Hồn nhiên xứ Chămpa & Đất Phật Huyền Bí

Những ngày này, Vientiane (Viên Chăn) đang tưng bừng kỷ niệm 450 năm ngày thành lập và 35 năm Quốc khánh đất nước (2-12). Có mặt tại đây, chúng tôi nhận ra một Viên Chăn thuần khiết, thanh bình…

450 năm “thành phố Trăng”

6 giờ sáng, người dân Lào cúng dường thực phẩm
cho các nhà sư khất thực

Trong sử thi Lào có ghi rằng, năm 1560 Vientiane đã trở thành thủ đô của nước Triệu voi xưa và nước Lào ngày nay. Vientiane theo tiếng Lào nghĩa là “Thành phố Trăng”, gây ấn tượng với du khách ngay từ cửa ngõ với chiếc cổng chào tựa Khải hoàn môn của Paris.

Đây là Tượng đài Chiến thắng của Lào được xây từ cuối những năm 50 thế kỷ trước và giờ cũng lấy tên Khải hoàn môn, nhìn xa có mang dáng dấp kiến trúc Pháp, nhưng lại gần dễ dàng nhận ra những tấm phù điêu, hoa văn đậm chất Lào, nằm giữa quần thể công viên Patuxay đẹp lộng lẫy. Đứng trên toà tháp cao 7 tầng này, toàn cảnh thành Vientiane hiện ra khoáng đạt, thanh bình.

Vientiane có rất nhiều ngôi chùa đẹp, cổ kính. Chỉ đi vài cây số, thậm chí vài trăm mét là gặp những ngôi chùa nằm xen giữa các dãy phố. Chùa That Luang (Thạt Luông) – biểu tượng của quốc gia Lào, với ngọn bút quyền uy, linh thiêng vươn lên trời vàng rực trong nắng, phảng phất trong gió mùi hoa chămpa dịu nhẹ.

Chămpa là quốc hoa của Lào, nên Lào còn được gọi là đất nước hoa chămpa. Có lẽ thế mà hoa chămpa (hoa đại ở VN) ở đây nở rất to và trắng muốt, hơn hẳn trồng ở xứ mình, và mùi hương cũng nồng nàn hơn thì phải! Nằm cách đó không xa là chùa Vat Visaket – ngôi chùa cổ nhất ở Vientiane được xây dựng từ năm 1818, với hàng ngàn mẫu tượng Phật đậm nét nghệ thuật điêu khắc Lào được lưu giữ, khiến ta như bị mê hoặc…

Ra ngoại ô khoảng 25km là khu Vườn Phật (Xiengkuane). Tại đây có hàng trăm bức tượng, hầu hết làm bằng chất liệu xi măng, với nhiều tư thế, thần thái khác nhau, giống như những vị thần Shiva, Sita, Vinus trong sử thi Phật giáo, Hindu giáo…, tạo nên sự huyền hoặc, kỳ bí.

Dọc con đường huyết mạch Si Mương – Samsenthay vào trung tâm, phố xá thoáng đãng, sạch sẽ, các phương tiện đi lại êm ả, chẳng thấy cảnh chen lấn, vượt ẩu, còi xe inh ỏi hay khói bụi mù mịt như ở Hà Nội. Tất cả cứ theo đèn tín hiệu giao thông mà đi, mà dừng. Thi thoảng mới thấy bóng dáng một cảnh sát giao thông đứng nhàn tản bên đường. Xe máy, xe đạp ở Vientiane rất ít, phương tiện chủ yếu là ô tô, mà toàn xe “xịn”. Ô tô ở đây rẻ lắm, giá chỉ bằng 1/3 so với ở Việt Nam.

Những ngày ở Vientiane, món ăn Lào luôn được tôi lựa chọn. Xôi Lào ngon và mềm dẻo chẳng hề dính, cũng chấm với muối vừng giống như nếp nương ta nhưng ăn không thấy ngán. Đặc biệt có món giống như bò xào lăn của ta, ăn ngon và rất lạ miệng.

Đó là món “lạp” – món tượng trưng của người Lào, dùng cho các lễ hội hoặc trong các bữa tiệc trọng thị. Người ta bảo thịt bò ở Lào ngon chẳng kém bò Kobe của Nhật, vì chúng được nuôi để thịt chứ không phải để cày kéo, nên thịt mềm, ngọt và rất thơm.

Hồn nhiên như người Lào

Ở Lào, nhiều công chức đi làm bằng xe ô tô, dù lương chỉ khoảng trên dưới 1 triệu kíp/tháng (khoảng 2 – 2,5 triệu đồng VN). Có nhà cả vợ chồng, con cái có đến 2 – 3 chiếc.

