô thượng Niết bàn, đầy đủ bốn đức, Thường, Lạc Ngã, Tịnh,. Vì những lợi ích quý báu như thế, mọi phật tử hãy phát nguyện cương quyết tu theo Bát Chánh đạo.

TỔNG KẾT VỀ ĐẠO ĐẾ

Chúng ta vừa biết qua nội dung của Đạo đế, hay 37 món trợ đạo là: Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ đề phần, Bát Chánh đạo.
Phần Đạo đế đã chiếm hết bốn bài trong mười bài nói về Tứ đế. Chỉ cái số lượng ấy, cũng nói lên sự quan trọng, mà Đức Phật muốn dành cho phương pháp tu hành để chứng nhập Niết bàn. Nhưng chúng ta đừng nên thấy quá nhiều pháp môn mà vội nản lòng, thối chí. Vì căn cơ chúng sanh không đều, nên Đức Phật cần chế ra nhiều pháp môn, để mỗi người có thể tùy theo căn cơ mình mà lựa pháp môn thích hợp để tu hành. Tất nhiên một người có thể tu nhiều pháp môn, nếu có đủ khả năng, trí tuệ, sức khỏe; nhưng nếu không đủ điều kiện, thì tu một pháp môn cũng được. Khi tu thành một pháp, các pháp kia đều thành vì nó có nhiếp thuộc lẫn nhau, trợ thành cho nhau.
Vậy phật tử không nên ngã lòng thối chí. với sự quyết tâm, với đức tinh tấn,chúng ta tuần tự tiến dần vào Đạo đế, không lo sợ, không nghi ngờ, cũng không quá bồng bột, nóng nảy, thì rồi chậm hay nhanh, thế nào cũng phải đến đích.
Hởi quý phật tử mười phương các Đức Như Lai, đầu tiên nhờ các pháp môn nầy mà dần dần được viên thành Phật quả. Tất cả các Thánh giả trong ba thừa, đều nương vào đây để tu hành cho đến ngày đạt đích. Chúng ta đàn con Phật những người đang canh cách ôm ấp bên lòng chí nguyện thành Phật để tự cứu độ và cứu độ chúng sanh, lẽ nào trong Đức Phật đã vì lòng từ bi mà soạn sửa cho chúng ta mọi phương tiện, mọi hành lý để lên đường giải thoát chúng ta lại do dự, chần chờ, hay thối thác.
Vậy chúng ta hãy mau mau cất bước lên đường giải thoát.
—————&————-
TIỂU LUẬN TRẠI VẠN HẠNH – IV. 1997
PHẬT LỊCH: 2541.
Khai mạc tại Tổ Đình Từ Hiếu Ngày 17/8/1997 (15/7/ Quí sửu PL 2541)

Thuyết trình Đề tài: NHÂN SINH QUAN VŨ TRỤ QUAN PHẬT GIÁO. Trại Sinh Số 14. Nguyên Phương
Mục Đích Gía Trị Đức Phật Ra Đời Vì Nhân Sinh Vũ Trụ.
ĐỊNH NGHĨA: Thế nào là Phật giáo?
Phật giáo là tôn giáo hay triết học?
PHẬT GIÁO không phải là tôn giáo hay triết học, Phật giáo như một chân lý sự thật, đạo của ánh sáng và Tình thương.
A / Thế nào là tôn giáo.
B / Thế nào là triết học.
I. Tôn giáo có nghĩa là: Chú ý hoặc Tôn kính, ngoài có giải thích chữ Tôn giáo có ý chỉ những giáo điều.
Vậy tôn giáo cụ thể nội dung gồm hai điều kiện:
a / Tin có Thần. Nghĩa là tôn giáo chủ trương rằng vũ trụ có một vị Thần tuyệt đối (nhất thần giáo) hay nhiều vị Thần (đa thần giáo). Thiêng liêng toàn trí, toàn năng quản trị sự vật.
b / Tín điều có nghĩa là tôn giáo chủ trương tính chất công năng của vị Thần ấy như thế nào có thánh kinh giải thích rõ ràng, người ta chỉ được phép tin theo chứ không có quyền phê phán gì thêm nữa, vì người nào muốn hưởng hạnh phúc chung một cỏi trời với vị Thần ấy phải tin theo tín điều của tôn giáo ấy chứ không có cách gì khác. (tuân theo mệnh lệnh Chúa)

II – Phật giáo là giáo lý của vị đã giác ngộ, chủ yếu thuyết minh về vũ trụ nhân sinh rất rõ ràng thấu đáo, hoàn toàn trong sự tự do của con người. Đức Phật không bao giờ bảo chúng ta phải tôn kính Ngài, buộc chúng ta phải tuân theo điều ước gì, mà chỉ khuyên chúng ta làm điều lành, cải tạo tâm chí mình cùng biết noi theo con đường chính để đi được đạt đến mục đích
Chân chính và Thiện, Mỹ.

Giáo Lý Ấy Có Hai Điều Cốt Yếu:
1/ Sự thật. Nghĩa là đối với thực tại không luận bản thể hay hiện tượng. Đức Phật biết rõ như nào, nói đúng như thế ấy. Ví dụ: hết thảy sự vật chuyển biến vô thường do nhân duyên sinh Ngài nói: Vô thường do nhân duyên sinh chứ không bao giờ Ngài tự kêu bảo mình là đấng sinh ra muôn vật.
2 / Phương pháp. Đức Phật không những nói đúng sự thật mà còn vạch rõ phương pháp thỏa đáng đặng thủ tiêu những đau khổ hiện có ở đời để mọi người đều tiến lên cỏi hạnh phúc sung sướng. Căn cứ vào hai điều ấy ta có thể nhận thêm mấy vấn đề sau đây:
A / Quan niệm về Giáo chủ.
1 / Quan niệm về Giáo chủ của tôn giáo chủ trương Thần giáo, chủ trương có một vị Thần tuyệt đối bất khả xâm phạm, người ta phải tôn kính ngài mới ban phúc cho và sau khi chết được Ngài đem về nước thiên đàn, ở đây người ta chỉ hầu hạ Ngài chứ không thể như Ngài được, tạo dựng do Thần, thưởng phạt do thần, chỉ biết tin Thần theo ý của Thần thì được Thần thưởng, Còn nổ lực của bản thân làm điều lành tạo nhiều phước thiện, cứu giúp vạn loại chúng sinh, mà không theo Thần cũng sẽ bị Thần Phạt.

