Kinh Sám hối đã làm thay đổi con người tôi và Không ngại chỗ ở khó khăn

Việt Trinh: “Kinh Sám hối đã làm thay đổi con người tôi”

“Ngôi sao màn bạc” của những năm 90 bây giờ đã là bà mẹ một con. Đi qua những thăng trầm, đi qua những sai lầm, trong cách nói của Việt Trinh là sự chiêm nghiệm đến u buồn, là sự chín chắn đến thanh thản.

“Sự háo thắng đã khiến tôi đi từ sai lầm này đến sai lầm khác”

Bẵng đi một thời gian dài, chị rời xa màn ảnh. Sau khi sinh con, chị bất ngờ quay trở lại với hàng loạt dự án phim. Công chúng thắc mắc mục đích trở lại của chị, chị muốn tìm lại những hư danh cũ, hay chỉ giản đơn là… kiếm tiền nuôi con?

Nếu nói không phải để kiếm tiền nuôi con có lẽ không đúng, nhưng đó chỉ là một phần. Nghiệp diễn đã ăn sâu vào trong máu tôi, những năm không đi làm, tôi nhớ nghề kinh khủng. Tôi cũng đã thử sức ở một vài công việc khác, nhưng tôi không thấy hứng thú, chỉ thấy mệt mỏi. Khi đi làm phim, có những hôm quay tới sáng, tôi vẫn thấy mình sung sức, máu vẫn sôi ào ào, vẫn muốn được tiếp tục làm việc. Chính vì thế, sau bao năm rời xa, tôi nhận ra mình phải gắn bó với nghệ thuật đến suốt đời.

Về việc tìm kiếm hư danh. Trên đời, ai cũng nghĩ thân mình là có thật, danh vọng là có thật. Nếu thân mình có thật, bạn có thể cấm mình tóc không được bạc, da không được nhăn, và cấm mình không được chết không? Đạo Phật dạy, thân thể chúng ta chỉ là vay tạm thôi. Danh tiếng cũng vậy, là thứ không có thật, hư vô vô cùng. Tiền bạc hôm nay nằm trong tay bạn, mai sẽ sang tay người khác. Chỉ có tình yêu là thứ duy nhất có thật trên đời. Tôi trở lại lần này với tất cả sự thoải mái, thanh thản, vì lý do của tôi chỉ nằm ở tình yêu.

Sau những năm dòng phim thị trường suy thoái, chị đã đi qua nhiều thăng trầm, đi qua cả những sai lầm tuổi trẻ… Nhưng khi chị trở lại, công chúng vẫn nồng nhiệt đón nhận, truyền thông cũng miệt mài săn tìm. Đón nhận tình cảm của công chúng bây giờ có gì giống và khác so với thời chị còn là một ngôi sao màn bạc?

Tôi là một người may mắn. Sau những “sự cố” của mình, tôi vẫn luôn được khán giả yêu thương, được truyền thông đón nhận, đó là cái phước của tôi, và tôi thực sự cảm ơn. Tôi đã khác nhiều so với những năm 90. Những năm 90, khi đứng trước sự cuồng nhiệt của khán giả, tôi đã đón nhận vội vã, và nghĩ rằng, mình xứng đáng được như vậy. Sự vội vã, sự ngộ nhận đã biến tôi thành kẻ háo thắng. Tôi nghĩ mình như thế là giỏi lắm. Chính vì vậy, tôi đã đi từ sai lầm này đến sai lầm khác.

Năm tháng qua đi, bây giờ tôi đón nhận mọi việc bình tĩnh hơn. Tôi nhận ra, tình cảm của khán giả là một áp lực lớn, buộc mình phải làm tốt hơn để không phụ lòng mong đợi. Những năm 90, tôi đã không biết đó là một áp lực, tôi nghĩ đó là một món quà mà tôi phải có.

