DI SẢN TƯ LIỆU Nhìn về quá khứ

Ớn lạnh ở Phật viện Đồng Dương.

Hôm ấy, tôi tìm vào Phật viện Đồng Dương. Sử sách ghi rằng vị vua Indravarman II cho xây công trình này vào thế kỷ thứ 9 và là Phật viện nổi tiếng nhất Đông Nam Á. Năm 2001, Phật viện Đồng Dương được cấp bằng công nhận di tích cấp quốc gia. Giờ tìm vào được Phật viện, trong tôi chỉ còn cảm giác ớn lạnh… Những thanh gỗ chống đỡ cũng sắp mục. Ảnh: N.C. Gõ từ khóa Phật viện Đồng Dương vào trang tìm kiếm Google, chỉ trong vòng 0,29 giây đã cho tới 12,7 triệu kết quả – một số liệu khổng lồ cho bất kỳ ai tìm kiếm những bài viết, những chú giải về Phật viện đã từng làm say đắm nhiều giới nghiên cứu, khảo cổ hay văn nghệ sĩ. Trong số 12,7 triệu kết quả, tuyệt không có một dòng nào cho hay, Phật viện Đồng Dương hiện trạng bây giờ ra sao, hoặc có chăng cũng chỉ miêu tả sơ qua con đường mòn tới khu Tháp Sáng – dấu tích còn lại của Phật viện. Từ ngã ba Hà Lam – một thị trấn của huyện Thăng Bình (Quảng Nam), đi thêm 12km tới xã Bình Định Bắc, hỏi Phật viện Đồng Dương, ai cũng chỉ bảo tận tình. Có cả một anh nông dân tự nguyện bỏ cày, dẫn tôi tới con đường mòn vào khu rừng tràm, bạc hà um tùm. Đến cửa rừng, anh dừng lại, chỉ tay rồi giật lùi: Đó, Tháp Sáng ở trong. Anh vào cố tìm, thấy cái tháp màu đen đen được chống đỡ bởi mấy cái cây thì là nó đó. Tui không vào đâu. Vừa bước chân vào khu rừng tràm, trên con đường mòn giờ đã ngập nước bởi mấy ngày qua trời mưa liên tiếp, tôi ngay lập tức hối hận vì đã không kiếm thêm bạn đồng hành.