“ Ai xưng ta ra trước thiên hạ, ta sẽ xưng kẻ ấy ra trước mạt cha ta”.
2 / Quan niệm về giáo chủ của Phật giáo chủ trương bình đẳng Đức Phật nói: “ Tôi là Phật đã thành các ngươi là Phật sẽ thành ”, tôi chỉ khai thị Phật tánh cố hửu quý báu của các người, kẻ nào phát huy Phật tánh ấy tức là thành Phật. Tôi kính trọng con kiến cũng như kính trọng thầy tôi là Đức Nhiên Đăng, vì nó cũng có Phật tánh, nó sẽ thành Phật.
Bởi vậy quan niệm về Đức Phật, Giáo chủ của Phật giáo có hai điễm: Phật là người cầm đuốt dẫn đường, là đạo sư quý báu dạy bảo giáo lý cho người, tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều có thể thành Phật như Ngài.
B / Quan Niệm Về Sự Vật.
1 / Quan niệm về sự vật của tôn giáo: Hết thảy sự vật của thế gian do đa thần tạo ra và quản trị, chỉ mọi sự an bài của thần thưởng phạt do Thần.
2 / Quan niệm về sự vật của Phật giáo: Như trước đã nêu. Đức Phật chỉ biết nói đúng sự thật, vậy ta không nên lấy làm lạ khi thấy các kinh điển Đức Phật chủ trương pháp duyên sinh rằng: “ Tất cả các sự đều do các nhân duyên quan hệ với nhau mà sinh ra, ấy là nguyên lý của vạn hửu vũ trụ ” và chớ nên lấy làm lạ khi thấy kinh sách viết về Phật giáo, các nhà khoa học thường hay phê bình cũng như phủ nhận thuyết thần đạo.

C / Quan Niệm Về Luân Lý.
1 / Quan niệm về luân lý của tôn giáo: Tôn giáo chủ trương Thần sinh ra và quản trị vạn vật, tất nhiên cũng chủ trương quản trị quyền thưởng phạt ở Thần, sung sướng hay đày đọa đều do Thần người ta không có quyền tự chủ, vì vậy có tội phải xin với Thần và làm phúc có Thần biết mới có ý nghĩa. Rút lại quan niệm luân lý của tôn giáo là hành vi của người phải tin và phải kính thần (Chúa Trời).
2 / Quan niệm luân lý của Phật giáo trái lại: Phật giáo luôn luôn chủ trương “ Tất cả chúng sanh đều có cùng một bản thể, một Phật tánh nên lòng từ bi và lý nhân quả đã thúc đẩy người ta làm điều thiện do lòng thương vô hạn và nhận thấy toàn thể là mình, nên người theo Phật rất sẵn sàng cho và giúp ích chúng sanh ”, làm lành thì được sung sướng, làm dữ thì phải khổ sở, nhân nào quả nấy hành vi ở chúng ta, thì kết quả cũng tự chúng ta, không ai có quyền thưởng phạt gì hết.
D / Quan niệm về giá trị nhân sinh.
1 / Quan niệm của tôn giáo chủ trương người hơn cả muôn vật, chỉ có người mới có linh hồn thiêng liêng, do thần ban cho còn loài vật thì không. Nói cách khác tôn giáo chủ trương phủ nhận giá trị tinh thần của vạn vật (Thiên chúa giáo).
2 / Quan niệm của Phật giáo trái lại: Tất cả chúng sanh đều có chung một bản thể bình đẳng như nhau, tuy hình thù bên ngoài có khác nhau song bản thể là một. Nên nhân sinh chẳng qua cũng chỉ là giống loại bước đầu của một trình độ tiến triển nhưng chưa đến đích tuyệt đối, nên sự sai khác giữa Bồ tát. La hán, Duyên giác, Thanh văn, Chư thiên và các chủng loại khác.
Tóm lại do các điễm trên ta nhận thấy rõ ràng sự sai khác nhau giữa Phật giáo và tôn giáo đến đây có thể kết luận.
Phật giáo không phải là tôn giáo, song cũng không phải là một triết học. Nhưng nếu ta thấy hằng ngày Chư tăng và tín đồ đem hoa quả cúng dường những hình thức ấy không phải tôn giáo là gì ? Có thế song ta nên hiểu.
Sau khi Phật nhập niết bàn muốn kỷ niệm công đức dạy bảo lớn lao, ở các giảng đường tịnh xá của Chư tăng, các đệ tử của Ngài tạc tượng Ngài để chiêm ngưỡng. Trong khi ấy các tín đồ tăng lữ trình độ thấp kém, sau khi đấng đức đại hạnh hoàn toàn đã qua đời thành thử họ đến trước hình tượng
ấy để lễ bái chiêm ngưỡng gọi là: “ sự tử như sự sinh ”, xem đức Phật như còn sống vậy. Ở đời người ta muốn thành tiến một công việc gì, một mục đích gì, lý thuyết và thực hành bao giờ cũng phải tương đương, một vài hình thức tín ngưỡng đơn sơ nhiều khi cũng gợi lên một tình cảm, đưa ngưòi ta đến chổ thanh cao siêu thoát, dẫn tâm hồn ta đến chổ tuyệt diệu huyền vi…
Huống nữa xã hội đã không có một trình độ ngang nhau, thì những hình thức tín ngưỡng ấy là một phương thuốc hay và khuyên dẫn về con đường lành, chẳng qua lối tín ngưỡng ấy phải hợp lý không mang lỗi mê tín dị đoan. Như thế thiết nghỉ dù có tín ngưỡng tôn giáo nào không có hại gì cho nhân loại.