Chị trở lại, bên cạnh những cái vỗ tay chào đón, cũng có người cho rằng, thời của chị đã qua rồi, và chị nên nhường lại vai diễn, nhường lại “đất diễn” cho thế hệ trẻ. Chị có nghĩ đến “phân đoạn” này khi quay lại trường quay?
Khi xưa, nếu nghe những câu như vậy, có lẽ tôi sẽ thắc mắc, tại sao anh (chị) lại không thích tôi? Bây giờ, tôi lại nghĩ, cô (anh) ấy nói như vậy vì họ chưa hiểu mình thôi. Khi nào hiểu mình, họ sẽ nghĩ khác. Khi bạn yêu thương, trong lòng bạn vui vẻ, thanh thản. Khi bạn ghét một ai đó, người chịu khổ đầu tiên, chính là bạn.

“Kinh Sám hối đã làm thay đổi con người tôi”

Người viết đã có dịp trò chuyện với chị cách đây hơn một năm. Khi ấy, chị cũng đã đi qua những thăng trầm, đã đi qua nhiều khổ đau, nhưng cách nói chuyện vẫn không có được sự chín chắn đến mức bình thản như lúc này. Em bé ra đời đã làm Việt Trinh thay đổi nhiều đến vậy?

Đúng. Con trai ra đời đã khiến tôi quên cả mình là ai. Tôi cầu nguyện cho con trai và làm tất cả vì con trai. Tôi chỉ nói thế này, khi mình chết đi, gia tài lớn nhất mình để lại cho con cháu không phải là tài khoản triệu đô hay là ngôi nhà triệu đô đâu bạn, gia tài lớn nhất ta để lại cho con là đức mẹ, là phúc đức.

Khi tôi có thai, tôi đã đọc kinh rất nhiều, có đêm tôi đọc kinh từ 3h sáng đến 7h sáng. Trước ngày sinh vẫn ngồi đọc kinh. Tôi cầu nguyện cho con trai mình, tôi cầu nguyện sinh ra con trai biết yêu thương, biết sống nhân từ.
Việc sinh con trong quan niệm truyền thống vẫn phải hợp thức hóa bằng một lễ cưới chính thống. Chị đã sinh bé khi chưa có sự hợp thức ấy. Cách đọc kinh từ 3h sáng đến 7h sáng có phải để chị… bù đắp lại cho con?

Không phải. Mỗi người sẽ có cách nghĩ riêng. Tôi không thể áp đặt suy nghĩ của mình lên mọi người. Tôi sẽ không giải thích gì cả. Tôi sẽ có cách nói cho con hiểu và tin rằng con sẽ hiểu.

Trong giọng nói, trong suy nghĩ của chị thấm đẫm đạo Phật. Con người tìm đến tôn giáo đôi khi chỉ để chạy trốn khỏi những lỗi lầm. Điều đó có đúng với chị?

Trước đây khi chưa đến với Đạo, nhìn người khác hạnh phúc, tôi rất buồn và ganh tỵ. Tôi nghĩ, mình cũng là người có tên tuổi, cũng chẳng đến nỗi nào, vậy mà không hạnh phúc bằng một chị lao công. Khi đến với Đạo, tôi hiểu ra rằng, mỗi người đều có một nghiệp, sống là để trả nghiệp đó, và chỉ có sống tốt mới giúp được nghiệp đó nhẹ hơn. Bạn là công chúa, chưa chắc đã hạnh phúc. Bạn là lao công, chưa chắc đã không hạnh phúc.
Tôi đã hiểu ra được nhiều điều khi đến với đạo Phật. Tôi không chạy trốn. Tôi chỉ tìm kiếm một nơi có thể tâm hồn tôi thanh thản lại. Tôi đọc nhiều nhất là kinh Sám hối. Tôi đã thay đổi rất nhiều. Đọc xong cuốn kinh Sám hối, tôi đã dành một tuần chỉ để xin lỗi những ai tôi đã từng làm họ buồn. Có người ở tận Mỹ, tôi cũng tìm bằng được số điện thoại để gọi điện xin lỗi.

“Người ấy là bí mật của mẹ con tôi”

Chị đã từng làm nhiều người buồn đến thế?

