Nhà Vũ trụ học Stephen Hawking & 10 câu hỏi của tạp chí TIME

Nhà Vũ trụ học Stephen Hawking &10 câu hỏi của tạp chí TIME

Giác Ngộ: Stephen William Hawking, sinh ngày 8 tháng Giêng năm 1942 là một nhà Vật lý lý thuyết người Anh, đồng thời cũng là một nhà Vũ trụ học nổi tiếng nhờ các tác phẩm khoa học và các lần ông xuất hiện trước quần chúng. Ông là hội viên danh dự của Hội Nghệ thuật Hoàng gia Anh (Royal Society of Arts), hội viên vĩnh viễn của Viện Khoa học Giáo hoàng (Pontifical Academy of Sciences) và vào năm 2009, được trao tặng Huy chương Tổng thống về Tự do là huy chương dân sự cao quý nhất của Mỹ.

Ông Hawking là giáo sư Toán tại Đại học Cambridge trong 30 năm (1979-2009), ngồi ở ghế và lấy danh vị giáo sư mà ông Issac Newton đã từng ngồi trước đó. Ông cũng là giáo sư danh dự tại Đại học Gonville và Caius College ở Cambridge và là Khoa trưởng về Nghiên cứu Vật lý lý thuyết tại Viện Perimeter Institute for Theoretical Physics ở Waterloo, bang Ontario, Canada.

Ông được biết đến nhờ những đóng góp trong lãnh vực Vũ trụ học và về môn Trọng lực lượng tử (quantum gravity), nhất là trong môi trường lỗ đen (black holes). Ông cũng thành công với những tác phẩm khoa học phổ thông đề cập đến lý thuyết của riêng ông hay của vũ trụ học nói chung. Ba trong số nhiều tác phẩm nổi tiếng của ông là A Brief History of Time (Bantam, Press 1988, bản dịch tiếng Việt: Lược sử của thời gian), The Universe In A Nutshell (Bantam Press, 2001) và mới đây nhất, viết chung với Leonard Mlodinow, là The Grand Design (Bantam Press, 2010).

Về cơn bệnh ngặt nghèo và về những phát minh và cống hiến cho tri thức khoa học nhân loại của ông, xin xem sơ lược trong wikipedia: http://en.wikipedia.org/wiki/Stephen_Hawking.

Còn về tôn giáo, nhất là những tôn giáo tin vào một Chúa Trời độc thần của Tây phương, trong các tác phẩm đầu tiên, ông dùng từ “Chúa” theo nghĩa ẩn dụ (metaphorical) nhưng như được trình bày trong A Brief History of Time, ông cũng cho rằng không cần thiết phải có sự hiện hữu của Chúa mới giải thích được nguồn gốc của vũ trụ (the existence of God was unnecessary to explain the origin of the universe). Tuy nhiên, trong tác phẩm mới nhất, The Grand Design, cũng như trong cuộc phỏng vấn với báo Telegraph và chương trình “Thiên tài của Anh quốc” (Genius of Britain) của kênh truyền hình số 4, ông đã giải thích rõ hơn rằng ông “không tin vào một Chúa nhân cách hóa” (“not believe in a personal God”). Ông viết rằng “Câu hỏi là: Cách thế mà vũ trụ khởi đầu thì do Chúa lựa chọn vì những lý do mà chúng ta không hiểu nổi, hay vì được xác định bởi các định luật của khoa học? Tôi tin là vì các định luật khoa học”. Ông nói thêm: “Vì có những định luật như định luật về trọng lực nên vũ trụ có thể và sẽ tự sinh từ hư không” (“Because there is a law such as gravity, the Universe can and will create itself from nothing”).

Trong một cuộc phỏng vấn của chương trình truyền hình ABC (Mỹ) vào ngày 7 tháng 6 năm 2010, ông đã so sánh tôn giáo và khoa học như sau: “Có một sự khác biệt cơ bản giữa tôn giáo, vốn đặt cơ sở trên quyền lực [áp đặt tín điều, niềm tin], [đối chọi với] khoa học, đặt cơ sở trên quan sát và lý trí. [Đó là] Khoa học sẽ thắng vì khoa học làm có kết quả ” (Hawking compared religion and science in 2010, saying: “There is a fundamental difference between religion, which is based on authority [imposed dogma, faith], [as opposed to] science, which is based on observation and reason. Science will win because it works”).