II / Phật giáo với vấn đề nhân sinh.
Quan sát vấn đề nhân sinh đại khái có thể chia làm ba phần:
1 / Nhân sinh do đâu mà có.
2 / Cuộc sống con của nhân sinh.
3 / Sự chung kết của nhân sinh.
Về nhân sinh do đâu má có các nhà nghiên cứu đặt ra nhiều thuyết khác nhau như:

Nho giáo chủ trương từ Bổn độn sơ khai (tức là Từ vô cực sinh thái cực), sinh ra hai khí âm dương, sinh ra các nguyên chất (Tứ tượng, Bát quái), rồi do nguyên chất phối hợp mà sinh ra muôn vật.
Nhà triết học nói do nước tạo thành muôn vật, kẻ nói do không khí tạo thành muôn vật.
Nhà Luận sư Ấn độ chủ trương do tự tính (có tri giác) và minh sơ (không tri giác) kết hợp nhau lại thành muôn vật.
Lại có nhà nói do cái tính có (Đại hửu tính) mà phát minh ra vật chất, ra tính cách ra nghiệp dụng…Rồi do các tính ấy mà tạo thành muôn vật như Thắng Luận Sư.
Còn Thần giáo chủ trương do đấng tạo hóa sinh ra muôn vật.
Nhà khoa học thì xem vũ trụ toàn bằng vật chất, ban đầu do các nguyên tố kết hợp mà có ra các hạ đẳng động vật, rồi do các hạ đẳng động vật tiến hóa dần dần lên mà thành loài người. Nông nổi nhất là thuyết Thủy tổ loài người là khỉ như tiến hóa, luật của DARWIN.
Vì nghiên cứu có hạn nên ở đây chỉ xét về vấn đề. nhơn sinh, theo quan niệm Phật giáo.
Theo Phật giáo nhìn chung vào toàn thể các loài có giác tính trong vũ trụ thì nhân sinh chỉ là một giống loài hay một sinh vật, đã có trình độ tiến triển tương đương (chứ không phải tuyệt đích). Cao hơn nhân sinh có Phật và Bồ Tát, thấp thua nhân sinh là các loài vật. Nên trong Phật giáo gọi chung là chúng sanh như những câu (Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều có thể thành Phật). Tuy rằng đồng một thể tính song tùy chổ mê, ngộ, cao thấp khác mhau Phật giáo chia làm 10 pháp giới gồm có:
1- Phật (Bậc đã giác ngộ hoàn toàn)
2- Bồ Tát (Bậc giác ngộ còn thấp hơn Phật).
3- Duyên giác (Bậc giác ngộ còn thấp hơn Bồ Tát).
4- Thanh văn (Bậc giác ngộ ưu hưởng niết bàn có thể tương đương với Duyên giác, song trí tuệ còn thấp kém).
5- Thiên (Trời hoặc Chư thiên)
6- Nhân (Người).
7- A Tu La (Quỷ thần).
8- Địa ngục (Chúng sanh ở các cỏi đầy đau khổ).
9- Ngạ quỷ (Ma đói).
10-Súc sinh (Các loài súc vật).
Trong 10 pháp giới nầy chỉ có khác nhau Mê và Ngộ, mê là chỉ cho trạng thái tối tăm mờ ám, si mê trong cảnh giới không thực, không sáng suốt nhận rõ chân lý của vũ trụ, mê muội quá nhiều thì làm loài chúng sanh ở vào cảnh giới đầy tối tăm khổ não ở địa ngục, ngạ quỷ hoặc súc sinh.
Trái lại Ngộ như người ngủ mê chợt tỉnh biết cảnh giới trong chiêm bao là giả huyển không thật, ấy là cảnh giác ngộ của Chư Phật và Bồ Tát, nếu chỉ lấy quan niệm chúng sanh mà luận thì Phật chính là bậc giác ngộ hoàn toàn, nhân cách cao thượng là người đã đạt đến chổ tuyệt đích của nhân sinh mà Duyên giác và Thanh văn là những bậc còn tiến lên hơn nữa để đi tới chổ tuyệt đích ấy.

III / Nhân sinh do đâu mà có.
Cũng như thuyết vũ trụ vạn hửu, đã từ trong một bản thể rộng lớn sinh ra thì nhân sinh cũng là một hiện tượng trong vũ trụ, cũng từ bản thể đó mà sinh, song vạn hửu là chân thật hay giả huyển. ?
Vạn hửu chỉ là cảnh tượng của bản thể của chí tâm, chí nhân, tức khi nhân sinh đã đến một trình độ tuyệt đích, thấu rõ được thật tướng của vũ trụ, lý trí hợp nhất, đem lý trí ấy mà chiếu vào sự vật, sự vật đều chân. Ngoài ra cuộc biến chuyển của vô thường muôn vàng cảnh tượng sai khác, vạn hửu chỉ là giả huyển khác nào bọt nước, bóng gương.
Để giải thích mọi mê lầm của nhân sinh Phật giáo có thuyết Bốn đế và 12 nhân duyên rất là phổ thông.
Bốn đế là: Khổ đế; Tập đế; Diệt đế và Đạo đế.
(Xem bài Tứ Diệu Đế ở phần sau).

12 nhân duyên là: Vô minh; Hành; Thức; Danh sắc; Lục nhập; Xúc; Thọ; Ái; Hửu; Thủ; Sinh; Lão tử.

Trong 12 nhân duyên, Vô minh, Hành, là nhân thuộc về quá khứ. Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc thuộc về hiện tại. Ái, Thủ, Hửu là nhân thuộc về hiện tại. Còn Sinh, Lão tử, thuộc về tương lai…
Xét về nguyên lý nhân sinh do đâu mà có là nghĩa như thế.
Còn biết nhân sinh phát hiện trên quả đất nầy từ lúc nào thì ta nên biết quả đất nầy có từ bao giờ ?.
Theo Phật giáo trong vũ trụ có vô số thế giới, mỗi thế giới nầy thành thì thế giới kia hoại, khi thế giới nầy hoại thì thế giới khác sắp thành, cứ thế luân chuyển mãi mãi. Qủa địa cầu chúng ta đang ở đây chẳng qua là một bộ phận của một thế giới.
Kể từ khi quả đất nầy thành lập nghĩa là khi chất lỏng của vật chất và không khí bắt đầu ngưng kết lại cho đến như ngày nay, theo sự kế toán của các bậc học thông thái trong Phật giáo, trong các Kinh, Luận thì trãi qua thời gian dài dằng dặc là 4.799.640.000 năm. Tuy thế ta không phải có ngay trên quả đất từ khi mới cấu thành, trãi qua thời gian 335.960.000 năm, nghĩa là nhân sinh xuất hiện trên quả đất nầy đến nay kể có 144.000.000 năm song trong khoản thời gian ấy đã phải trãi qua biết bao nhiêu hưng vong của nhân loại lớp nầy còn đến lớp khác mọc, sinh sinh diêt diệt mãi như thế bây giờ ta làm gì được cái dấu tích mà gọi là ‘ Con người nguyên thủy ’. Những sự phát minh từ các nhà nhân chủng học cũng chỉ có thể đánh dấu được lớp người về một thời đại nào đấy thôi ‘ Tài liệu tham khảo vế thế giới quan Phật giáo ’.