Ai cũng vậy thôi. Có những điều, bạn nghĩ đơn giản là sự vô tư, nhưng khi đọc kinh mới biết đó là tội lỗi. Khi xưa, có lần tôi và nhóm bạn đã từng trêu một cặp đôi yêu nhau. Chị này tính rất hay ghen. Chúng tôi gọi điện giả vờ là cô bạn gái cũ dưới quê của anh kia… Chỉ là trò đùa vô tư, nghĩ là bà này hay ghen, chọc một bữa cho vui. Ai ngờ, hậu quả lại rất lớn. Chị ấy đòi tự tử. Đọc kinh, đó là một tội lỗi lớn. Tôi đã tìm kiếm số điện thoại của chị ấy một thời gian dài để xin lỗi về câu chuyện cũ.

Trong số những người chị gọi điện xin lỗi, liệu có anh Phước Sang?

(cười). Hồi đó còn trẻ, chuyện của tôi và Phước Sang chỉ là ngộ nhận. Bây giờ, chúng tôi vẫn là bạn. Tôi rất ngưỡng mộ gia đình Phước Sang và rất quý Kim Thư. Vả lại, tôi không thích nói chuyện tình yêu với một người đàn ông nào trên báo chí.

Bố của con trai chị cũng luôn được giấu kín. Liệu có phải vì anh ấy đã có vợ rồi, hay vì, chị chưa tự tin với tình yêu đã có…?

Đạo Phật cũng nói, đừng khoe hạnh phúc của mình với người khác. Hạnh phúc riêng nên kín đáo để giữ gìn và vun vén, như vậy mới bền lâu. Người ấy là bí mật của mẹ con tôi. Và bí mật này… rất đẹp. Tôi xin được giữ gìn. Dù có thể, cùng với thời gian trôi đi, mọi việc sẽ khác, nhưng bây giờ vẫn là một bí mật.

(Theo Dân Trí, tựa Điểm Nhìn)

TRÊN ĐỊA CẦU XANHPhật giáo & Khoa học
Vật lý – Phật học – Vũ trụ
(22/11/2010 06:30)(đã xem: 52 lượt)
Đã có những nhà thiên văn nêu lên vấn đề, “Ai” đã điều chỉnh vũ trụ một cách tinh tế như vậy, nếu không phải là một Đấng Sáng tạo? Quan niệm này không tương hợp với vũ trụ quan cuả Đạo Phật, bởi vì Phật giáo không yêu cầu có “bàn tay” của Thượng Đế tạo ra vũ trụ – Bài viết của nhà thiên văn học, GS Nguyễn Quang Riệu.

Trong những năm gần đây, phong trào Phật giáo được phổ biến tại nhiều nước trên thế giới, một phần là nhờ tinh thần cởi mở ít tính giáo điều của Phật giáo.

Người phương Tây thường coi Phật giáo là một ngành triết học. Thiên văn học nghiên cứu sự tiến hóa của vũ trụ, sự sinh tử của những vì sao và nguồn gốc của sinh vật trên trái đất, thậm chí cả khả năng có sự sống trên những hành tinh khác.
Do đó thiên văn học là một đối tượng hấp dẫn đối với các nhà Phật giáo, các nhà siêu hình học và triết học…
Ảnh Tech News.
Những lý thuyết của ngành vật lý hiện đại cùng những kết quả quan sát bầu trời bằng những kính thiên văn ngày càng lớn giúp các nhà thiên văn đi ngược dòng thời gian để phỏng đoán những sự kiện xẩy ra từ khi vũ trụ mới ra đời từ vụ nổ Big Bang, cách đây đã khoảng 14 tỷ năm.
Những nhà khoa học của trường phái chống thuyết Big Bang cho rằng sự khai sinh vũ trụ qua một vụ nổ ám chỉ sự can thiệp của một Đấng Sáng tạo Tối cao nên đối với họ, thuyết Big Bang có xu hướng thiên về tôn giáo.
Bởi vì theo Kinh thánh của đạo Thiên Chúa, thế giới muôn loài đều do Thượng Đế tạo ra chỉ một lần cho mãi mãi. Còn các nhà khoa học của thuyết Big Bang nhận định là nếu những hằng số cơ bản trong vũ trụ nguyên thủy, hiện vẫn được dùng trong ngành vật lý, chỉ thay đổi đôi chút, thì quá trình tiến hóa của vũ trụ có thể đã dẫn đến một thế giới khác hẳn, có khả năng không có loài người chúng ta ở trong.