Khu rừng keo tràm, bạc hà nằm lọt thỏm giữa những khu dân cư, nhưng khi bước hẳn vào trong, một cảm giác ớn lạnh xộc vào tận tâm can. Đâu đó dây leo chi chít, cỏ tranh, cây cối che chắn lối đi. Thi thoảng từng cơn gió rít lên, nước trên lá cây rơi lộp bộp. Không hẳn sợ sệt những ngôi mộ lác đác đằng kia, mà bởi dù đã mất hơn 30 phút kiếm tìm giữa rừng, vẫn không tìm ra dấu tích của Phật viện Đồng Dương. Phải đến lần quay ra vào thứ ba, khi đã được anh nông dân xứ Đồng Dương tả cho con đường mòn, tôi mới vạch được cây cối, tìm ra Tháp Sáng – dấu tích còn lại của Phật viện. Phải vất vả vạch lá, đạp trên cơ man cỏ tranh củi mục, tôi mới thấy bóng dáng của Tháp Sáng. Một hình khối đang cố vươn đua tranh chiều cao với lũ tràm, bạc hà thất lễ cứ ngày ngày quây lấy thân, dồn ép tháp vào giữa. Thật ra, chẳng thể trách cứ vườn tràm, bạc hà, bởi ngay bản thân tháp cũng đang thương tích đầy mình, nhờ mấy cây gỗ được con người chống tạm, gắng gượng vượt qua bao nhiêu mưa bão, bao nhiêu biến cố trong đằng đẵng thời gian… Hỏi quanh quất nhiều người dân Đồng Dương, ai cũng biết đó là Tháp Sáng, ai cũng biết đó là một Phật viện lớn, là trung tâm kinh đô Indrapura huy hoàng thủa trước. Nhưng nhiều người không hề biết đó là di tích cấp quốc gia đã được phong năm 2001. Ông Trương Văn Việt – Chủ tịch UBND xã Bình Định Bắc thì nói, Phật viện Đồng Dương giờ chỉ còn phế tích thôi. Xã cố gắng gìn giữ những gì có thể bằng cách… chèo chống mấy cái cột, mà cũng cách đây 7 – 8 năm rồi, giờ đang lên mối mọt cả. Không biết khi nào thì đổ. Mấy cái cột đổ, là Tháp Sáng đổ, Phật viện Đồng Dương chắc chỉ còn trong dĩ vãng. Tượng voi ở sau khu nhà dân. Đây được cho là tượng thuộc Phật viện Đồng Dương thuở trước. Ảnh: T.V. Tư liệu ghi lại rằng, sau khi nhà nghiên cứu người Pháp, L.Finot, công bố kết quả nghiên cứu về Phật viện Đồng Dương vào năm 1901 và một năm sau đó , một nhà nghiên cứu người Pháp khác, H.Parmentier tiến hành khai quật qui mô lớn đã mở tung bức màn bí mật về một Phật học diện (Vihara) đã được cổ sử Trung Hoa, Đại Việt và Chămpa nhắc đến một cách trân trọng. Cuộc khai quật có qui mô lớn này đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu tìm về. Nhiều người đánh giá đây là một trong những di tích quan trọng nhất của Chămpa. Về tầm vóc quy mô của Phật viện, Finot, trong đề tài nghiên cứu của mình về di tích Đồng Dương, đã giới thiệu 229 hiện vật, nổi bật nhất là bức tượng Phật bằng đồng. Bức tượng Phật đứng này cao hơn 1m, được xem là hoàn hảo và đẹp loại nhất Đông Nam Á. Ông Trương Văn Việt – Chủ tịch UBND xã Bình Định Bắc thì nói, Phật viện Đồng Dương giờ chỉ còn phế tích. Xã cố gắng gìn giữ những gì có thể bằng cách… chèo chống mấy cái cột, mà cũng cách đây 7 – 8 năm rồi, giờ đang mối mọt cả. Không biết khi nào thì đổ. Mấy cái cột đổ, là Tháp Sáng đổ, Phật viện Đồng Dương chắc chỉ còn trong dĩ vãng. Tượng Phật đứng được phát hiện cho phép các nhà nghiên cứu liên tưởng đến sự giao thoa của trung tâm Amaravati của Ấn Độ hay trung tâm Phật giáo Amaradhapura thuộc nước Tích Lan (Srilanka) có niên đại khá sớm được du nhập vào Chămpa. Công trình khai quật khu trung tâm Phật viện Đồng Dương của Parmentier cho biết rõ nét hơn về mô hình kiến trúc của Phật viện. Sự hoành tráng của một quần thể kiến trúc điêu khắc như cho ta lạc vào một thế giới nghệ thuật cùng với thiên hướng tâm linh đã được đáng giá là độc đáo vào loại nhất trong văn hóa Chămpa và Đông Nam Á, một nguồn di sản Phật giáo hết sức quan trọng. Theo mô tả của Parmentier, toàn bộ khu vực kiến trúc kế tục dài xuyên suốt hơn 1.330m, bắt nguồn từ hướng tây và chấm dứt ở hướng đông. Riêng khu vực chánh điện thờ Phật lại là một vành đai hình chữ nhật dài 326m, rộng 155m cùng hệ thống tường bao bọc kiên cố. Từ chánh điện mở ra con đường rộng, dài hơn 763m, hướng thẳng vào phía Đông, dẫn tới một thung lũng hình chữ nhật có diện tích 1.080m2, Cụm kiến trúc bảo lưu được phần đài thờ chính khá nguyên vẹn cùng các bức tượng thờ bằng đá, đồng được phát hiện xung quanh. Sách xưa cũng chép rằng, Phật viện được vua Indravarman II sáng lập vào năm 875. Đây cũng là khu trung tâm của kinh đô Indrapura. Một dòng họ có truyền thống về Phật giáo khi chính thức lên nắm quyền đã khởi xướng phong trào phát triển các Phật viện, tu viện trong khắp vương quốc của mình, kể cả trung tâm Vijaya, Kauthara, Panduranga…. Khó liệt kê hết được sự vĩ đại vô chừng mà cả ngàn năm qua Phật viện Đồng Dương đã sừng sững tồn tại. Trải qua thương hải tang điền, hiện vật giờ chỉ mập mờ còn mất, dù nơi đây đã được công nhận là di tích cấp quốc gia. Tôi bấm vội mấy tấm ảnh, đi như chạy trốn khỏi khu Tháp Sáng, chỉ cầu mong cho những mảng phù điêu, tượng Phật, hộ pháp… hiện được lưu giữ ở nhiều bảo tàng như sử sách ghi đừng như số phận khu tháp này.

Nam Cường (Theo Tiền Phong)

Một số đặc điểm chính của văn bia thời Trần
(29/11/2010 08:24)(đã xem: 38 lượt)
Tại Việt Nam, khi nghiên cứu về văn bia, các nhà nghiên cứu thường nhóm nó vào một khái niệm rộng hơn, đó là văn khắc. Văn khắc là khái niệm dùng chỉ các tác phẩm được khắc trên các chất liệu cứng, như: đồng, đá, gốm, gỗ… bao gồm nhiều thể loại khác nhau, có thể là một bài thơ, một câu đối, hoặc giả có thể là một bài kí dài. Khái niệm văn khắc gợi mở về trạng huống tồn tại, phương thức tạo tác văn bản hơn là định danh thể loại văn học. 