Khi hiểu nguyên lý của nhân sinh thì những sự xẩy ra trên lịch sử, hay những điều phát minh kỳ lạ chỉ là sự vụn vặt tầm thường có gì mà chúng ta đáng làm kinh hoảng.
IV / Cuộc sống còn của nhân sinh.
Nhân sinh đã là huyển vô thường do mê vọng mà có. Như thế nguồn gốc nhân sinh hẳn không có giá trị thì tưởng cuộc sống của nhân sinh chẳng có nghĩa lỳ gì ?. Chính thế nên nhân sinh mãi vô tư triền miêm trong mê vọng thâu vũ trụ vào trong gan tấc, nhìn hạnh phúc đời người không ngoài sự cơm ăn áo mặc, chơi bời cho sung sướng. Vâng… với tuổi thanh niên bồng bột dục vọng tràn trề cho thế hệ vui thích. Song đến tuổi già lụm khụm tinh thần uể oải, bấy giờ chỉ thây đời lảnh đạm buồn bực nhìn lại trước, than ơi ! Thời oanh liệt nay còn đâu ! trông về sau chỉ thấy chỉ thấy lan man, vơ vẩn, không một lý tưởng gì cao xa, không một nhận định gì xác thực, thì rồi chỉ dần dà đợi đến ngày tắt thở, cho là liểu cuộc đời.
Ôi nhân sinh chỉ có thế và không có gì hơn nữa, thì thử hỏi cuộc sống nhân sinh còn có ý nghĩa gì !
Trong Phật giáo dạy cho ta biết vạn hửu vô thường, nhân sinh mộng huyển do mê vọng mà có là Phật giáo hoàn toàn chủ trương yếm thế và tiêu cực không ? đấy là sự thật của vạn hửu vũ trụ mà Đức Phật chỉ rõ cho chúng ta biết, một phương diện để tự vững lòng không đắm say theo cảnh sắc giả dối ấy, đều phải bị dục vọng lôi kéo một cuộc sống của nhân loại không phải chỉ cục trong đời người mà vô hạn.
Có quan niệm như thế ta mới nhận thấy cuộc sống còn của con người tràn đầy ý nghĩa, là một cuộc phấn đấu không ngừng, phấn đấu một cách chân chính (Tinh tiến chính) để tiến hóa hơn lên, để hoàn thành ý nghĩa cao thượng đạt đến đích giác ngộ hoàn toàn, nhân cách cao thượng.
Nên trong Phật giáo đã có quan niệm “Yếm thế” mà vẫn lạc thiện, dù quan niệm “Tiêu cực” mà tiêu cực để tích cực hoạt động, chứng thực cho điều đó. Chính Đức Phật trong mỗi khi thuyết pháp Ngài thường nói đến “Vô ngã” mà kỳ thật đời Ngài là một đại ngã hoạt động.
Dù biết đời là giả dối vô thường là khổ, nhưng còn dễ chịu hơn địa ngục đầy đau thương thống khổ, thế mà Ngài Địa Tạng Bồ Tát cương quyết thề rằng: “Nếu địa ngục mà còn chúng sanh đau khổ chưa được giải thoát ta thề rằng quyết không bao giờ thành Phật ”.
Bởi vậy trong các tôn giáo, tôn giáo đều cũng sợ địa ngục. Chỉ có Phật giáo không bao giờ sợ địa ngục mà thôi ‘ Độc nhất vô nhị, một tôn giáo không bao giờ sợ địa ngục’, xác quyết như Ngài Địa Tạng Bồ Tát vậy.
Cùng các vị Bồ Tát khác nữa trãi qua vô số kiếp tu hành tận tụy, hy sinh vì lợi lạc quần sanh, có khi phải bỏ quốc thành thê tử cho đến quên cả mình, đó không phải là gương phấn đấu không ngừng hay sao. Người có tâm Bồ Tát hiểu đại thặng chân chính có bao giờ chị trốn tránh đời để tìm sự an vui riêng một mình đâu.
V / Sự chung kết của nhân sinh.
Nhân sinh là do một sinh vật chỉ sống còn khoản, 6, 70 năm đến lúc chết rồi là hết, hay chết rồi chỉ là một trạng thái thay đổi về hiện tượng, mà tâm thể con người vẫn là lâu dài vĩnh viễn. Nếu con người chết rồi là hết, thì bao nhiêu cái học hiểu, kinh nghiệm trong đời nầy chỉ vô ích, cuộc sống nhân loại chẳng có ý nghĩa gì?
Một giống vật không cần có học thức như người, không cần có đủ hoàn cảnh như người nhưng nó vẫn sống có đoàn thể, vẫn có giao thông, gây dựng và nó vẫn có tiếng kêu hoặc biểu hiện để biết nhau. Người ta không hiểu hết sự sinh hoạt của ta như thế nào thì thử hỏi căn cứ và đâu mà bảo: Người ta hơn muôn vật (Nhân ư vạn vật chi linh).
Những kẻ chủ trương người ta chết rồi là hết chỉ là kẻ mê chân lý, tinh thần mãi đuổi theo vật chất cho thỏa lòng dục vọng đê hèn, đến khi gối mỏi chân chồn ngã lăn vào chốn bùn lầy, thì đơì sống vật chất lúc nầy có ý nghĩa gì?.
Cũng có người chấp linh hồn thường còn, khi chết linh hồn ấy sẽ được lên một nơi nào, hay sẽ về yên nơi Âm phủ chốn suối vàng, ở đây người ta sẽ được gặp cha mẹ bà con trong những ngày dương thế, chấp như thế đều là sai lầm.
Theo Phật giáo nhân sinh là một sự tập hợp của quá khứ rồi do tập hợp hiện tại ấy là nghiệp thức. Nên đối với sinh mạng lớn vô cùng của vũ trụ, nhân loại là một loài sinh vật hay một loài hửu tình đã có một trình độ tiến hóa tưong đương, có thể tiến hóa hơn nữa cho đến khi thành Phật quả, nếu con người hiểu biết trau dồi đức tính, tu tập công đức, trí tuệ rửa sạch căn bản phiền não trong tâm hồn. Trái lại cũng có thể trụt xuống hoặc thấp kém hơn như là ngạ quỷ, súc sanh nếu nhân sinh mê lầm tạo nghiệp. Trong cuộc tiến hóa mình làm mình được, có nhân tức có quả, nhân sinh cần phải phấn đấu hơn lên để khỏi mất một cơ hội tốt, khỏi phụ một đời làm người vậy.