Đã có những nhà thiên văn nêu lên vấn đề, “Ai” đã điều chỉnh vũ trụ một cách tinh tế như vậy, nếu không phải là một Đấng Sáng tạo? Quan niệm này không tương hợp với vũ trụ quan cuả Đạo Phật, bởi vì Phật giáo không yêu cầu có “bàn tay” của Thượng Đế tạo ra vũ trụ.

Trên phương diện khoa học, hiện nay dường như hầu hết các nhà thiên văn đều tin vào thuyết Big Bang, vì thuyết này giải thích được nhiều hiện tượng trong vũ trụ.

Ngày xưa ở phương Tây, người ta coi thế giới của loài người là duy nhất và nhân loại là độc nhất trong vũ trụ. Khoa học đã chứng minh quan niệm một thế giới địa tâm, coi trái đất và con người là trung tâm vũ trụ là không đúng.

Quan niệm của Phật giáo là có nhiều thế giới, con người là những tiểu vũ trụ của một đại vũ trụ trong hằng hà sa số những đại vũ trụ. Các nhà khoa học cũng cho rằng, về mặt lý thuyết, trong vũ trụ có rất nhiều hành tinh trên đó có thể có nhiều nền văn minh mà các nhà thiên văn trên trái đất chưa phát hiện được.

Tuy nhiên, sự phát hiện những nền văn minh siêu việt trong vũ trụ là một vấn đề rất nan giải, bởi vì khoảng cách của những hệ sao có khả năng chứa những nền văn minh đó quá lớn, nên ánh sáng và tín hiệu vô tuyến phải mất hàng vạn năm mới truyền tới trái đất.

Nhà bác học Fermi khi đến thăm Trung tâm Nguyên tử Los Alamos (bang New Mexico, Hoa Kỳ) và đàm thoại với các nhà vật lý có đặt một câu hỏi: trong vũ trụ bao la có hằng hà sa số những hệ sao và hành tinh, hẳn phải có những nền văn minh siêu việt có khả năng kỹ thuật đủ cao để đến thăm nhân loại trên trái đất hay liên lạc với chúng ta bằng tín hiệu vô tuyến.

Nhưng bởi vì chưa ai nhìn thấy mặt họ và chưa ai bắt được tín hiệu của họ, thế thì họ ở đâu? Sau này, câu hỏi có vẻ ngây thơ cuả nhà vật lý Fermi được đặt tên là “nghịch lý Fermi”. Hiện nay, săn tìm trong Ngân hà các hành tinh tương tự như trái đất, có khả năng có sự sống, là một đề tài ưa thích đối với các nhà thiên văn.

Phật giáo quan niệm tất cả những gì trên thế gian này đều vận hành, biến dịch liên tục và liên hệ với nhau, không có gì là độc lập, không có gì là thực tại.

Quan niệm này cũng được phổ biến trong khoa học. Những nghiên cứu thiên văn cho rằng mặt trời, trái đất và các hành tinh đều được sinh ra từ một đám mây đầy khí và bụi, cách đây 4,6 tỷ năm. Các thiên thể trong vũ trụ chuyển động không ngừng.

Trái đất quay xung quanh mặt trời với tốc độ mười vạn kilômét/giờ. Mặt trời, trái đất và các hành tinh cũng bị lôi cuốn quay xung quanh tâm của Ngân hà với tốc độ một triệu kilômet/giờ. Ngân hà cũng đang lùi ra xa các thiên hà láng giềng với tốc độ hàng chục vạn kilômet/giờ. Trong vũ trụ, không có gì ở trạng thái tĩnh cả.

Các nhà vật lý quan niệm thành phần cơ bản nhất của vật chất là những hạt nhỏ li ti. Những “hạt cơ bản” vi mô này không nhìn thấy bằng mắt thường và tràn ngập vũ trụ nguyên thủy.

Trên trái đất chúng xuất hiện trong giây lát trong những máy gia tốc, khi những hạt electron hay proton va chạm vào nhau với tốc độ cao xấp xỉ tốc độ ánh sáng.