Với tâm hồn hướng Phật, người dân Vientiane sống hiền hoà, nhàn tản, chẳng ham làm giàu. Gặp một doanh nhân Việt đang xây dựng một nhà hàng ăn ở Vientiane, anh kể rằng, có lần vì muốn cho công việc hoàn tất nhanh, nên đã đề nghị một số công nhân làm thêm một giờ sau giờ hành chính với mức lương bằng nửa ngày thường, nhưng tất cả đều lắc đầu, bởi với họ “làm việc kiếm tiền là việc cả đời, không gì phải vội”.

Ngược lại, họ sống hồn nhiên, thích hòa mình vào thiên nhiên. Vào những ngày lễ Tết, ngày nghỉ, dọc các con sông Mekong, Namngum, Namsong tấp nập thuyền du lịch, ngược xuôi đưa khách đi du ngoạn, trên khoang đầy ắp tiếng hát, tiếng cười…

Các gia đình Lào nhìn chung đông con vì họ đất rộng người thưa nên không phải thực hiện kế hoạch hoá như ta. Ở Lào vẫn theo chế độ mẫu hệ, nghĩa là con gái được tôn trọng nhất, nếu chẳng may có ông nào đánh chị em, chính quyền liền can thiệp bắt nhốt qua đêm…

Đối với người Lào, buổi tối là lúc người ta thư giãn, xả hơi sau một ngày làm việc. Vậy nên các buổi tối ở Lào, không chỉ ngày cuối tuần hay lễ Tết, các hoạt động văn hoá vẫn diễn ra vui nhộn, êm đềm trên các phố, ở trung tâm văn hoá hay trong mỗi gia đình.

Khải hoàn môn, một biểu tượng của đất nước Lào

Hoàng hôn buông xuống, đường phố Vientiane càng trở nên bình lặng, lóng lánh ánh vàng từ những ngọn đèn đường và màu vàng của những ngôi chùa hắt ra. Đâu đó những bản nhạc nước ngoài, nhạc Lào vẳng ra từ các vũ trường và các hàng quán bên đường.

Một lớp người trẻ Vientiane giờ đây đã hình thành thói quen đến vũ trường giải trí sau một ngày làm việc, một nét văn hoá lành mạnh. Họ đến vũ trường như thường đến các quán cafe, uống bia Lào. Ở một quán ven đường, có mấy đôi đang nhảy, dù là nhạc Tây sôi động họ cũng chỉ nhún chân, lắc vai nhẹ nhàng, và khi chuyển sang bản nhạc Lào với điệu Lăm vông thì tất cả cùng hoà vào say mê, uyển chuyển…

Nói đến con người Vientiane, không thể không nhắc đến cộng đồng người Việt sinh sống nơi đây. Chiếm 1/3 dân số thành phố, người Việt chủ yếu kinh doanh buôn bán. Đến chợ Sáng, một trung tâm thương mại sầm uất của Vientiane, có đến gần một nửa quầy hàng là của người Việt Nam.

Có rất nhiều đại gia đình Việt đã di cư sang Vientiane từ nhiều đời. Nhiều người đã lấy tên Lào, nên trong họ cũng thấm đẫm những tính cách Lào hiền hoà, đôn hậu, song vẫn giữ được đức tính Việt chăm chỉ, cần cù. Vì vậy họ đều có cuộc sống khá giả ung dung.

Đất nước Lào chưa giàu, nhưng điều làm chúng tôi thật sự cảm phục là những giá trị truyền thống riêng mà dân tộc này gìn giữ và trụ vững được trong một thời cuộc rất dễ bị phôi phai…

Mít tinh kỷ niệm 35 năm Quốc khánh CHDCND Lào

Ngày 30-11, tại Đà Nẵng, Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị thành phố đã tổ chức mít tinh kỷ niệm 35 năm Quốc khánh nước CHDCND Lào (2-12-1975/2-12-2010). Ông Văn Hữu Chiến – Phó Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng khẳng định, sự phát triển của mối quan hệ hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt-Lào không chỉ được khẳng định ở cấp quốc gia mà còn được khẳng định ở cả cấp địa phương trong cả nước, thể hiện sự gắn kết đầy ý nghĩa thông qua các hoạt động giao lưu văn hóa-nghệ thuật-thể dục thể thao, kết nghĩa…

* Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã phê chuẩn việc cung cấp 95 triệu USD để giúp Lào và Việt Nam nâng cấp hệ thống đường bộ thuộc hành lang giao thông khu vực Đông bắc, đem lại những lợi ích về trao đổi thương mại và giảm nghèo cho cả hai nước cũng như khu vực Mekong. Dự án sẽ nâng cấp 340km đường giao thông bắt đầu từ Thanh Hóa ở miền Bắc Việt Nam, qua Lào, tới Bangkok, Thái Lan.