Ta không thể đem Nho giáo so sánh với Phật giáo được, Nho giáo là phần ảnh của xã hội về đời Xuân Thu chiến quốc bên Tàu tất là sản phẩm của chế độ phong kiến mà đến Khổng Tử là một nhà chính trị kiêm luân lý của các chế độ ấy.
Đằng này trái lại Phật giáo tuy phát nguyên từ Ấn Độ nhưng không phải là sản phẩm của chế độ hay của một thời đại nào. Mà là phản ảnh mọi đau khổ của chúng sanh, nên Đức Thích Ca không phải là nhà chính trị cốt để gầy dựng lên một nước, hay một chế độ nào, song muốn bảo Ngài là nhà chính trị thì chính Ngài đã làm chính trị cho tất cả chúng sinh.
Vì tư tưởng của Đức Phật là tư tưởng rộng khắp bao giờ cũng chủ trương giải cứu muôn loài, quần sanh thoát khỏi mê lầm, khổ não hưởng được yên vui an lành giải thoát.
Chính trong những buổi thuyết pháp Ngài thường nói đến tất cả chúng sinh và thế giới, chứ không phải tư tưởng như Khổng Tử; tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ với một quan niêm nhỏ hẹp ở nước Tàu cùng các nước chư hầu phong thổ bấy giờ. Cho nên hễ thế giới nhân loại còn đau khổ thì Phật giáo là phương thuốc rất cần yếu và nếu nhân loại đã đến đích đại đồng thì Phật giáo là bản đàn du dương nhịp nhàng theo khúc nhạc huyền, để ca ngợi cảnh đời giải thoát.
Chẳng qua hạnh phúc hay thế giới ái hòa đồng điệu mỗi cá nhân chúng ta tự làm ra nó, không phải cứ ngồi lỳ chờ ai đem lại cho mình ? Nếu có hạnh phúc do một kẻ khác đem lại thì tưởng hạnh phúc ấy chỉ là giả dối, tạm thời chứ đâu phải là chân thật vĩnh viễn.
Kẻ ưa nói suông hay giữ thái độ thờ ơ, hoặc do dự, chỉ là kẻ hèn nhác thiếu can đảm là ký sinh trùng của nhân loại mà thôi.

Đức Phật dạy “ Các người hãy thắp đuốt lên mà đi ”, lời thuyết pháp ấy tuy vắng tắc cũng đủ chứng tỏ đạo Phật đầy tinh thần, độc lập, tự chủ.
Trong kinh dạy. Tất cả chúng sanh đều có trí tuệ đức Tướng Như lai. Lại nói. Tất cả chúng sanh đều có thể thành Phật, thành Phật nghĩa là thế nào? Tức là chỉ rõ trạng thái giác ngộ, nhập bản thể chân lý vũ trụ../..

Sau đây là lời phát biểu của AeinstCin là nhà bác học số 1, của kỷ nguyên hạt nhân về. Sự Tồn Tại Của Tôn Giáo.
“ Tôn giáo trong tương lai phải là một tôn giáo của vũ trụ, nó phải siêu việt một Thượng đế cá nhân và tránh xa giáo điều thần học, nó phải bao quát tự nhiên và tinh thần, nó phải dựa trên một ý thức tôn giáo, xuất phát từ thực nghiệm, thấy mọi sự vật và tinh thần như một thể thống nhất có ý nghĩa ”.
Đạo Phật đáp ứng một định nghĩa tôn giáo như vậy. Và nếu có một tôn giáo nào phù hợp với nhu cầu khoa học hiện tại thì đó là Đạo Phật.

Trại sinh trại Vạn Hạnh số 14 (1997)

DANH SÁCH QUÝ PHẬT TỬ CÚNG DƯỜNG
HIỆN VẬT THỜ CÚNG.

TẠI CHÙA AN BẰNG VÀ NHÀ LINH.