Mới đây nhất, tuần san TIME của Mỹ số ra ngày 15 tháng 11 năm 2010, trong mục “10 Questions”, một diễn đàn để độc giả khắp thế giới đặt câu hỏi trực tuyến đến các nhân vật nổi tiếng, đã đăng kết quả độc giả chất vấn ông Stephen Hawking qua 10 câu hỏi sau đây:

1. Nếu Chúa Trời không hiện hữu, tại sao quan niệm về sự hiện hữu [của Chúa Trời] đó lại trở nên khá phổ thông? – Basanta Borah, Basel, SWITZERLAND.

– Tôi không khẳng định rằng Chúa Trời thì không hiện hữu. Chúa Trời là cái danh xưng mà người ta đặt cho lý do vì sao chúng ta ở đây. Nhưng tôi tin rằng lý do đó là những định luật vật lý chứ không phải một người nào đó mà ta có thể có những quan hệ riêng tư. Một loại Chúa Trời chung chung (an impersonal God).

2. Vũ trụ có biên giới không? Nếu có, thì ngoài biên giới đó là cái gì? Paul Pearson, Hull, ENGLAND.

– Những quan sát xác nhận rằng vũ trụ giãn nở với một tốc độ càng lúc càng gia tăng. Vũ trụ sẽ giãn nở mãi mãi, trống rỗng hơn và tối tăm hơn. Tuy vũ trụ không có một tận cùng nhưng nó lại có một khởi đầu tại Big Bang. Người ta có thể hỏi vậy thì trước đó là gì, câu trả lời là trước Big Bang thì không có gì cả, giống như không có gì ở phía Nam của Nam cực vậy.

3. Ông có nghĩ rằng nền văn minh của chúng ta tồn tại đủ lâu để lan vào được trong không gian xa vời không? Harvey Bethea, Stone Mountain, bang GEORGIA.

– Tôi nghĩ rằng chúng ta có nhiều hy vọng tồn tại đủ lâu để chinh phục Thái dương hệ. Tuy nhiên, trong hệ này, không đâu phù hợp với chúng ta hơn Trái đất, do đó, tôi không rõ là liệu chúng ta còn hiện hữu không khi mà Trái đất không còn phù hợp cho cuộc sống của chúng ta nữa. Để bảo đảm sự sống sót lâu dài, chúng ta phải lên những ngôi sao. Hãy hy vọng rằng chúng ta còn sống sót cho đến ngày đó.

4. Nếu ông có thể nói chuyện với ông Albert Einstein, ông sẽ nói gì? Ju Huang, Stamford, bang CONNECTICUT.

– Tôi sẽ hỏi tại sao ông đã không tin vào sự hiện hữu của các lỗ đen (black holes). Những phương trình trường (field equations) của thuyết tương đối hàm uẩn rằng một ngôi sao lớn hay một đám mây khí lớn sẽ sụp đổ vào trong chính nó và tạo ra lỗ đen. Ông Einstein đã biết điều này nhưng không hiểu tại sao lại tự cho rằng một điều gì đó như một sự nổ tung sẽ luôn luôn xảy ra để tạo ra khối lượng và ngăn ngừa lỗ đen thành hình. Vậy nếu không có sự nổ tung này thì điều gì xảy ra?

5. Khám phá hay tiến bộ khoa học nào ông muốn thấy trong cuộc đời của ông? Luca Zanzi, Allston, bang MASSACHUSETTS.

– Tôi muốn thấy sự hỗn hợp hạt nhân (nuclear fusion) trở thành một nguồn năng lượng thực tiễn. Nguồn nầy sẽ cung cấp năng lượng vô tận, không bị ô nhiễm hay hâm nóng địa cầu.

6. Ông nghĩ chuyện gì sẽ xảy ra cho ý thức (consciousness) của chúng ta sau khi chết? Elliot Giberson, Seattle, bang WASHINGTON.

– Tôi nghĩ rằng bộ óc chúng ta giống như một máy vi tính, và ý thức thì giống như một chương trình điện toán. Chương trình này sẽ ngưng chạy khi máy vi tính bị tắt đi. Một cách lý thuyết, ý thức có thể tái tạo trên một hệ thống thần kinh (neural network), nhưng chắc là khó lắm vì nó sẽ đòi thu nhập tất cả ký ức/bộ nhớ của mỗi người.