Thanh Xuân – Hồng Hà (Dân Việt

Thái Lan: ĐĐ. Thích Nhật Từ nhận bằng tiến sĩ danh dự Đại học Mahamakut

(GNO-Thái Lan): Nhân lễ tốt nghiệp hằng năm, vào ngày 28-11-2010, Trường Đại học Mahamakut, một trong 2 trường đại học công Phật giáo ở Thái Lan, đã trao tặng bằng tiến sĩ danh dự (Doctorate Degree honoris causa) cho 21 học giả và những người đóng góp lớn cho Phật giáo thế giới và Phật giáo Thái Lan.

Trường Đại học Mahamakut được vua Rama V (tức vua Chulalongkorn nhằm tưởng niệm vua Rama IV hay vua Mongkut) thành lập vào ngày 1-10-1893 và chính thức trở thành đại học công lập vào năm 1997.

Hiện Đại học Mahamakut có bốn khoa: Tôn giáo và Triết học, Nhân văn, Khoa học xã hội và Giáo dục. Chương trình đào tạo thạc sĩ của trường được chính thức công nhận từ năm 1987 và chương trình tiến sĩ Phật học từ năm 2005.

Trường Đại học Mahamakut hiện có 7 cơ sở và 21 trung tâm trực thuộc với trên 15.000 sinh viên gồm nhiều thành phần ghi danh theo học mỗi năm. Cơ sở chính của Đại học Mahamakut tọa lạc tại huyện Salaya, tỉnh Nakhonpathom, cách phi trường quốc tế khoảng 100km.

Về người nước ngoài, Đại đức Thích Nhật Từ là người thứ 4 nhận bằng tiến sĩ Phật học danh dự tại trường này trong suốt thời gian qua. Đối với Phật giáo Việt Nam, Đại đức Thích Nhật Từ là người thứ sáu nhận bằng tiến sĩ danh dự từ Thái Lan và là người đầu tiên nhận bằng tiến sĩ danh dự từ Trường Mahamakut.

Năm vị lãnh đạo Giáo hội nhận bằng tiến sĩ danh dự tại Trường đại học Mahachulalongkorn gồm có: HT.TS. Thích Minh Châu (1997), HT.TS. Thích Trí Quảng (2008), HT. Thích Thiện Nhơn (2009), HT.Thích Giác Toàn và GS. Lê Mạnh Thát (2010).

Với công tác  hoằng pháp, giáo dục, từ thiện và Phật sự quốc tế, Đại đức Thích Nhật Từ đã được Hội đồng Đại học Mahamakut biểu quyết trao tặng bằng tiến sĩ Phật học danh dự trong phiên họp ngày 12-11-2010 và được Đại lão Hoà thượng Maharajamangalacharya, Phó Tăng vương quyền Hội đồng Tăng vương Phật giáo Thái Lan, chính thức trao tặng vào lúc 14h00 ngày 28-11-2010.

Tham dự lễ tốt nghiệp có 5.410 sinh viên thuộc các cấp học cử nhân, cao học, tiến sĩ và hàng ngàn Phật tử khắp nơi trên đất nước Thái Lan trở về chúc mừng người thân trong ngày quan trọng này.

Tin, ảnh : Phước Huệ – Trọng Đức

Du ngoạn đất nước mặt trời mọc

01/12/2010 14:25 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng

Dù là một trong những nước hiện đại, phát triển nhất thế giới nhưng nét đẹp về cảnh quan thiên nhiên và văn hóa truyền thống vẫn không hề phai mờ tại Nhật Bản. Ảnh trên Geographic