Trước hết xin thành kính đảnh Lễ và niệm ân quý Ngài, quí tiền bối, hửu công, đã đóng góp sức, tịnh tài, công của xây dựng lên nền Phật Giáo tại quê hương An Bằng qua các Triều đại lịch sử của đất nước và quê hương vốn hàng trăm năm nay.
Về phần quí đạo hửu, người còn kẻ mất đã cúng dường hiện kim bằng tiền Việt Nam (VND) và tiền Mỹ (USD) trong những năm qua để xây dựng Chùa, Tượng Đài, các Phật sự khác đã ghi vào sổ vàng lưu trử tại chùa.
Hiện nay Ban Văn hóa và Tu thư của Khuôn Hội Phật Giáo An Bằng. Hệ thống lại danh sách của quý Tiền bối, đạo hửu, đã phát tâm cúng dường hiện vật thờ cúng, đang còn có tại Chùa và nhà Linh.
Nguyên vào năm 1957 Ngôi chùa Làng bị cát vùi lấp và hư hỏng. Dấu khí vật thờ cúng điều mất cả, chỉ còn lại 1 bức Hoành phi có 3 chữ “ AN ĐỨC TỰ ” và 3 vị Quan Thánh, 1cái mõ gổ xưa. Làng giao lại cho Khuôn Hội. Đến năm 2004 sau khi làng, khôi phục, phục chế lại Ngôi chùa Làng, làng đã xin thỉnh 3 Pho tượng quan Thánh, Bức Hoành Phi và Mõ gổ về thờ tại chùa Làng.
Kể từ năm 1990 đến năm 2007. Các vật thờ cúng trong Chùa và nhà Linh, được ghi vào sổ Vàng dưới đây:
1/ Quý thầy và quí sư cô ở trong Địa phưong đi xuất gia: Thầy Thông Đạt. Quảng Độ, sư cô Như Trang, Như Tâm, đồng cúng 1 bức Hoành phi mang dòng chữ “ ĐẠI HÙNG BỬU ĐIỆN ” thờ tại Chùa.
2/ Gia đình Đạo hửu Trương Công Châu cúng 1 bộ Tràng phan Bảo cái. (thờ trong Chùa).
3/ Gia đình đạo hửu Trương Công Mốt cung 1 cái Trống.
4/ Cô Như Tâm cúng 2 cái tủ thờ tại nhà Linh.
5/ Gia đình đạo hửu Trương Xuân Mai ở Châu Đốc cúng 1 cái tủ thờ tại nhà Linh.
6/ Gia dình Đạo hửu Lê Phát – Gia dình đạo hửu Văn Tấn Diệm – Gia đình đạo hửu Đào Tầng cúng 3 bức hoành thờ, tại nhà Linh.
7/ Gia đình đạo hửu Nguyễn Thía cúng 1 bức Nghi thờ, tại nhà Linh.
8/ Các gia đình đạo hửu do Bác Nguyễn Nguyện đại diện cúng 1 bức Nghi thờ, tại nhà Linh.
9/ Các gia đình đạo hữu do Nguyễn Thị Kính đại diện cúng 1 bức Nghi thờ tại nhà Linh.
10/ Cô Như Tâm cúng một đôi liển, và chuông Gia trì.
11/ Các gia đình có con đi xuất gia chung cúng 1 đôi liển.
12/ Gia đình đạo hửu Trương Khương cúng 1 đôi liển.
13/ Gia đình đạo hửu Trương Công Châu cúng 1 đôi liển.
14/ Gia đình đạo hửu Hồ Hoanh – Hồ thị Ổi cúng 1 đôi liển.
15/ Gia đình đạo hửu Phạm Lồi cúng 1 đôi liển.
16/ Gia đinh đạo hửu Hồ Diệu cúng 1 đôi liển.
17/ Quí gia đình đạo hửu chưa rõ danh tánh cúng 1 đôi liển.
18/ Thầy Minh Tâm ở Sài Gòn cúng 2 pho tượng Hộ Pháp thờ trên gát 2 củaTiền đàn.
19/ Gia đình đạo hửu Hồ Thị Viện (Vện) cúng một cái Khánh chuông.

20/ Một câu đối thờ tai nhà hậu chưa rõ danh tánh.
21/ Gia đình con rễ của chị Văn thị Phước cúng 18 vị A LA HÁN năm 2008 thờ tại chùa

Ngày 15 tháng 01 năm 2009

Ban Văn Hóa và Tu Thư.
MỤC LỤC
Trang
* Lời tựa 11
* Lời cảm niệm 13
* Phần dẫn nhập 17
* Tinh thần theo đạo Phật của dân làng 36
* Phát triển Phật Giáo 44
* Giai đoạn thứ I từ năm 1740-1742đến
năm 1955 Ngôi chùa Làng 46
* Giai đoạn thứ II từ năm 1956 đến năm
1962 49
* Giai đoạn thứ III từ năm 1963 đến năm
1968 53
* Giai đoạn thứ IV từ năm 1969 đến năm
1974 56
* Giai đoạn thứ V từ năm 1975 đến năm
1995 67
* Giai đoạn thứ VI từ năm 1996 đến năm
2005 73
* Ban Huynh Trưởng GĐPT An Bằng 84
* Diển từ chầo mừng Lễ An vị Khánh Thành
Tượng Đài Quán Thế Âm Bồ Tát tại Khuôn
viên chùa An Bằng 88
* Một số hình ảnh liên quan đến Ngôi chùa mới
hiện nay 93
* Ngôi Chùa Mới 102
* Ý nghĩa ngày Hiệp kỵ của Khuôn Hội
Phật Giáo An Bằng 114
* Lễ Chu Niên lần thứ 24 GĐPT An Bằng 117
* Diễn Văn Chào Mừng Lễ Khánh Thành
chùa An Bằng 127
* Lễ Vu Lan tại Khuôn Hội Phật Giáo
An Bằng 141
* NgôiTượng Đài Quán Thế Âm tại Bải biển
Làng An Bằng 149
* Gởi bạn một niềm tin(Ng Sơn Văn Hưng ) 161
* Nội Quy và Điều Lệ của Khuôn Hội An Bằng 164
* Lời Tâm Sự 179
* Niềm Tin và Hy vọng 209
* Những câu Kinh Pháp Cú,câu đối, Văn xuôi 212
* Dâng mẹ ( Thơ ) Tâm Nguyên An 230

MỤC LỤC PHẦN PHỤ LỤC.

* Tượng Phật Ngọc từ Thái Lan dến Việt Nam 240
* Một số câu đối Thiền Môn và câu đối Chữ Hán 247
* Câu chuyện 277
* Bài thơ dâng mẹ (Văn Nhân Đạo) 280
* Niết Bàn (HT Thích Thiện Siêu) 281
* Tượng Đá ( Nguyên Ngộ Đào Hoài) 283
* Lời nhắn nhủ 254
* Sự Phân Chia Xá Lợi 285
* Trong Thập Mục Ngưu Đồ 286
* An Lạc Thân 289
* Trích Lược Giải Kinh Pháp Hoa 291
* Khi Đã Phát Nguyện Làm Huynh Trưởng 298
* Sức Mạnh Thầm Lặng (Tâm Đạo) 299
* Đố giải câu đó vui 302
* Phật tử và giáo dục gia đình ( Thái Hòa ) 303
* Bàn về chữ Hiếu 309
* Mái chùa che chở hồn Dân Tộc 317
* Niên Lịch của Phật Thích Ca 332
* Ý nghĩa ngày lễ VESAKHA 337
* Nhập Từ Bi Quán 339
* Dấu chữ Vạn 341
* Dấu Pháp Luân 343
* Dấu chữ A 345
* Sự ồn tại của Tôn Giáo 346
* Năm Cái “Triền Cái” la : 347
* Tổng kết về Đạo Đế hay 37 Món trợ Đạo 351