7. Ông nổi tiếng như là một Vật lý gia kiệt xuất, ông có những quan tâm bình thường nào làm người ta ngạc nhiên không? Carol Gilmore, Jefferson City, bang MISSOURI.

– Tôi thưởng thức được tất cả mọi loại nhạc – dân ca, cổ điển và opera. Tôi cũng chia sẻ thú vui với Tim, con trai của tôi, về cuộc đua xe hơi Formula One.

8. Ông nghĩ rằng những giới hạn thể chất của ông thì đã giúp thêm hay cản trở công việc nghiên cứu của ông? Marianne Vikkula, Espoo, FINLAND.

– Mặc dù tôi đã bất hạnh bị bệnh về cơ vận động thần kinh (neuron motor), nhưng tôi lại rất có phúc trên hầu hết những điều khác. Tôi may mắn được làm việc trong lãnh vực Vật lý lý thuyết, một trong vài lãnh vực hiếm hoi mà tình trạng tàn tật không phải là một bất lợi trầm trọng, và may mắn được trúng số to nhờ mấy cuốn sách bán khá chạy.

9. Ông có cảm thấy một trách nhiệm to lớn đè lên mình khi có người mong chờ ông trả lời được bí mật của đời sống không? Susan Leslie, Boston, bang MASSACHUSETTS.

– Chắc chắn là tôi không có giải đáp cho tất cả mọi vấn nạn về cuộc sống. Trong khi Toán học và Vật lý học có thể cho chúng ta biết vũ trụ đã khởi đầu như thế nào, hai môn này lại rất ít công dụng giúp chúng ta tiên đoán được ứng xử của con người vì (tìm hiểu con người thì) có quá nhiều phương trình phải giải. Tôi không giỏi hơn ai cả khi tìm hiểu điều gì làm cho người ta nổi quạu, nhất là đàn bà.

10. Ông có nghĩ rằng đến một lúc nào đó, nhân loại sẽ hiểu được tất cả những gì cần hiểu về Vật lý không? Karsten Kurze, Bad Honnef, GERMANY.

– Tôi hy vọng là không bao giờ có thời điểm đó cả. [Tại vì nếu có] Tôi sẽ thất nghiệp mất.

(Theo Time Magazine) California 11-2010

Trí Tánh ĐHT dịch

Đạo Phật & nhà khoa học Stephen William Hawking

Ông Stephen William Hawking là nhà khoa học lỗi lạc tuy vậy không có nghĩa ông ta có thể dùng lý luận khoa học để đo lường tôn giáo và nhận định chủ quan theo ý riêng .
Những lời phát biểu gần đây của ông bất cập , lúc thì phủ nhận Đức Chúa Trời , lúc thì lại công nhận sự hiện hữu Đức Chúa Trời .
Kiến thức khoa học dù có tiến bộ phát triển vượt bậc thế mấy thì cũng chỉ là hạt cát so với tôn giáo vốn vô tận vô biên vĩnh hằng .

Theo giáo lý đạo Phật có phân định rõ giữa khoa học & tôn giáo .
Có lẽ ông Hawking là nhà khoa học nên có quan điểm nhìn thế giới với lăng kính khoa học mà không biết rằng khoa học luôn thay đổi theo nhận thức của con người về nhân sinh và vũ trụ . Theo Đức Phật thì giữa kiến thức khoa học và trí tuệ tôn giáo thì nghĩa của nó khác nhau xa. Bởi trí thức của người đời nói, đó là thứ trí thức bởi do khám phá các hiện tượng tự nhiên và xã hội , do tích tụ kinh nghiệm mà có. Nói rõ hơn, là do khám phá , học hỏi bởi những môi trường chung quanh mà có, như hấp thụ kinh nghiệm kiến thức qua các lãnh vực của đời sống từ trong gia đình, nhà trường và xã hội. Kiến thức khoa học này không cố định mà thay đổi theo thời gian . Trong nhà Phật gọi đây là Hữu sư trí. Tức thứ trí có được do vay mượn bên ngoài đem vào mà tạm có ra do vậy mà kiến thức khoa học này mang tính tương đối .