Văn bia (bi văn) là thuật ngữ dùng chỉ văn từ được trình bày trên bia đá. Xét về nguồn gốc, biavốn là phiến đá, trụ đá, hoặc tấm gỗ dựng trước cung thất, hay tông miếu để đo bóng mặt trời, từ đó xác định thời gian, có khi được dùng để buộc các con vật tế. Thoạt tiên bia không có chữ. Loại bia có chữ được các nhà kim thạch học gọi là khắc từ bi (bia khắc văn từ), chỉ xuất hiện vào thời Đông Hán. Ta quen gọi loại này là văn bia. Văn bia có thể được định danh bằng nhiều các khác nhau, như bi kí,bi chíbi minh tính tự… Muốn hiểu thể thức của văn bia, cần truy về ngọn nguồn của nó. Dạng thức của văn bia có nguồn gốc từ các bài minh thời Ân – Chu. Vào thời Ân – Chu, người ta khắc chữ trên các vật dụng bằng đồng để ghi chiến công hay sự việc, phần văn từ đó được gọi là minh. Muộn hơn, người ta chuyển sang khắc chữ trên chất liệu đá, đó chính là cái mà nhà lí luận văn học cổ đại Trung Quốc Lưu Hiệp gọi là: “Dùng đá thay đồng, lưu truyền bất hủ” (dĩ thạch đại kim, đồng hồ bất hủ. Văn tâm điêu long – Muội bi). Tuy có sự thay đổi về chất liệu tạo tác văn bản, song theo thói quen, người ta vẫn gọi đó là minh. Văn từ khắc trên đồ đồng thời Ân – Chu là các bài văn vần, khá ngắn gọn; cho đến dạng thức khắc thạch của thời Tần vẫn bảo lưu được thể thức này (thường dùng thể thơ 4 chữ, 3 câu gieo vần một lần). Từ thời Hán trở đi (Đông Hán), văn từ khắc trên đá có sự thay đổi lớn về thể thức. Tuy phần nhiều các bài vẫn bảo lưu được phần minh có gốc gác cổ xưa, song trước bài minhthường có thêm một bài văn, thuộc thể ; có thể được viết bằng biền văn hoặc tản văn, dùng để trình bày lại sự việc. Bài minh phía sau tổng kết sự việc đã trình bày ở trước đó, thêm lời ca tụng, nó vẫn được viết bằng văn vần. Bài  phía trước thường được định danh là tự hoặc chí (tựchí) và bài minh, tuy là hai phần, song vẫn thuộc vào một bài văn bia thống nhất, trở thành định cách phổ biến của dạng thức văn bia. Như vậy, về kết cấu tổng thể của một bài văn bia, thông thường gồm hai phần:  (chítự) và minh. Các văn bia thời Trần hiện còn cũng không nằm ngoài thông lệ đó.

Khái niệm văn bia như đã xét chỉ bài văn được khắc trên bia đá. Tuy nhiên, cũng là bài kí cùng loại, ở những dạng thức tồn bản khác nhau có thể mang những tên gọi không hoàn toàn tương đồng. Chẳng hạn khi được khắc vào vách đá nó được gọi là ma nhai hoặc khắc thạch, khi được khắc vào chuông được gọi làchung minh… Bia dựng ở tháp gọi là tháp bi, bia mộ gọi là mộ bimộ chímộ biểuthần đạo bi… Dù vậy, hình thức thể loại về căn bản không có sai khác lớn. Như vậy, thuật ngữ văn bia, hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm các bài kí được dùng để khắc trên bia đá, ma nhai, chuông, khánh… Khái niệm văn bia trong bài viết này được dùng với nghĩa rộng như trên.

Số lượng các tác phẩm văn khắc thời Trần hiện còn theo thống kê trong sách Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, tập II: Thời Trần (1226-1400), quyển Thượng và Hạ (Sách do Viện Nghiên cứu Hán Nôm – Viện đại học Trung Chính Đài Loan thực hiện, 2002) có tất cả 44 tác phẩm (trong đó chủ yếu là văn bia). Gần đây, thảng hoặc có phát hiện thêm một số tác phẩm khác song không nhiều. Do vậy, ở đây chỉ xét các tác phẩm trong sách kể trên. 44 tác phẩm trong sách đã dẫn, dựa vào nội dung có thể phân chia làm nhiều loại khác nhau: loại ghi về ruộng đất, về việc xây dựng công trình Phật giáo, loại ghi về đền thờ thần và sắc phong cho thần, loại ghi thánh chỉ của nhà vua, loại kỉ công, loại ghi về lịch sử thiền phái, ghi về dòng họ, loại khắc thơ… Có thể thấy, văn khắc thời Trần hiện còn không chỉ phong phú hơn văn khắc thời Lí về mặt số lượng, mà còn đa dạng hơn về mặt nội dung phản ánh. Tuy nhiên, trong số 44 tác phẩm văn khắc này, không ít tác phẩm chỉ là sự ghi chép vụn vặt, lẻ tẻ, không thành một bài văn hoàn bị. Chỉ có 21 tác phẩm khả dĩ coi là đáp ứng yêu cầu của các bài văn bia theo những tiêu chí thể loại của nó. Các tác phẩm đó gồm:

TT Tên tác phẩm Niên đại Địa bàn phân bố Tác giả
1 Thiệu Long tự bi (minh miếu lang tính tự) 1226 Hà Tây KD
2 Phụng Dương công chúa thần đạo bi (minh tính tự) 1293 Nam Định Lê Củng Viên
3 Cổ tích thần từ bi (kí) 1312 Hà Nội Trần Quốc Chẩn
4 Sùng Quang tự chung (minh tính tự) 1320 Hải Dương Đặng Lân Chủng
5 Bạch Hạc Thông Thánh quán chung 1321 Vĩnh Phú Hứa Tông Đạo
6 Hưng Phúc tự bi (minh tính tự) 1324 Thanh Hóa Đại phu […]
7 Đại Bi Diên Minh tự bi 1327 Hưng Yên Sa môn Sùng Nhân
8 Diên Phúc viện bi (minh tính tự) 1328 Hà Tây Sử đài […]
9 Sùng Thiên tự bi 1331 Hải Dương Hòa thượng Huệ Văn
10 Diên Thánh Báo Ân tự chung 1333 Hà Nội Trần Chấn Khanh
11 Khai Nghiêm bi kí 1339 Bắc Giang Trương Hán Siêu
12 Dục Thúy sơn Linh Tế tháp kí 1343 Ninh Bình Trương Hán Siêu
13 Thanh Mai Viên Thông tháp bi 1362 Hải Dương [Thiền sư Pháp Loa]
14 Hiển Diệu tháp bi (minh tính tự) 1367 Ninh Bình Trần Nguyên Trác
15 Sùng Khánh tự bi (minh tính tự) 1367 Hà Giang Tạ Thúc Ngao
16 Phúc Minh tự bi kí (minh tính tự) 1369 Thái Bình Đỗ Nguyên Chương
17 Sùng Nghiêm tự bi 1372 Thanh Hóa Phạm Sư Mạnh
18 Thanh Hư động bi (minh) 1373- 1377 Hải Dương Trần Duệ Tông
19 Từ Ân tự bi (minh tính tự) 1382 Thái Bình Hồ Tông Thốc
20 Chiêu Quang tự chung (minh tính tự) 1385 Thái Bình Hồ Tông Thốc
21 Vĩnh Báo tự bi (minh) 1391 Ninh Bình Trần [?] Hồng

Văn bia thời Trần là sự nối tiếp của Văn bia thời Lí, về đại quan, có thể phân chia làm 2 loại cơ bản, gồm: bia công trình và bia mộ. Trong 21 văn bia thời Trần (như khảo sát trên đây), số lượng văn bia viết về việc xây dựng các công trình Phật giáo vẫn chiếm tỉ lệ cao nhất, lên tới 17/ 21 văn bia (xấp xỉ 81%). Bên cạnh các bia chùa còn có bia ghi về đạo quán và đền thờ thần. Tuy nhiên, dẫu là bia chùa, bia đạo quán hay bia đền thờ thần… chúng vẫn có những nét khá chung, vì đều thuộc các công trình gắn với chủ trương của nhà nước quân chủ đương thời, nhắm vào việc vun bồi nền phong hóa và cầu chúc cho vận nước dài lâu, thánh hoàng trường thọ… đây cũng là nét tương đồng với thời Lí. Chính vì do trên, trong các văn bia thời Trần thường vẫn xuất hiện những lời chúc tụng, kiểu: “Kính chúc Kim thượng Hoàng đế thành thọ vô cùng” (Hứa Tông Đạo: Bạch Hạc Thông Thánh quán chung), “Xin chúc hai vị hoàng đế: núi thọ mãi vững, bể phúc thêm sâu, di địch chín châu, thảy đều thần phục” (Thích Sùng Nhân: Đại Bi Diên Minh tự bi). Công chúa Thiệu Ninh dựng chùa Từ Ân ngụ ý báo ơn vua cha (Hồ Tông Thốc: Từ Ân tự bi minh tính tự). Phạm Sư Mạnh trong bia chùa Sùng Nghiêm cho biết, việc dựng chùa, đúc tượng chính là để sớm chiều cầu khấn cho “Hoàng đồ bền vững, thiên hạ thái bình, đức vua muôn tuổi” (Phạm Sư Mạnh: Sùng Nghiêm sự Vân Lỗi sơn Đại Bi tự). Còn Trần Quốc Chẩn trong bài văn bia dựng ở đền thờ vị thần thời cổ cũng cho biết: “Vả lại việc sửa sang văn đức là để rộng mở công lao bình trị; xây dựng miếu đền là để thể hiện tấc dạ kính thành. Đó cũng là khiến cho phúc lớn vô cùng của tông miếu xã tắc được bền lâu” (Trần Quốc Chẩn: Cổ tích thần từ bi kí), v.v…