* Nhất thiết Chư Pháp vô phi Phật Pháp 354
* Nương Vào Phổ Hiền Lực để thấy Phật 357
* Bốn Địa Điễm Chiêm Bái 358
* Đời Huynh trưởng 360
* Trích Kinh Thiện Sinh 364
* Xuân chốn Thiền Gia 365
* Nước Mắt Của Bồ Tát 366
* Đức Phật vị Giáo Chủ Toàn Năng 371
* Tam Giới hay Ba Cỏi là: 371
* Chữ Tiết, Nghĩa 374
* Chữ Hiếu, Trung 375
* Sự Tích Đức Phật A DI ĐÀ và Quán Thế Âm 379
* Được gieo trồng vào các thửa ruộng Tam Bảo
( Nguyên Luật Văn Công Kỷ) 385
* Một số hình ảnh 394
* Nhớ Vinh An (Thơ) Ng Ngộ Văn Nhân Đạo 406
* Nhớ mẹ (Thơ) Nguyên Thảo Văn Thị Hiếu 409
* Mái Ấm nhà Lam 410
* Tứ Diệu Đế ( Thuyết trình cho ngành Thanh
GĐPT An Bằng từ năm 2000 đến 2005) 415
* Tiểu Luận Nhơn Sinh Quang Vũ Trụ Quang
Phật Giáo 458
* Danh sách quí Phật tử cúng dường Vật thờ cúng
Tại Chùa và nhà Hậu Linh 474
* Mục lục
479

Advertisements

About Kinh Tâm

Từng bước hoa sen nở
Bài này đã được đăng trong Lịch sử và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

3 Responses to DẤU ẤN PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO AN BẰNG.

  1. Kinh Tâm nói:

    Thiền Viện Hạnh Hạnh
    750 Nguyễn Kiệm – F4. Quận Phú Nhuận – Tp. Hồ Chí Minh
    Ngày 05/12/ 2010

    NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
    Kính gởi Ban Quản Trị Niệm Phật Đường An Bằng.
    Kính Gởi Ban Huynh Trưởng GĐPT An Bằng.
    Đồng Kính Gởi Sư Cô Thích Nữ Như Tâm ( Chùa An Bằng)

    Theo Truyền thống, vào đầu tháng 11 Âl hằng năm , Chùa quê hương của chúng ta long trọng tổ chức hiệp kỵ liệt vị tổ sư, chư anh linh thánh tử đạo và hương linh quá cố và tất cả thiện nam tín nữ Phật tử quá vãng qua mọi thời đại tại vùng đất có nhiều hương tình đạo pháp.
    Đây cũng là dịp chúng ta cùng tưởng nhớ những Bác, những huynh trưởng sáng lập Khuôn Phật giáo An Bằng ( từ ngày 24, tháng 12 Bảo Đại 12 – 1954/ năm An Đức Tự )* .Để hàng Phật tử kế thừa phát huy tinh thần phụng sự tam bảo và tháp sáng ngọn đèn lý tưởng chân chánh trong đời sống tu tập, chuyển hóa.
    Vừa là người con của mảnh đất giàu đậm tình thương, vừa là mảnh đất có nhiều trái tim bồ tát, cũng vừa là người thầy mới bước chân vào đạo , học hỏi giáo pháp, tu tập giáo pháp, hoằng pháp giáo lý của đức Thế tôn.
    Nhân kỷ niệm thánh lễ hiệp kỵ tại Chùa An Bằng, năm nay do trong mùa học Phật, và có một vài khóa tu, các nơi ở miền Nam nên các Thầy ( Con) không thể về tham dự lễ nghi này được ( theo chương trình thư mời )
    Rất mong quý đạo tràng và ban tổ chức hoan hỷ .
    Tuy vậy, nhưng quý Thầy, quý Sư Cô trẻ đang tại vị tại các tỉnh thành luôn thành tâm hướng về ngày lễ 01 tháng 11 năm Canh Dần ( 06.12.2010) tại Quê Hương thân yêu.
    Nhất Tâm cầu nguyện chư vị chơn linh vãng sanh cực lạc.

    kính Thư,
    Tỳ Kheo – Thích Pháp Bảo
    Chủ nhiệm trang thời sự Phật Pháp.

    – * theo dấu ấn lịch sử An Bằng, Nguyên Phương xuất bản năm 2010.

  2. Kinh Tâm nói:

    A DI ĐÀ PHẬT,
    cảm ơn hai anh nhiều, đã quan tâm đến những vấn đề đường hướng của Phật giáo…
    1.với cách nhìn qua tập SỬ LIỆU PHẬT GIÁO AN BẰNG, .Pháp bảo là người từng có may mắn trải nghiệm đọc qua các tác phẩm lớn, thì PB đánh giá cao..hay có thể nói là người làm nên rất công tâm và cống hiến trong những đóng góp cho sự thăng tiến của QUÊ NHÀ.
    2. Anh nói rất có ý lớn là, sử không có bước khởi đầu, thì làm sao hoàn chỉnh cho các nhà tìm hiểu( nói tóm lại, cho những lớp trẻ mai sau). mặc dù cô đọng hay biên tập chưa giống như T. LÊ MẠNH THÁT hoặc T.T Tuệ sĩ thì ít ra cũng là bàn tay của H.TR VĂN TIẾN NHỊ.
    3. về tập Sách của anh, quý Thầy đã cho đăng tại TRANG THỜI SỰ PHẬT PHÁP rồi, vì lý do hình ảnh ( tâp tin ảnh) gốc của bản văn, hiện tại dung lượng rất cao…cho nên pháp đang cố gắng chỉnh sửa lại cho nhẹ hơn. do vậy rất mong Anh hoan hỷ và thoải mái.

    kính chúc anh bình an và tiếp tục xây dựng và phát triển con đường bồ tát đạo, thanh văn thừa.

    kính thư! đàn em ( hi hi)

  3. Kinh Tâm nói:

    VÀO ĐỘNG TÂM NHÌN RA VẦNG SÁNG
    THẮP ĐÈN TRÍ TUỆ KHAI LỐI ĐẠO
    AN BẰNG MỘT DẠ THEO GÓT PHẬT
    NGUYÊN PHƯƠNG TỪ THUỞ ÁNH ĐẠO VÀNG.