Ngược lại, trí tuệ mà được gọi là Vô sư trí, tức trí tuệ không do sự vay mượn tìm tòi bên ngoài mà được. Mà tự nó sẵn có, nhưng sở dĩ nó không hiển lộ được là do phiền não , nghiệp lực che ngăn. Nhờ tu tập thúc liễm tinh tấn bên trong nội tâm Tâm thức thì trí tuệ này sẽ hiện bày. Trí huệ này là bất biến , là cố định , là vô lượng vô biên vì nhìn ra sự thật chân lý vĩnh hằng .

Kiến thức khoa học của thế gian còn trong phạm vi phân biệt, chấp trước , còn giới hạn , hay thay đổi bởi do tìm tòi tích tụ kinh nghiệm vay mượn bên ngoài mà có. Đây là thứ trí thức thuộc Hữu lậu pháp, hay thế trí biện thông. Ngược lại, trí huệ là cái trí Bát nhã do tu tập bên trong Tâm thức mà có không do vay mượn bên ngoài. Trí huệ nầy khi phát sáng toàn triệt, thấu hiểu bao trùm toàn thể vũ trụ , nhân sinh.

Các định luật tự nhiên của vũ trụ không tự nhiên mà có . Đức Phật cũng không điều khiển được các định luật này , mà Ngài chỉ tuân theo nó . Không có Đức Phật thì các định luật tự nhiên vẫn vận hành theo nguyên lý vũ trụ , điển hình như luật nhân quả .Tất cả mọi thành tựu của khoa học kỷ thuật mang lại cho con người chỉ mang đến một ít tiện nghi cho đời sống và không có ý nghĩa gì so với sự thành tựu tâm linh giải thoát an lạc vĩnh hằng .
Quang Đạt
– Do Dung : Đạo hữu Quang Đạt không hiểu tại sao lại “la làng” lên như vậy nhỉ…?

dodung108@yahoo.com


Pakistan: Hội thảo quốc tế về Di sản văn hóa Phật giáo Gandhara
03/12/2010 04:36 (GMT+7)Kích cỡ chữ:

(GNO): Ngày 1-12, Hội thảo quốc tế về Di sản văn hóa Phật giáo Gandhara đã khai mạc trọng thể tại Đại học Quaid-e-Azam ở thủ đô Isalamabad với sự tham dự của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Liên bang Pakistan, ông Aftab Hussain Shah Jalani; các giáo sư, học giả và nhà khoa học đến từ các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.

Hội thảo do Viện Nghiên cứu Văn minh châu Á Taxila (TIAC) phối hợp với Trung tâm Tư liệu và Bảo tồn Đại học Aachen và Học viện Khoa học – Nhân văn Heidelberg (CHLB Đức) tổ chức.

Mục đích chính của hội thảo là nhằm phát huy di sản văn hóa Phật giáo Gandhara của Pakistan. Các nhà khoa học và các học giả sẽ thảo luận những nghiên cứu mới về di sản văn hóa Phật giáo Gandhara đã được tiến hành gần đây, nhằm tạo cơ hội học hỏi và trao đổi các quan điểm về chủ đề này.

Phát biểu chúc mừng hội thảo, Giáo sư – Tiến sĩ Masoom Yasinzai, Phó Hiệu trưởng Đại học Quaid-e-Azam nói, các thánh địa Phật giáo ở Pakistan như: Taxila, Peshawar, Swat, Mansehra, Shahbaz Garhi, Takht-e-Bahi là bằng chứng cho thấy một di sản văn hóa Phật giáo phong phú đã được bảo tồn từ đầu ở đây từ thời Hoàng đế A Dục cho đến triều đại Kushan. Giáo sư cho rằng di sản văn hóa Phật giáo Gandhara, vốn truyền bá khắp các vùng của Khyber Pakhtoonkhwa và Bắc Punjab, là bảo vật vô giá của Pakistan. Và Pakistan tự hào có những thánh địa như thế.

Đề cập đến việc thảo luận, Giáo sư Yasinzai nói hội thảo nên nhấn mạnh về sự nghiên cứu hơn nữa và về các dự án nghiên cứu thiết kế cùng với việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa quí giá này của nhân loại.