Tỉ lệ của hai loại bia, bia đền thờ thần và bia đạo quán tuy không nhiều song cũng tạo ra nét khác biệt nhất định so với văn bia thời Lí. Ngoài ra, nếu ở giai đoạn thời Lí, hiện vẫn bảo lưu được một số bia mộ thuộc loại mộ chí, nguồn gốc của nó là loại bia để chôn xuống mộ, thì ở giai đoạn này, chí ít còn bảo lưu được một bia mộ đạo, là loại bia dựng trên mặt đất, cung cấp thêm dữ liệu để nghiên cứu về hệ thống bia mộ thời Lí – Trần.

Về tên gọi mang tính chất định danh thể loại, văn bia thời Trần dùng các tên: bibi kíbi minh tính tự… trong đó, “bi minh tính tự” là cách gọi phổ biến nhất.

Giai đoạn nhà Trần, tuy Phật giáo vẫn là tôn giáo được tôn sùng, nhưng bên cạnh đó, nho giáo phát triển mạnh dần; đến cuối thời Trần, vị trí của học thuyết này có những bước tiến đáng kể, kết quả là đội ngũ nho sĩ ngày một đông đảo và vị trí của họ không ngừng được nâng cao. Do đó, văn bia thời Trần tuy phần lớn vẫn là bia chùa, nhưng đội ngũ tác giả lại chủ yếu thuộc giới quan chức, lên tới 16/21, xấp xỉ 76%, trong số đó có sự góp mặt của không ít danh nho đương thời; tác giả thuộc giới tăng lữ chỉ chiếm một tỉ lệ khiêm tốn (3/21, ~ 14%). Bên cạnh các tác giả là nhà nho, nhà sư còn có tác giả thuộc giới Đạo sĩ, như trường hợp của Hứa Tông Đạo, tác giả Bạch Hạc Thông Thánh quán chung. Như vậy, có thể thấy, tác giả văn bia thời Trần có sự góp mặt đầy đủ của đại diện Tam giáo. Đó là điều chưa có ở các văn bia thời Lí hiện còn.

Mở đầu văn bia chùa Vĩnh Báo (Vĩnh Báo tự bi), nhân nói về Tư đồ Văn Huệ vương Trần Quang Triều và vị trưởng đường họ Nguyễn, tác giả bài văn bia là Thái trung đại phu, Hàn lâm học sĩ, Thái Nguyên phủ sứ kiêm Chuyển vận sứ Trần [?] Hồng viết:

“Kẻ ngu này từng quan sát việc hành chỉ của Tư đồ Văn Huệ vương, thấy việc ra giúp đời hay lui về nghỉ của ông đều theo thời mà không trái lẽ thường, khiến sinh dân được hưởng nhiều ơn huệ, thật đúng với nghĩa “quân tử tùy thời” mà Kinh Dịch đã nói vậy. Lại quan sát sự chuyên cần không trễ nải của ông trưởng đường họ Nguyễn, thật là hết lòng vì phận sự, khiến cả nhà nể phục, đúng như câu “gia thần tận trung” mà sách Xuân thu từng chép vậy”.

Tuy là bài văn bia dựng ở chùa nhưng ngôn từ trong đoạn văn trên rõ ràng là của một nhà nho, các sách được trích dẫn thảy cũng đều là kinh điển nho gia.

Hồ Tông Thốc soạn bài Từ Ân tự bi minh tính tự, là văn bia dựng ở chùa, nhưng nội dung lại thuần túy là lời ca ngợi nết hiếu của công chúa Thiệu Minh, ý tứ chủ đạo của nó không vượt ra ngoài quan niệm về hiếu của nhà nho, cụ thể là câu nói của Tăng Tử: “thận chung truy viễn, dân đức quy hậu hĩ” (Thận trọng với việc ma chay của cha mẹ mình, truy tưởng đến các vị tổ tiên đời xa của mình, như thế thì cái đức của dân sẽ trở nên thuần hậu vậy. Luận ngữ – Học nhi). Do là nhà nho, cho nên trong một số trường hợp, tuy là viết bia chùa nhưng tư tưởng của các tác giả thể hiện ra hoàn toàn thuộc phạm vi nho giáo, không mảy may đề cập đến các phạm trù của triết học Phật giáo.