    Tôi có người Anh, miền cát nóng, chiều về cứ thả hồn theo nhịp thở, để rồi Anh và tôi tỏ bày đôi điều huyền diệu. Anh tôi, nơi cõi bất diệt, nơi hiện hữu lá cây sắc nhiệm mầu, vùng gió cát giỡn đùa theo tiếng sóng, đưa Anh tìm bến giác vô sinh.

    Đôi nét về Anh Nguyên Phương! Anh là một đồng ấu ưu tú từ những năm đầu thành lập GĐPT Hóa Phổ( Phật Hóa Gia Đình) của Tỉnh Thừa Thiên cũng là đồng sáng lập GĐPT An Đức Tự. Nay Anh đang nắm giữ mui thuyền truyền thống sinh hoạt Phật Tử An Bằng và các đơn vị cận sự vùng Duyên Hải. Kể từ những ngày tháng bước vào con đường ánh đạo vàng, Anh luôn luôn sách tấn dắt dìu đàn em phụng sự cho lý tưởng đúng theo lời Phật dạy. Sau những biến cố nguồn cội GĐPT Anh vẫn một lòng hiến dâng đời riêng cho nếp sống đạo tình do Chư Tổ chỉ giáo. Nhiều lần Anh rất tâm huyết hầu chuyện Cụ Võ Đình Cường, ‘người Anh lớn’ của cả trái tim áo lam trên thế giới và mặc dầu tang lễ của Cụ Anh không vào Nam tham dự nhưng vào khoản thời gian Vesak thế giới tại Việt Nam Anh có đến Thiền Viện Vạn Hạnh Sài Gòn thọ tang tưởng nhớ, nơi hương áng của Cụ được tôn trí . Với Anh, Cụ vẫn mãi là ngọn đuốc tự thắp sáng cho những nơi tăm tối và bỏ quên bổn phận màu lam.
    Từ những năm tháng, Phật Giáo sau lần đại hội thống nhất năm 1964, Phật giáo An Bằng cũng dần được chỉnh soạn phát triển và mở ra một tương lai với tinh thần lục hòa dưới ngọn cờ hòa bình năm sắc . Từ Tổng Hội Niệm Phật Đường cho đến đoàn thanh thiếu niên, Gia Đình Phật Tử ( GĐPT) An Bằng. Anh được bổn sư thượng Thiện hạ Siêu ban cho pháp danh Nguyên Phương, kể từ đó anh đã theo gót Thầy làm Phật sự cho quê hương, với tinh thần chịu khó dấn thân, Anh đã không ngừng vun bồi hạt mầm từ bi- hỷ xả-trí tuệ cho các thế hệ qua các kì trại huấn luyện huynh trưởng, đoàn sinh các miền. Được Hòa Thượng bổn sư và Chư tôn đức Tỉnh hội tán thán công đức. Mặc dù thời cuộc biến động, làm lay chuyển ý chí tình người, không ngừng phân hóa tổ chức GĐPT nhưng Anh “một lòng giữ vững tâm đạo” hướng dẫn Qui Chế cụ thể về các sinh hoạt trong nội bộ Phật giáo An Bằng. Trong quá trình xao lãng về mạng mạch tâm linh đối với lớp huynh trưởng trẻ kế thừa mà bấy lâu Anh đã không ngừng thai ngén bồi đắp. Do đó không ngoài việc biên khảo, sưu tầm và nghiên cứu hướng đi ‘ phụng sự chúng sanh là lợi ích cúng dường Chư Phật’. Anh , cùng với ban huynh trưởng lưu niên cho ra đời Tập San đặc biệt “ Phật giáo An Bằng Xưa & Nay” suốt một thời gian dài hết lòng tìm kiếm, đối chiếu và ngày càng minh chứng tính truyền bá Đạo Phật trên quê hương An Bằng.
    Trong hàng ngũ huynh trưởng, anh được Ban Hướng Dẫn Thừa Thiên mời vào các vị trí điều hành quan trọng và về những sự đóng góp của Anh cho hội đồng huynh trưởng Vạn hạnh cấp tấn. với một người xuất thân có truyền thống gia đình Phật tử từ vùng quê hẻo lánh nhưng cũng được Bác Lê Sĩ Thiều bổ nhiệm vào việc trưởng ban ngân khố GĐPT Tỉnh Thừa Thiên.
    Làm người hướng dẫn đoàn sinh GĐPT An Bằng, Anh luôn tham gia vào các chương trình hoằng pháp, giáo dục, từ thiện văn hóa, văn nghệ, hội trại bạn, nên anh được các huynh trưởng lớn tin tưởng thương yêu và giao phó những trách nhiệm đối nội, đối ngoại cho Niệm Phật Đường, cố vấn ban huynh trưởng GĐPT. Đặc biệt vào đầu năm 2003 Anh Nguyên Phương đã khôi phục lại sự sinh hoạt Đoàn Thanh niên Phật tử, năm 2008 Anh được bổ nhiệm vào ban kiến thiết khởi công xây dựng tượng đài Quán Thế Âm ở biển, cũng như các nghi lễ truyền thống khác bị mai một bỏ quên theo thời gian.
    Huynh trưởng NGUYÊN PHƯƠNG- với tập đại kí thư PHẬT GIÁO AN BẰNG XƯA VÀ NAY. Đây có thể xem như là một công trình biên soạn, sao lục tất cả các văn kiện và sự phát triển Phật Giáo An Bằng qua các thời đại, cũng chỉ với tâm huyết vì tiền đồ hậu bối của người con xứ Độn Bồi An Đức Tự năm xưa. ấn phẩm lịch sử này, đầy đủ sử liệu nhất từ trước giờ. là một tư liệu nghiên cứu bổ ích cho sự hình thành và phát triển Phật giáo An Bằng mãi mãi vềsau.

    Ban hoằng pháp VHPGPB
    Tâm tình cuộc sống

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s