Bộ trưởng Bộ Văn hóa Liên bang, ông Pir Aftab Hussain Shah Jilani phát biểu tại lễ khai mạc rằng, nhiệm vụ của chính phủ là bảo vệ, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Gandhara. “Chúng tôi đang biến Gandhara thành các điểm du lịch. Đây được coi như là một phần chính sách du lịch văn hóa của chúng tôi. Thực tế, chúng tôi đã triển khai hai dự án ở Taxila và Swat từ năm 2002 và dự án thứ ba sẽ được khởi động ngay sau khi chính phủ Italia cấp vốn,” ông Bộ trưởng cho biết thêm.

Tiến sĩ Azmat Hayat Khan, Phó Hiệu trưởng Đại học Peshawar, Giáo sư – Tiến sĩ Michael Jansen, thuộc Trung tâm Tư liệu và Bảo tồn RWTH Đại học Aachen (Đức), Giáo sư – Tiến sĩ Harald Hauptmann, thuộc Học viện Khoa học và Nhân văn Heidelberg, Tiến sĩ Fazal Dad Kakar, Giám đốc Cục Khảo cổ và Bảo tàng, ông Stephan Rokin, Phó Tổng Lãnh sự Đức, ông Walter Douglas, Tham tán các vấn đề chung của Đại sứ quán Hoa Kỳ, Tiến sĩ Warren Mellor, Giám đốc UNESCO tại Islamabad cũng đã phát biểu trong dịp này.

Hội thảo diễn ra trong 3 ngày, từ ngày 1 đến 3-12-2010.
Quần Anh (theo ET/Daily Times)

‘Quảng cáo’ không sát sinh trên TV: Phóng sinh gián tiếp
02/12/2010 14:24Minh Thạnh
Kích thước chữ:

Đạo Phật hướng tới một mục tiêu lớn là không sát sinh. Đây là giới cấm hàng đầu trong đạo Phật, đồng thời cũng là một hạnh tu.

Tu hạnh bất sát, ngoài việc không sát sinh, còn là việc theo đuổi các việc làm phóng sinh, trợ sinh, đồng thời làm tất cả để ngăn cản việc giết chóc đối với muôn loài..

Tựa đề của bài viết này là “Quảng cáo” không sát sinh trên TV”… Từ “quảng cáo” được dùng cho dễ hiểu, thực phải nói cho chính xác là truyền thông, nên từ quảng cáo được đặt trong hoặc kép.

Thực tế, việc truyền thông không sát sinh khó có thể đặt trong mục quảng cáo của các đài truyền hình. Và không sát sinh cũng chưa thể trở thành một dạng truyền thông công cộng có tính chất cổ động như tiết kiệm điện, phòng chống dịch bệnh…, vì chưa trở thành một tập quán xã hội, dù đây là việc công ích.

Nếu chúng ta thực hiện những video clip quảng cáo vận động không sát sinh, thì phần chắc, các đài truyền hình trong nước sẽ không chấp nhận, vì quảng cáo vẫn được hiểu là phải nhắm vào sản phẩm nào đó. Nếu chỉ kêu gọi không sát sinh nói chung (dù không phải là lý do tôn giáo), cũng vẫn là điều quá xa lạ, chưa thích hợp với cách làm truyền hình trong nước hiện nay.

Nhưng cách giải quyết vấn đề lại nằm ở ngay chỗ này, tức là đưa nội dung không sát sinh vào các video clip quảng cáo. Thông qua việc quảng cáo một sản phẩm nào đó để truyền tải nội dung truyền thông không sát sinh đến công chúng rộng rãi.

Chẳng hạn, nội dung truyền thông vận động không sát sinh chẳng hạn có thể được lồng vào video clip quảng cáo mì chay chẳng hạn, thì có thể dễ dàng đưa lên sóng truyền hình trong nước.

Trong lý luận về truyền thông, để vận động, quảng cáo hay tuyên truyền cho một mục tiêu nào đó, thì một trong những lựa chọn thường dùng là đưa những nội dung tương phản, từ đó hướng công chúng theo nội dung ngược lại.

Thí dụ, quảng cáo thuốc nhức đầu, giảm đau thì đưa những hình ảnh khổ sở của nhưng cơn đau đầu; quảng cáo kem đánh răng thì đưa những hình ảnh đau đớn của bệnh sâu răng; quảng cáo xà bông thì đưa những hình ảnh quần áo tay chân dơ bẩn, hoặc giặt rửa không sạch, nếu không dùng loại xà bông được quảng cáo.