Trong bài văn khắc trên chuông quán Thông Thánh ở Bạch Hạc – bài văn khắc lên chuông thờ ở đạo quán của đạo giáo – đạo sĩ Hứa Tông Đạo không những không thuyết lí về những phạm trù cao siêu của đạo mà xen trong với các thuật ngữ đạo giáo còn thái dụng nhiều khái niệm của Phật giáo. Hay như Tiền Hàn lâm thị giảng, tri Quốc tử bác sĩ, Nội chư thân Đặng Lân Chủng trong bài văn bia chùa Sùng Quang (Sùng Quang tự chung), tác giả không chỉ tỏ ra am hiểu Phật giáo mà còn trích dẫn tác phẩm thuộc thể loại từ của Tô Thức thời Bắc Tống, cùng các sách Nam hoa kinhXung hư chân kinh của Đạo giáo. Mặc dù xuất thân từ những thành phần xã hội khác nhau song tri thức của các tác giả văn bia thời Trần nhìn chung không khác nhiều so với thời Lí, vẫn mang dấu ấn của một thời đại hỗn dung Tam giáo.

Sự góp mặt của đại diện Tam giáo khiến văn bia thời Trần có sự phong phú về loại hình tác giả, nhưng cũng dễ nhận thấy, các tác giả xuất thân nhà nho là lực lượng cơ yếu nhất, và chính điều này đã khiến cho văn bia thời Trần có sự thay đổi quan trọng so với văn bia thời Lí về cả nội dung và hình thức nghệ thuật.

Nếu như các văn bia thời Lí tuân thủ hết sức chặt chẽ dạng thức gồm 2 phần minh thì văn thì ở văn bia thời Trần, thể thức của các tác phẩm văn bia có phần lỏng lẻo hơn. Số lượng các văn bia đầy đủ hai phầnminh là 16/21 (76%), số văn bia không có phần minh là 5/21 (24%). Một số bài như bài kí ở tháp Linh Tế, núi Dục Thúy, mang dáng dấp của những bài kí tự do, không nằm trong khuôn mẫu thông thường của thể loại bi kí.

Phần thuyết lí – duyên khởi mở đầu các bài văn bia thời Trần, sự thuyết lí không tinh mật như ở văn bia thời Lí, do vậy màu sắc triết lí có phần sút giảm. Trong văn bia chùa Sùng Khánh (Sùng Khánh tự bi minh tính tự), tác giả Tạ Thúc Ngao viết:

“Kể ra: cảnh là ánh sáng vẻ đẹp của tâm; danh là vẻ ngoài của thực. Nếu cảnh có được sự linh thiêng của núi sông, mà người không có kẻ hào kiệt tài đức, thì sự thanh kì của cảnh, sự tốt đẹp của danh cũng đều chìm đắm trong một thời, còn nói gì đến chuyện lưu hành vạn đại được nữa”.

Lời văn ngụ ý kiểu lập luận xưa, rằng đất thiêng thì phải có người tài giỏi; cũng mang hơi hướng câu “sơn bất tại cao, hữu tiên tắc danh; thủy bất tại thâm, hữu long tắc linh” (núi chẳng phải cao, có tiên thì nổi tiếng; nước chẳng phải sâu, có rồng ắt thiêng) của Lưu Vũ Tích thời Đường, từ đóca ngợi công lao dựng chùa và đức hạnh của nhân vật Nguyễn Ẩn. Tuy vậy, tính chất thuyết lí trong văn bia khá đơn giản, không đủ gọi là sâu xa và uyên bác, và tất nhiên không thể so sánh được với văn bia thời Lí.

Ở một số văn bia khác, đoạn thuyết lí – duyên khởi bị giản hóa đến mức tối đa, biến thành những lời dẫn ngắn, thậm chí rất sơ sài (như Báo Ân thiền tự bi kí), hoặc giả bị lược bỏ hoàn toàn để đi thẳng vào phần tự sự (như các văn bia: Hiển Diệu tháp biPhúc Minh tự bi…). Tuy thảng hoặc cũng có tác phẩm thuyết lí khá sâu sắc, như Diên Thánh Báo Ân tự chungDiên Phúc viện bi, đặc biệt là Thiệu Long tự bi… nhưng về cơ bản, các văn bia thời Trần đều không đề cập đến vị trí quan trọng của thời kì tượng pháp, từ đó dẫn khởi về mục đích, ý nghĩa của việc dựng chùa và công lao to lớn của các thí chủ; các tác giả không đẩy phần thuyết lí – duyên khởi lên mức khái quát lí luận như các văn bia thời Lí. Điều này khiến cho văn bia Phật giáo thời Trần mất đi độ sâu sắc của những suy tư triết học Phật giáo cũng như cái lôgich nội tại của thể thức văn bia được xác lập từ thời Lí. Nhưng bù lại, chính yếu tố này khiến cho văn bia thời Trần phần nào có sự chuyển biến theo hướng tự nhiên và giản dị hơn, không bị gò vào các khuôn mẫu cứng nhắc.