Trong những năm gần đây, những lý thuyết vật lý đề nghị trong vũ trụ còn có những “dây” vật chất nhỏ hơn cả hạt cơ bản. Khi dây vũ trụ rung như những dây đàn thì tạo ra những loại hạt vật chất khác nhau. Trên thực thế, đối với phàm nhân thì những hạt và dây vật chất chỉ là những vật ảo.

Ta không khỏi không nghĩ tới khái niệm “vô thường”, “vô ngã” trong đạo Phật, coi sự vật trên thế gian chỉ là ảo. Những hiện tượng và sự vật không phải là những thực thể độc lập, nhưng phụ thuộc vào nhau theo luật “nhân duyên”.

Tuy nhiên, sự tương đồng giữa Phật giáo và khoa học phải được hạn chế trong phạm vi tư tưởng triết học đối với thế giới tự nhiên. Còn những kết quả khoa học liên quan đến vũ trụ phải được dựa trên những định luật vật lý và sự quan sát bằng những công cụ thiên văn hiện đại.

Cách tiếp cận những hiện tượng trong vũ trụ đối với Phật giáo và khoa học có thể song song với nhau, nhưng không nhất thiết trùng hợp với nhau. Khoa học dùng những lý luận duy lý để tìm chân lý còn Phật giáo dùng tư duy đạo đức và triết học để đạt giác ngộ và giúp nhân loại diệt khổ.

Tuy nhiên, Phật giáo và khoa học không phải là không tương hợp với nhau, một Phật tử có thể là một nhà khoa học chân chính. Nhưng nếu muốn dựa vào khoa học để giải thích những hiện tượng siêu hình có lẽ là không thực tế.

GS Nguyễn Quang Riệu (Tạp chí Tia Sáng – Nguồn: Bee.net.vn)

Không ngại chỗ ở khó khăn

Mọi người thường hay nghĩ rằng xuất gia là để được an nhàn, để thọ nhận sự thoải mái, vì thế nên tìm cho mình một nơi ở thật tốt, thật bình yên. Sự suy nghĩ trên thật là sai lầm!

Việc đầu tiên của người xuất gia là học tập dâng tặng, học tập chịu đựng gian khổ, tập sống những nơi có sinh hoạt khó khăn. Nếu không ra sức trồng trọt thì làm sao có được mùa thu hoạch? Có những việc phải khác với thế tục thường tình. Không ý thức được điều này thì có thể cửa thiền là chỗ ở không an. Vì tất cả cảnh giới Phật chế ra nhằm giúp cho ta có ý chí tu học vượt khó, thành tựu được đạo nghiệp rồi thì chỗ nào cũng là nơi an trụ.

Tiêu chí của người xuất gia là “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh”. Nếu như trên đã không cầu được Phật đạo thì nói gì đến việc cứu giúp, giáo hóa chúng sinh. Quý vị tìm đến nơi học đạo, tất nhiên phải hiểu rõ mục đích của mình là gì, chấp nhận được đời sống của người xuất gia thì nơi nào cũng là nơi yên ổn giúp chúng ta thành tựu đạo nghiệp.

1. Gian khổ là chỗ ở không an

Trong bùn lầy nước đọng mà hoa sen vẫn tặng cho đời hương thơm tinh khiết. Người tu hành cũng vậy, gặp nơi sinh hoạt gian khổ mà vẫn kiên tâm bền chí để vượt qua những chướng ngại thì mới có được hương thơm giải thoát.

Bồ-tát Thiện Huệ (tiền thân của Đức Phật Thích Ca) giáng sinh nơi cõi Ta-bà, ở trong đời ngũ trược mà thành tựu đạo Bồ-đề. Bồ-tát Địa Tạng đã vào tận địa ngục để hóa độ chúng sinh, quý ngài lấy sự gian khổ làm an vui. Là những hành giả tu học, chúng ta phải có ý chí, lấy nước mát từ bi dập tắt lửa tham sân phiền não để vượt qua những khó khăn, tìm đến những nơi nóng như lửa, vào những chỗ lạnh như băng, với năng lực phục vụ tuyệt vời đó, có thể cho ta thấu được chân lý nhiệm mầu.