Cách làm như trên chúng ta vẫn thường thấy trên sóng truyền hình.

Như vậy, quảng cáo mì gói chay chẳng hạn, thì có thể đưa những hình ảnh gây đau khổ cho súc vật từ việc sát sinh làm thức ăn mặn (như cắt cổ gà, thọc huyết heo…) để khơi dậy ở khán giả lòng thương yêu chúng sinh, không ăn mặn mà ăn chay và ăn mì chay.

Tác động vào tình cảm, lòng từ bi của con người, một bản tính tự nhiên, chắc chắn, sẽ đưa tới kết quả nhất định, dù mức độ có thể tùy theo từng người.

Chẳng hạn, một người có thể ăn thịt chó thoải mái, vì cho là thịt chó ngon, nhưng chắc chắn họ sẽ ăn thịt chó không như trước sau khi thấy cảnh đập đầu chó, thọc huyết chó man rợ, gây nên nỗi đau cho một loài vật thân thiết với người, một loài vật thông minh và có tình cảm.

Chúng tôi được biết trường hợp cả một gia đình ăn chay, dù không phải Phật tử, chỉ vì họ ở gần một lò mổ heo và kế một tiệm bán thịt mèo. Nỗi bất nhẫn, thương tâm do việc chứng kiến thường xuyên nỗi đau do sát sinh gây ra khiến người ta không dễ gì ăn thịt bình thường như những người chưa bao giờ thấy nỗi đau của việc giết hại.

Cũng nghe kể lại trong một đám cưới ở quê, thực khách không còn muốn ăn thịt bê khi thấy cảnh bò mẹ tìm thấy bê con khi bê đang bị đập đầu giết thịt, khiến bò mẹ hóa điên, lồng lộn kêu la thảm thiết, bi thương.

Cho dù không theo đạo Phật, nhưng lòng nhân từ, bi mẫn thì ai cũng có. Vấn đề làm sao khơi dậy tấm lòng nhân từ bi mẫn để hướng tới việc hạn chế sát sinh. Chiếu những đoạn video clip quảng cáo có tác dụng khơi gợi lòng thương yêu loài vật, gây xót xa trước cái chết của loài vật là một cách làm hiệu quả. Và như đã nói có thể dễ dàng đưa lên sóng truyền hình hàng ngày cách lồng vào việc quảng cáo thức ăn chay.

Năm 1988, chính phủ Hàn Quốc muốn cải thiện hình ảnh đất nước trước Thế Vận Hội Seoul 1988, vốn hoen ố ít nhiều vì người phương Tây ác cảm với việc ăn thịt chó của người Hàn, đã vận động người dân không ăn (đúng ra là bớt ăn) thịt chó đồng thời với việc cấm bán, thịt chó, cấm giết chó để ăn trong thời gian trước và trong Thế Vận Hội, bằng cách cho chiếu trên truyền hình quốc gia những hình ảnh gây xúc động về những con chó bị giết thịt để ăn. Kết quả là không những trong mà sau Thế Vận hội Seoul, việc ăn thịt chó ở Hàn Quốc giảm hẳn.

Nhiều tổ chức bảo vệ môi trường cũng làm cách tương tự. Thí dụ vận động hạn chế việc giết thịt cá voi bằng cách thuê chiếu những hình ảnh tàn ác của việc săn cá voi, vận động hạn chế dùng những sản phẩm từ hải cẩu bằng cách chiếu thường xuyên cảnh thương tâm của những con hải cẩu bị giết, hải cẩu mẹ giãi gụa trong vũng máu trước mắt hải cẩu con…

Một trong những cách làm khác trong hướng đưa những video clip khai thác sự tương phản là thể hiện vấn đề an toàn vệ sinh của thực phẩm giết thịt.

Cuối tháng 11/2010 vừa qua, sau khi Đài Truyền hình Việt Nam đưa tin người ta có thể dùng hóa chất giá rẻ biến một tảng thịt thối đã ôi thiu từ lâu, thành một tảng thịt tươi bắt mắt và ngon lành về mùi vị, thì được biết nhiều người không dám ăn thịt heo, hoặc ăn không thấy ngon như trước. Đây là điều đương nhiên, ai cũng vậy.