Các thí chủ được đề cập tới trong văn bia thời Trần tuy cũng có địa vị khá cao trong xã hội, có thể thuộc giới quý tộc, có thể là quan chức… nhưng phần lớn không có huân nghiệp lẫy lừng như các nhân vật được miêu tả trong các văn bia thời Lí. Không chú trọng đến phần thuyết lí – duyên khởi để làm cơ sở lý luận, nhân vật không có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính trị đương thời… các yếu tố ấy đã ảnh hưởng quan trọng đến vệc xây dựng hình tượng nhân vật trong các văn bia thời Trần. Thay vì đan cài giữa bút pháp tả thực với ước lệ và khoa trương trong xây dựng nhân vật, các tác giả văn bia thời Trần có xu hướng nghiêng về bút pháp tả thực, khiến hình tượng nhân vật không có vẻ siêu việt, hoàn mĩ…, mà giản dị, gần gũi với cuộc sống. Dường như trong chủ ý của các tác giả thời này, việc soạn thảo văn bia đối với họ như là việc làm để biểu dương đức tốt của các nhân vật mà không cốt yếu ở việc trau chuốt văn từ để xây dựng nhân vật thành những điển hình mẫu mực cho việc hoằng dương, hộ trì đạo pháp. Chính vì thế, sự miêu tả nhân vật trong các văn bia không tường tận, chi li và đa diện như ở văn bia thời Lí. Điều này cũng khiến cho tính chất truyện kí, tiểu truyện của các bia Trần có phần sút giảm; riêng phần miêu tả cảnh chùa khả dĩ còn giữ được ít nhiều lối viết khoa trương, gần gũi với văn phong của văn bia thời Lí.

Sau một quá trình phát triển khá lâu dài, đến cuối thời Trần, Nho giáo dần thịnh, trong khi đó Phật giáo có nhiều biểu hiện tiêu cực về mặt xã hội. Điều này dẫn đến thái độ bài bác của nhà nho đối với Phật giáo, đặc biệt là từ giai đoạn cuối thời Trần. Dưới nhãn quan của nhà nho, đạo Phật cũng như các hệ tư tưởng khác thảy đều là dị đoan, tà thuyết, dối đời lừa dân (hoặc thế vu dân). Tuy nhiên, do Phật giáo đã xác lập được địa vị quốc giáo từ thời Lí, sang đến thời Trần, các vua Trần cũng rất sùng mộ đạo Phật; hình tượng ông vua Phật của thời Lí đến đây vẫn có giá trị nhất định. Chẳng hạn Trần Thái Tông vừa là vua vừa mang hình bóng của một vị giáo chủ. Trong hoàn cảnh ấy, tuy nho giáo đã phát triển khá mạnh song không thể dễ dàng phủ nhận địa vị thực tế của đạo Phật. Bởi vậy, dù không hài lòng với Phật giáo thì nhà nho cũng chỉ có thể bộc lộ sự phản ứng của mình một cách chừng mực. Dẫu vậy, nhà nho với tư cách là tác giả văn bia, đứng trên lập trường của học thuyết nho gia để phản ứng, bài bác đạo Phật, điều đó làm cho giọng điệu tụng ca trong các văn bia từ thời Lí sang đến khoảng thời Trần có sự thay đổi, đặc biệt là giai đoạn cuối Trần

Không phải để ca ngợi mà là để gửi gắm niềm cảm khái của mình trước sự phát triển và lòng sùng mộ đạo Phật của người đương thời, trong bài văn chuông chùa Phúc Minh Ông Lâu (Ông Lâu Phúc Minh tự chung), tác giả, kiêm quan chức triều đình là Triều thỉnh đại phu, Hàm lâm quyền học sĩ, Tri chế cáo, Thượng kị đô úy Đỗ Nguyên Chương ngậm ngùi:

“Kia chốn Tây phương nơi Phật giáo hóa, dạy rằng khi sống làm điều thiện, chết thời được phúc; khi sống làm ác, chết sẽ phải tội. Những lời ấy nhẹ nhàng mà đi vào lòng người, cho nên nhiều người vui lòng tin theo, đến mức người bố thí vườn nhà, chi cấp của cải, xây dựng chùa tháp, mong cầu lợi lộc; dù trải nhiều đời, khăng khăng chẳng đổi. Tuy có bậc quân tử tốt đẹp, muốn dùng văn từ để bài bác, cũng không làm tổn hại gì, huống chi các bậc quân tử như họ Lộ, họ Nguyễn, họ Đỗ vậy! Do đó ta cảm khái bèn làm ra bài văn này”.