Thuở xưa, Tôn giả Phú Lâu Na là một trong mười đệ tử ưu tú của Đức Phật, có lần ngài xin Phật cho đến quốc gia Thâu Lô Na ở miền tây Ấn Độ.

Phật dạy:

– Ông không nên đến đó, bởi vì người dân xứ này rất hung ác thô bạo. Giả như họ chửi ông thì sao?
– Thưa Thế Tôn, miễn họ đừng đánh con là tốt rồi.
– Nếu họ đánh ông thì sao?
– Thưa Thế Tôn, họ đánh con chứ chưa giết chết con.
– Nếu họ giết chết ông thì sao?
– Thưa Thế Tôn, việc ấy cũng tốt, vì họ đã giúp con trả được nghiệp, xả bỏ báo thân mà tự tại giải thoát. Và như vậy là con đã làm tròn tâm nguyện tu hành.

Tôn giả Phú Lâu Na, thật chẳng hiềm gian khổ, dốc lòng phụng sự đạo pháp và giáo hóa chúng sinh.

Được biết trong Cao Tăng Truyện Ký, chư tôn đức ngày xưa, đều vì việc cầu pháp, truyền pháp mà gian lao khổ nhọc. Như ngài Huyền Trang, ngài Pháp Hiển vì muốn tham học giáo lý của Đức Phật mà phải bôn ba gian khổ đi về phương tây để thỉnh kinh; như ngài Giám Chân vì muốn rộng truyền giới pháp cho đất nước Phù Tang, mặc cho đôi mắt đã mù lòa, tuổi già chồng chất mà vẫn kiên trì vượt biển đến Nhật Bản để tuyên giảng luật; ngài Chân Đế vì việc dịch kinh, hoằng pháp mà phải lưu vong phiêu bạt hơn hai mươi năm nơi đất khách quê người; ngài Từ Minh Sở Viên trong lúc tọa thiền, vì điều phục vọng tâm và hôn trầm, ngài đã dùng dùi sắt đâm vào đùi đến ứa cả máu. Tất cả đều là những gương tu học xưa nay được lưu truyền trong chốn tòng lâm. Thế nên, người xuất gia học đạo thời nay, đừng nên cầu sự an vui mà hãy thuận theo những khó khăn, gian khổ để tùy duyên mà phát triển việc tu học của mình, cố gắng rèn luyện ý chí sao cho vững mạnh, hoa mai có nở rộ là nhờ cái giá rét của mùa đông.

Cho nên Thiền sư Hoàng Bá đã nói:

Bất kinh nhất phiên hàn triệt cốt,
Chẩm đắc mai hoa phác tỵ hương.

Dịch:

Nếu chẳng một phen xương lạnh buốt,
Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương.

2. Tha hương là chỗ không an

Tha hương cầu đạo là việc hay làm của người xuất gia, nên có khi nơi đất khách quê người, trong sinh hoạt phải trải qua biết bao thử thách về ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán, toàn là những việc khó khăn. Người xuất gia là ra khỏi nhà thế tục, lúc này lấy quần chúng làm nhà, lấy việc hoằng pháp làm lợi ích cho chúng sinh, lấy tinh tấn cầu đạo làm nơi trú ngụ, nên nói “xứ xứ vô gia, xứ xứ gia” (Chốn chốn không nhà thảy là nhà). Vì vậy, người tu không có quan niệm về địa phương nơi chốn.

Thời Đông Hán có hai vị dịch giả Nhiếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan, các ngài từ miền trung Ấn Độ lặn lội đến Trung Quốc để dịch kinh, hoằng pháp; Nhật Bản có ngài Tối Trừng; ở Hàn Quốc có ngài Nghĩa Tương đã vượt hàng ngàn cây số để đến Trung Nguyên, mong sao có cơ hội học tập giáo pháp Đại thừa; và vùng đất Tứ Xuyên với núi rừng hùng vĩ đã sinh ra Mã Tổ Đạo Nhất; đất Quảng Đông lại có ngài Thạch Đầu Hy Thiên. Quý ngài xuất gia học đạo, mang hoài bão tiếp nối dòng thiền của Lục Tổ Huệ Năng, làm phát triển từ Giang Tây đến Hồ Nam… Các bậc Tổ sư vì cầu pháp, độ sinh mà chẳng hề gian lao nơi đất khách quê người, đây là những tấm gương tiêu biểu cho thế hệ mai sau học tập. Thời cận đại ở Nhật Bản có ngài Linh Mộc Đại Chuyết, đã đem pháp thiền của Phật giáo truyền bá đến các nước phương tây.