Một số hộ, dù ở thành phố, do e ngại vấn đề vệ sinh thực phẩm đối với rau xanh, đã tạo vườn vườn rau riêng để gia đình ăn. Nhưng điều chắc chắn là việc tự nuôi bò, nuôi heo, nuôi gà,… để ăn trong gia đình quanh năm là điều hầu như không thể thực hiện.

Kinh sợ trước thịt ôi thiu làm tươi bằng hóa chất, rất rẻ và rất nhanh, ai làm cũng được, thì chỉ có cách trông cậy vào thức ăn chay chế biến tinh khiết, hợp vệ sinh. Truyền thông cho điều này, nằm trong tay các nhà sản xuất thực phẩm chay.

Còn về phía Phật tử tu hạnh bất sát, từ bi, thì phóng sinh gián tiếp bằng cách truyền thông không sát sinh, có thể làm ngay với những video clip quảng cáo, có thể có tác dụng nhiều hơn, cứu được nhiều sinh mạng chúng sinh hơn, và với chi phí thấp hơn, so với phóng sinh trực tiếp bằng cách thả chim, thả cá, thả rùa…

Những nhà hảo tâm tu hạnh từ bi, phóng sanh có thể hỗ trợ cho những nhà sản xuất thực phẩm chay đưa lên truyền hình những video clip quảng cáo có nội dung vận động không sát sinh.

Còn chính những Phật tử có thể đưa những video clip đánh thức lòng tư bi, thương yêu muôn loài bằng cách tài trợ cho những chương trình ca nhạc video chẳng hạn đổi lại việc đưa video clip truyền thông nội dung không sát sinh vào dĩa DVD chẳng hạn, theo các thể hiện tương phản.

Các tờ báo in Phật giáo có thể vận động các nhà sản xuất thực phẩm chay, thí dụ mì chay chẳng hạn, thay thế quảng cáo sản phẩm bằng hình ảnh gói mì, bằng những hình ảnh có tác động hạn chế sát sinh tích cực hơn có hiệu quả đưa tới phóng sinh gián tiếp, như dùng mì chay là bớt đi cảnh (bằng hình ảnh gạch chéo phủ nhận) đập đầu cá, cắt cổ gà, thọc huyết heo… chẳng hạn.

Các vị tôn đức lãnh đạo giáo hội, bằng uy tín, bằng đạo cao đức trọng có thể đứng ra tích cực vận động lãnh đạo chủ quản các đơn vị truyền thông có những chương trình truyền thông công ích với nội dung bất sát, như vận động không săn bắn thú rừng chẳng hạn. Các nhà hoạt động môi trường vận động dưới quan điểm đa dạng sinh học, còn các nhà lãnh đạo Phật giáo có thể vận động dưới quan điểm từ bi nhằm hạn chế nỗi đau của những thú rừng khi bị bắn giết.

Tại hội nghị chuyên đề bảo vệ hổ trước nguy cơ bị săn giết diệt chủng vừa mới được tổ chức tại Saint Petersburg, Nga hưởng ứng lời kêu gọi của Tổng thống Putin một số kênh truyền hình Nga đã chiếu các video clip vận động không bắn giết hổ. Nhưng thủ tướng Nga không chỉ vận động có những video clip không hạn chế việc bắn giết động vật, mà chính ông chỉ đạo chiếu đi chiếu lại video clip mà chính thủ tướng giữ vai trò chính. Đó là video clip ông Putin đang cầm bình sữa cho một con nai mồ coi mẹ bú vì nạn săn bắn. Đây cũng là một cách truyền thông phóng sinh gián tiếp và tất nhiên rất có hiệu quả vì nhân vật cổ động lại chính là một vị thủ tướng.

Thả chim, thả cá hay sử dụng truyền thông vận động bớt giết gà, mổ heo cùng đều đưa tới việc cứu cho, giúp càng nhiều cho mạng sống muôn loài, tùy theo hoàn cảnh đều có thể khai thác, vì mục tiêu từ bi, bất sát của đạo Phật.
MT

Advertisements

About Kinh Tâm

Từng bước hoa sen nở
Bài này đã được đăng trong Khoa học và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s