Cao hơn 3.700m, Phú Sĩ là ngọn núi cao nhất đất nước hoa anh đào và trở thành biểu tượng của nơi đây. Ngọn núi có đỉnh phủ tuyết trắng này là một điểm sáng bên hồ Yamanaka. Vào một ngày trong xanh, bạn có thể đứng trên những tòa cao ốc ở thủ đô Tokyo, cách ngọn núi hơn 100 km, mà vẫn nhìn thấy đỉnh núi này.
Được UNESCO công nhận là một trong những di sản của thế giới vào năm 1993, Himeji-Jo hay còn có tên là Lâu đài hạc trắng là một trong những nguyên mẫu điển hình còn lại của kiến trúc Nhật Bản thời cận đại.
Cổng Torii tại Miyajima rọi bóng xuống mặt nước trong ánh hoàng hôn. Cổng Torii thường được người Nhật dựng trước các đền thờ như một phong tục lâu đời. Đây là chiếc cổng Torii nổi tiếng được xây dựng vào năm 1875, có chiều cao 16m và là cổng lớn nhất Nhật Bản.
Ở Nhật cũng có những mẫu ruộng giống như ruộng bậc thang ở Việt Nam. Hình ảnh ruộng lúa ngập nước với những đốm lửa lấp lánh. Lúa đã được trồng ở đất nước này cách đây từ hơn 2.000 năm trước và gạo trở thành món ăn quan trọng trong bữa ăn của người Nhật.
Thủ đô Tokyo đông đúc và sôi động.
Chợ cá buổi sớm.
Những con ngõ nhỏ với lồng đèn đỏ thắp sáng lung linh.
Đấu võ của các sumo có truyền thống từ 1.500 năm trước này đã trở thành hoạt động thể thao đặc biệt tại Nhật Bản mà không đất nước nào có.
Lễ hội đèn lồng với những chiếc đèn nhiều hình thù, kích cỡ.
Bánh gạo là loại bánh truyền thống được người Nhật làm để biếu người thân, trong dịp lễ Tết. Bánh gạo được làm từ bột, gạo nếp và nhân thường là đậu ngọt.
Ngôi nhà gỗ đặc trưng phong cách kiến trúc Nhật.
Thuỷ cung Churaumi ở Okinawa, ở phía Nam Nhật Bản.
Nhật Bản nổi tiếng với nghệ thuật bonsai, đó không chỉ là việc chăm sóc, tạo hình cây cảnh mà nó đã trở thành hoạt động tinh thần.
Rừng trúc xanh mướt ở công viên Arashiyama, phía tây cố đô Kyoto.

Linh Phạm (Ngôi Sao

Ngắm tượng Phật 3D ở Nhật Bản
image

Một ngôi chùa ở Tokyo đang trưng bày những tác phẩm điêu khắc lịch sử dưới dạng 3D trong những chiếc iPad nhằm tạo ra một sự trân trọng của thế kỷ 21 đối với những đồ tạo tác.

Dự án này đã được đưa ra ở Byodoin, một trong những ngôi chùa cổ nhất Nhật bản có niên đại gần 1.000 năm và được UNESCO coi là một di sản thế giới.

5 chiếc iPad đã được lắp đặt thể hiện những tác phẩm nghệ thuật dưới dạng 3D.

Đây là một phần trong bộ sưu tập 52 bức tượng gỗ ra đời năm 1053 và đã được chính phủ Nhật bản tuyên bố là báu vật quốc gia.

Người ta đã dùng một máy quét laser để chụp những hình ảnh của 5 tác phẩm nghệ thuật cổ từ các phía, giúp người xem có thể trân trọng được sự tinh tế của việc tạo hình từ mọi góc độ.

Theo: Telegraph
Kích cỡ chữ

Cập nhật lúc 21:20 Chủ nhật 21/11/2010 – Đăng bởi: Minh Thông

In Gửi mail

Tây Tạng: Cung điện Potala (Bố Đạt La cung)

Trái tim Lhasa – cung điện Potala – hành cung uy nghi nhất, đẹp nhất, ý nghĩa nhất trong mọi chuyến hành hương Tây Tạng. Nếu Jokhang Temple được coi là điểm đến tâm linh Phật giáo thì Bố Đạt La cung có thể coi là viện bảo tàng sống động nhất cho văn hoá Tây Tạng và là biểu tượng quyền lực gắn liền với các đời Tạng Vương và Đạt Lai Lạt Ma. Nhìn trên bản đồ, thủ đô Lhasa gần như được phân thành 2 khu rõ rệt: khu phía Tây tập trung người Hán và khu phía Đông tập trung người Tạng. Tuyến phố lớn Beijing Donglu nối liền 2 khu vực này, chính giữa 2 khu là quảng trường Potala cực rộng và cung điện Potala sừng sững trên ngọn Hồng Đồi tại trung tâm.

Về mặt lịch sử, Potala Palace hay Bố Đạt La cung được khởi công từ thời vua Songtsen Gampo nhưng lúc đó mới ở dạng hành cung nhỏ. Đến đời Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 Losang Gyatso thì Potala mới chính thực được chọn làm cung điện của Hoàng Mạo Giáo và nơi đây được kiến thiết lại với quy mô cực lớn, xây cất trong suốt 50 năm mới hoàn thành, tính đến nay đã hơn 6 thế kỷ mà không bị biến động thiên tạo hay nhân tạo nào làm hư hại. Sau này, cùng với sự ra đời của cung điện mùa hè Norbulingka, nơi đây chính thức trở thành cung điện mùa đông của các đời Lạt Ma.