3. Chốn binh đao là chỗ không an

Chốn trận mạc, là nơi có muôn ngàn nguy hiểm, mạng sống con người thật mong manh. Cho nên những vùng đất có chiến tranh chính là nơi không bao giờ an ổn, nhưng người xuất gia vẫn không ngại tìm đến nơi để cứu giúp và hóa độ chúng sinh.

Thiền sư Ẩn Phong ở triều đại nhà Đường, có lần trên đường du hóa, ngài bỗng trông thấy hai đoàn binh mã chuẩn bị đánh nhau, liền vội vàng đến để khuyên giải, thế nhưng hai bên đều không để ý. Ngay khi đó Thiền sư liền cầm tích trượng ném lên không trung, rồi dùng thần thông biến hóa thành những hình ảnh kỳ lạ, ngăn trở cuộc chiến tranh.

Thời Nam Bắc triều, loạn lạc liên tục xảy ra. Lúc đó có Thạch Hổ, Thạch Lặc hùng cứ một nơi. Vì tính chất hung tàn, chúng đã giết hại rất nhiều thường dân vô tội. Lúc bấy giờ ở Tây Vực có một vị cao tăng tên là Phật Đồ Trừng, vì muốn cứu khổ cho bá tánh lê dân, ngài vào tận trong doanh trại dùng Phật pháp mà cảm hóa hai con ma vương và binh sĩ của chúng, dần dần chúng giảm bớt tính chất hung tàn giết hại.

Người xuất gia, dù gặp hoàn cảnh như thế nào cũng không chùn bước, ở nơi có yêu cầu về Phật pháp dẫu cho địa phương ấy còn nhiều bất an, ta vẫn đến để hoằng pháp làm lợi ích cho chúng sinh, giúp họ hiểu biết đạo lý tu hành, dừng lại việc giết chóc điêu linh.

4. Nơi ở bận rộn là chỗ không an

Những bận rộn, náo động làm cho chúng ta không an. Có người xuất gia rồi lại sợ những nơi bận rộn, ồn náo. Phải chăng chúng ta xuất gia để hưởng sự an nhàn? Còn việc phục vụ chúng sinh thì sao? Đức Phật đã thuyết pháp bốn mươi chín năm, giảng kinh hơn ba trăm hội, mà chưa từng ngơi nghỉ. Cho nên việc rèn luyện ý chí khổ hạnh cũng rất quan trọng. Nếu có ai bảo ở trong an vui thanh nhàn mà có thể thành đạo, thì đây là điều không hợp lý. Vì vậy hãy xem bận rộn là nơi an trụ.

Phật tử Phật Quang Sơn, không ít người đã từng nói:

– Ở Phật Quang Sơn nhiều việc bận rộn lắm!
Bận rộn chẳng tốt lắm sao?

Tham gia xây dựng chùa chiền là một Phật sự lớn lao; tham gia những hoạt động về hoằng pháp là một điều rất vinh dự, những việc làm này, đều có ý nghĩa riêng của nó. Anh nhàn rỗi, chừng mười năm sau cũng phải vào quan tài, cớ sao lúc ta còn khỏe mạnh, lại không làm một chút gì? Người ta thường hay làm cho mình bận bịu.

Ngày tháng dần trôi, ta suốt ngày chỉ lo phát triển vật chất trong đời sống, mà quên bẵng đi việc làm chính yếu của mình là thành tựu đạo nghiệp. Phật pháp ngày nay, không những đoàn kết hòa hợp, mà còn khởi xướng bận rộn. Tất cả việc làm bận rộn đó, đều mong ước sao cho Phật giáo luôn phát triển ở tương la

Đại Sư Tinh Vân – Chí Hải dịch

Advertisements

About Kinh Tâm

Từng bước hoa sen nở
Bài này đã được đăng trong Thông tin và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s