Về mặt kiến trúc, Potala toạ lạc trên đỉnh Hồng Đồi (Red Hill hay Marpori) cao 91 m so với mặt bằng thành phố – ngọn đồi được tin là tượng trưng cho Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokiteshvara); là 1 trong 3 ngọn đồi thiêng của thủ đô Lhasa: hai ngọn đồi còn lại là: đồi Chokpori tượng trưng cho Kim Cương Thủ Bồ Tát (Vajrapani), và đồi Pongwari tượng trưng cho Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (Manjushri).

Nhìn vào chính giữa cung Potala là Hồng Cung (Red Palace), tường đắp màu son đỏ mà theo văn hoá người Tạng đó là biểu trưng quyền lực. Trên nóc của Hồng Cung là nơi lưu giữ thi hài của các Đạt Lai Lạt Ma.

Bên phải Hồng Cung là Bạch Cung (White Palace) có tường đá trát đất sét trắng, được người Tạng coi là biểu tượng của hoà bình, cũng là nơi sinh hoạt của các Lạt Ma khi còn tại vị. Kiến trúc lưỡng tông Hồng-Bạch này còn áp dụng cho tất cả các cung điện lớn nhỏ khác xây trong Tây Tạng:

Nhìn sang 2 bên ở chánh Tây và chánh Đông là các vọng gác; cánh trái trên hình là Namgyal Dratsang – nơi sinh hoạt của Tăng ni:

Tổng thể cung điện Potala cao 117m, từ Đông sang Tây có chiều dài 360m, chiều rộng theo trục Bắc-Nam đo được 270m; diện tích hơn 360km2 bao gồm 13 tầng, bên trong chia thành hơn 1000 phòng nhỏ với gần chục ngàn Phật điện; vật liệu xây dựng cung là gỗ, đá, và bùn; độ cao trung bình so với mặt nước biển là 3600m, là cung điện xây dựng ở độ cao ấn tượng nhất thế giới. Phải nói rằng đó là một kỳ quan tôn giáo không chỉ riêng trong Lhasa mà của toàn nhân loại!

Lộ trình khám phá cung điện Potala cho mọi du khách: xuất phát từ cửa vào phía Đông bên phải, leo các bậc đá đi lên, du khách sẽ đến được Bạch Cung. Sau khi thăm hết Bạch Cung sẽ theo đường liên thông (trên nóc toà nhà có màu vàng nằm giữa 2 cung) để đi sang mái của Hồng Cung. Thăm Hồng Cung từ tầng cao nhất xuống dưới rồi ra ở cửa sau Hồng Cung, từ đó men theo con đường kora phía Tây để đi ra khỏi Potala. Chú ý: vọng gác và khu điện Namgyal Dratsang không mở cửa cho khách thăm quan; từ cửa vào Bạch Cung cho đến lúc ra cửa sau của Hồng Cung du khách sẽ không được chụp ảnh; các phòng điện nhạy cảm của Potala đều đóng cửa; trong mỗi khu điện thờ mở cửa và ở các hành lang đều gắn camera theo dõi chặt chẽ!

Trước đây phía ngoài Potala cung là hồ nước lớn, giờ đã bị lấp đi, xây thành quảng trường lớn. Con đường mới đang được trồng tỉa lại, chạy trước mặt cung điện:

Bỏ qua đường vào ở cổng chính, chúng tôi vào từ cổng chánh Tây của Potala … và như thế tôi đã đến đây … Sau lần đại trùng tu năm 1989-1994, chính phủ Trung Quốc chính thức đưa nơi đây vào khai thác du lịch. Trên tấm bia đá ghi: Cung điện Potala được Unesco đưa vào danh sách Di sản thế giới năm 1994.

Ở cổng này có bàn kiểm tra hộ chiếu khách du lịch, nếu bạn mang hộ chiếu Việt Nam thì thủ tục kiểm tra nhanh chóng đến bất ngờ sau đó là khu vực máy scan an ninh – mọi thứ chất lỏng dạng chai lọ cỡ vừa và lớn cùng với đồ dao kéo, đồ bắt cháy … đều phải bỏ lại. Sau cửa này du khách mới thực sự đặt chân vào quần thể cung Potala, hình ảnh chánh Tây của cung – khu vực này không mở cửa cho khách vào thăm:

Con đường từ của phía Tây hợp lưu với đường vào từ cổng chính đi đến trạm soát vé thứ hai:

Từ đây ngước nhìn lên, cung Potala cao vời vợi … chỉ vài trăm bậc đá nữa là tới được cửa vào Bạch Cung; mới nghe tưởng dễ dàng nhưng có leo từng bậc Potala mới thấy cái khắc nghiệt của thời tiết Lhasa; trong điều kiện không khí loãng bằng 68% mức thông thường, ở độ cao hơn 3600m, du khách ai cũng thở khò khè trong gió khan và nắng cháy, lại không được quên chụp ảnh xung quanh…

Con đường trắng tưởng như vô tận sẽ kết thúc ở cửa lớn dẫn vào khu vực tiền sảnh Bạch Cung. Lên đến đây, ai cũng phải dừng lại thở lấy sức, đồng thời đợi các đoàn đi trước vào hết bên trong để khỏi chen chúc:

Từ đây đã có cái nhìn bao quát hơn về quảng trường phía trước Potala:

Tiền sảnh Bạch Cung:

Cổng lớn ở tiền sảnh Bạch Cung trang trí gỗ mun đỏ thắm buộc vải ngũ sắc, phía trên cánh cổng khổng lồ là phù điêu 7 con sư tử trắng với dòng chữ: Cánh cổng dẫn đến sự phồn vinh (The gate of storing prosperity). Nếu được vào cửa chính Hồng Cung, du khách sẽ gặp cổng lớn khác cũng bằng gỗ đỏ nhưng buộc lụa trắng, phía trên là dòng chữ: Con đường dẫn đến sự giác ngộ tâm thức hoàn toàn (The path to perfect spiritual enlightenment). Tuy nhiên cổng chính Hồng Cung thì hiếm ai được ngắm, lý do vì lộ trình đi thăm Potala xuất phát từ Bạch Cung rồi đi thông vào Hồng Cung từ trên nóc, đến lúc xuống thì ra bằng cửa hậu nên không qua cửa chính. (Tham khảo từ sách The Potala do Unesco xuất bản).

Hai bên cổng là mural của Tứ Đại Thiên Vương (Four Guardian Kings), được xem là tứ tướng hộ pháp của Đại thừa Mật tông. Vị mặt vàng là Bắc Vương Đa Văn Thiên tay cầm lọng, vị mặt đỏ là Tây Vương Quảng Mục Thiên tay cầm stupa, vị mặt xanh là Nam Vương Tăng Trưởng Thiên tay cầm kiếm, và vị mặt trắng là Đông Vương Trì Quốc Thiên tay cầm đàn. Những bức hoạ hình này là những mural lớn nhất, đẹp nhất, và chi tiết nhất về bốn Thiên Vương có thể nhìn thấy trong Tây Tạng:

Trong truyện Phong thần của Hứa Trọng Lâm có tích Ma Giai Tứ Tướng với câu chuyện bốn anh em họ Ma (Ma Lễ Thanh, Ma Lễ Hải, Ma Lễ Hồng, và Ma Lễ Thọ) phò Trụ Vương Ân Thọ đánh Tây Kỳ có nét tương đồng với tứ đại thiên vương. Tuy nhiên khắc hoạ của Ma Giai Tứ Tướng mang phong cách của Đạo giáo chứ không phải Phật giáo, xét về niên đại cũng ra đời trước rất lâu – khi đó nhắm vào cuối thời Ân Thương trước công nguyên và nhà Chu dựng cơ nghiệp đất Thần Châu; còn Phật giáo phải đến thời Đường sau công nguyên mới trực tiếp ảnh hưởng vào Tây Tạng. Các bức tranh tường của bốn vị Hộ pháp ở cung Potala thể hiện thuần tuý quan niệm của người Tạng chứ không hề có sự lai tạp nào.

Tiếp tục đi qua các dãy hàng lang ngắn, du khách sẽ đến được sân trong của Bạch Cung (tiếng Tạng gọi là Deyangshar) vốn là nơi tổ chức các hoạt động lễ hội Phật giáo; bên phải sân là khu nhà 2 tầng màu vàng là nơi sinh sống của Tăng ni, bên trái là phòng tu học của Tăng ni, còn ở giữa là chính điện Bạch Cung:

Bạch Cung nhô cao kỳ vĩ giữa nền trời xanh thẳm, tuy chỉ có 5 tầng lầu nhưng kiến trúc Bạch Cung tiêu biểu cho lối xây thượng thu hạ thách độc đáo mang màu sắc Tây Tạng, những tường xây bằng đá phiến trát đất sét trắng nghiêng vào bên trong chứ không thẳng đứng, mỗi tầng lầu là các cửa sổ lớn và ban công phủ vải bạt đen, trên mái vòm vuông vức sử dụng màu đỏ và màu vàng để trang trí. Tổng hoà 3 màu sắc trắng, đỏ, vàng tượng trưng cho hoà bình, quyền lực, và sự viên mãn. Chỉ tiếc từ cánh cổng này trở vào trong cho đến khi ra cửa sau của Hồng Cung đều cấm chụp ảnh, người viết chỉ chụp lén được vài tấm khi đi thăm quan bên trong và ở đoạn mái nối liền 2 cung:

Các đoàn khách đi lướt qua các gian điện thờ, ngắm nhìn các pho tượng và tranh tường trong chớp mắt, chưa kịp hiểu mình đang ở đâu thì đã bước tới cửa sau của Hồng Cung:

Ra đến ngoài cửa sau của Hồng Cung, khách du lịch ai cũng thấy hụt hẫng! Nội cung chiến thành vĩ đại của người Tạng đó sao? Cung điện mùa đông của Đạt Lai Lạt Ma chỉ là nhiêu đó? Có lẽ do chủ ý của Trung Quốc làm khách thăm quan không ai chiêm ngưỡng được vẻ đẹp quý báu thực sự của Potala: hàng người này đến hàng người khác xô đẩy luồn lách trong những hành lang nhỏ tối om om; giọng hướng dẫn viên oang oang vẳng vào từng góc nhỏ; những căn phòng đóng cửa, những ổ khoá im lìm, camera bí mật bố trí ở tất cả các cửa ra vào; ánh sáng vàng vọt le lói trên cao không đủ soi tỏ bệ thờ, những pho tượng nghìn tuổi được khoá sau những hàng rào gỗ cao quá đầu người, những tấm thangka và tranh tường khuất sau lưới sắt, những mandala 3D cất trong tủ kính mờ, những câu kinh Phạn-Tạng cuộn thành từng gói nằm phủ bụi trên kệ; những tấm biển chú thích sơ sài dưới chân những Stupa vàng ròng cực lớn … Người ta không cảm thấy được sự thâm nghiêm và cao quý của nơi đây, cái hồn xưa cũ của Potala dường như đi vắng!

Chúng tôi may mắn trong lúc sắp rời khỏi Hồng Cung đã kịp mua cuốn sách The Potala của Unesco, ấn bản 1993 giá 160RMB, dành riêng để giới thiệu về cung. Cuốn sách này không bán ở bất cứ đâu ngoài khu vực cung Potala! sau khi mua, cuốn sách được đóng một triện màu đỏ 3 thứ tiếng Anh-Tạng-Trung: A Souvenir of the Potala Palace. Sách dày 165 trang, tất cả đều in màu chụp lại toàn bộ các điểm nhấn kiến trúc của Potala, các điện thờ quan trọng của Hồng Cung và Bạch Cung, những Stupa chính cùng các pho tượng Phật quý giá cất bên trong cung, kiến trúc mái vòm kinh điển của cung … Đây là 1 tài liệu tham khảo cực kỳ quý giá để khách phương xa hiểu được những giá trị văn hoá và thấy hết vẻ đẹp mà cung Potala sở hữu. Xin được giới thiệu với bạn đọc một số hình ảnh chụp lại từ sách, những hình ảnh này hầu như chưa xuất hiện trên mạng, và kể cả có đi thăm Potala ngày nay chắc cũng khó lòng mà mục kích được:

– Bên trái là cổng tiền sảnh Bạch Cung, bên phải là cổng tiền sảnh Hồng Cung:

– Mái cung Potala toát lên sự oai nghiêm quyền lực:

– Ảnh là đỉnh mái vàng (Golden Dome) của Stupa lớn chứa thi hài Đạt Lai Lạt Ma thứ 13, xây năm 1936. Kiến trúc mái vòm Potala được trang trí đầu chim thần garuda, bên dưới mái là kết cấu ngàm đỡ nhiều tầng vô cùng chắc chắn, đảm bảo vòm chịu được chấn động và gió lớn:

\

– Ngoài tượng thân của 13 vị Đạt Lai Lạt Ma giữ bên trong cung, Potala còn có tượng vua Songtsen Gampo và các quan đại thần Thổ Phồn:

– Tượng Đức Phật Thích Ca (Shakyamuni) bằng vàng ròng tạc song song với tượng Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 Losang Gyatso bằng bạc từ thế kỷ 17:

– Tượng đồng của Phật A Di Đà (Amitabha hay Amitayus):

– Và tất nhiên không thể thiếu được tượng bạc của đại sư Tông Khách Ba (Tsongkhapa) là người sáng lập Hoàng Mạo Giáo (Gelugpa Sect) tạc từ thế kỷ 17:

– Bức tượng quan trọng nhất trong cung Potala: Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokitesvara) được mang vào Tây Tạng từ thế kỷ thứ 7:

– Stupa Tomb của Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 Thubtan Gyatso: cao 12.97m, rộng 7.83m, làm từ 18,870 lượng vàng ròng, bên trong có chứa cả di hài của Phật Thích Ca Mâu Ni. Đây chỉ là 1 trong hàng chục Stupa bằng vàng ròng được lưu giữ trong cung Potala:

– Trong 4 bậc của Stupa tượng trưng cho Tứ Diệu Đế (có dịp điểm qua với bạn đọc ở bài trước), người Tạng trang trí bằng kim cương, đá quý, hồng ngọc, lục ngọc; mỗi viên có kích thước lớn và đều là tài sản vô giá:

– Những Mandala 3D độc nhất vô nhị bằng đồng được đúc cách đây hàng trăm năm:

– Thangka cổ kể lại lễ hội năm 1695 sau khi cung Hồng Cung được xây dựng xong:

– Thangka cổ hoạ hình Đạt Lai Lạt Ma thứ 1 và thứ 3 – tác phẩm của trường phái Menthang:

– Thangka vẽ từ thời nhà Đường cũng thuộc trường phái Menthang:

– Hình tượng Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (Manjushri) qua bút pháp của trường phái Khen-tse từ thế kỷ 17:

– Các báu vật khác trong cung: giáo huấn của Phật viết bằng tiếng Phạn trên giấy cọ (palm tree leaves):

– Khèn làm bằng vàng của người Tạng để thổi báo hiệu giờ nghỉ khi tụng kinh:

– Những pho sách cổ nhất lưu giữ trong cung:

Hy vọng vài hình ảnh trên cho bạn đọc cái nhìn chính xác hơn về những báu vật liên thành đang được bảo quản bên trong bảo tàng văn hoá Potala.

Quay trở lại với bài viết, chúng tôi men theo con đường phía sau để đi xuống. Được biết con đường này vốn dành cho các nhà sư cưỡi ngựa lên Potala, riêng Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 còn lái xe ôtô lên xuống!

Khu vực công viên phía sau Potala nhìn từ trên cao:

Cánh cổng cuối cùng của quần thể cung Potala, ra khỏi đây, chúng tôi lại bắt đầu một cuộc đi dạo mới, đó là đi hết vòng Kora lớn theo tường bao ngoài dưới chân cung điện:

Con đường này đẹp tuyệt vời! hàng trăm chiếc kinh luân màu đồng óng ả in nổi câu kinh Om Mani Padme Hum xếp dọc theo tường, chốc chốc lại có người đi tra dầu bôi trơn cho từng chiếc, những đoàn người Tạng vừa đi vừa đẩy kinh luân xoay theo chiều kim đồng hồ giữa cái nắng trưa oi ả. Ở đây, người viết gặp nhiều người Tạng hơn cả, khác với bên trong cung điện Potala đa phần là khách thập phương:

Ba stupa lớn trong công viên phía sau cung Potala:

Con đường Kora kết thúc cũng là lúc du khách đến bến xe buýt trước cửa cung Potala.

Chắc phải lâu lắm nữa tôi mới có dịp đứng ngắm Potala như thế này. Chưa thấy ai viết tặng Potala mấy vần thơ, tôi xin mượn ý thơ trong Thăng Long thành hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan sẽ hợp tâm trạng hơn:

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường

Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương

Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo,

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương …

Chưa đến Potala thì chắc tôi không hình dung được bên cạnh dáng vẻ uy nghi hoành tráng, nơi đây đang trải qua những biến động ngầm, thách thức sự tồn vong của nền văn hoá cao nguyên lâu đời. Người Tạng thường làm ra những Mandala cát rất đẹp và công phu rồi lại quét bỏ đi như một cách biểu hiện tính vô thường của hiện hữu; phải chăng những gì họ tạo dựng được hàng nghìn năm qua đang phải đối mặt với một giai đoạn mới trầm luân hơn, như 1 quy luật của tạo hoá có thịnh có suy? Nói về Potala cung, vị đáo bình sinh hận bất tiêu (đi mà chưa đến cả đời hận khôn nguôi), nhưng liệu đắc đáo hoàn lai hận khả tiêu (đến rồi khi về có thực sẽ nguôi ngoai)?

Lê Minh Hưng

Advertisements

About Kinh Tâm

Từng bước hoa sen nở
Bài này đã được đăng trong Đất Phật và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s