Cũng với thái độ tương tự, Lê Quát sau khi nói về lòng sùng mộ đạo Phật của dân chúng đương thời, sự phát triển mạnh mẽ, lan tràn khắp nơi của đạo Phật đã không ngớt lời thở than, thậm chí có phần “tủi hổ”, bộc bạch trong bài văn bia chùa Thiệu Phúc rằng: “Ta rất lấy làm hổ thẹn khi so sánh với tín đồ đạo Phật. Bèn viết ra đây để giãi tỏ lòng ta”.

Tuy nhiên, cả Đỗ Nguyên Chương và Lê Quát về cơ bản mới chỉ là bộc lộ cảm khái và phần nào là sự bất lực của nhà nho trước sự thịnh hành của đạo Phật chứ chưa có sự phê phán cụ thể như Trương Hán Siêu.

Trương Hán Siêu hiện còn hai bài văn bia: Bài văn bia chùa Khai Nghiêm (Khai Nghiêm tự bi kí) và bài kí tháp Linh Tế ở núi Dục Thúy (Dục Thúy sơn Linh Tế tháp kí). Trong phần thuyết lí – duyên khởi văn bia chùa Khai Nghiêm, Trương Hán Siêu phân tích tác dụng của “tượng giáo” trong việc tế độ chúng sinh; từ đó phê phán “những kẻ giảo hoạt trong bọn sư sãi” đã bỏ mất cái bản ý “khổ không” của đạo Phật, chỉ cốt “chiếm lấy những nơi đất tốt cảnh đẹp, tự giát vàng nạm ngọc cho chỗ ở của chúng rực rỡ, tô điểm cho môn đồ của chúng lộng lẫy như voi như rồng”. Thế mà “đương thời bọn có quyền thế, bọn người ngoại đạo a dua lại đua đòi hùa theo. Vì thế những nơi u nhã thanh kì trong nước, chùa chiền đã chiếm mất một nửa. Bọn áo thâm áo vàng tụ tập ở đấy, không cày mà ăn, không dệt mà mặc; những người thất phu thất phụ thường bỏ cửa nhà, bỏ làng xóm lũ lượt quy theo”.

Tuy đã có sự khoanh vùng đối tượng, chủ đích nhắm vào “những kẻ giảo hoạt trong bọn sư sãi”, nhưng lời văn dường như không kìm được thái độ gay gắt đến cay nghiệt. Trong tác phẩm, Trương Hán Siêu chỉ ra nguyên nhân dẫn đến tình trạng ấy là do thánh hiền xa cách, thánh đạo lu mờ, không có các bậc tướng như Chu, Thiệu để dẫn dắt, các xóm thôn châu huyện không có trường để dạy điều hiếu nghĩa cho dân. Khi Chu Tuế đến xin bài kí, một lần nữa ông lại bày tỏ thái độ, cho là “dị đoan đáng phải truất bỏ” nhưng rốt cục vẫn viết bài kí, nguyên nhân vì “Chu Tuế từng làm quan trong nội viện; đến lúc tuổi già khinh đường sĩ hoạn, ham việc bố thí, cố từ bổng lộc, tự xin về ẩn dật để được an nhàn”, đó là những điều tác giả muốn học theo mà chưa được, chứ không phải viết bài kí để tụng ca đạo Phật. Bài văn kết lại mà không có lời minh. Bài kí tháp Linh Tế mở đầu bằng niềm cảm khái về lẽ hưng vong thành bại, vật đổi sao dời; phần nội dung chính là lời biện bạch của sơn tăng Trí Nhu và lời đáp của tác giả để bày tỏ thái độ phê phán đạo Phật. Đoạn cuối bài văn giải thích nguyên nhân tác giả viết cho Trí Nhu bài văn bia, là bởi cảm công “tô thêm vẻ đẹp non sông, tranh công xây dựng cùng tạo hóa” của vị sơn tăng chứ không phải tác giả viết ra nhắm vào mục đích ca ngợi đạo Phật. Bài kí kết lại, vẫn không hề có lời minh.

Có thể thấy sự phát triển của học thuyết nho giáo thời Trần đã có ảnh hưởng quan trọng đến các tác phẩm thuộc thể loại văn bia thời này. Nó làm hạn chế tính chất lí luận cũng như việc sử dụng Phật điển một cách dày đặc vốn như một thông lệ trong văn bia Phật giáo được xác lập từ thời Lí, khiến văn bia không thuần là một thể thức chuyên chú vào việc tụng ca đạo Bụt, xây dựng những mẫu hình nhân vật tiêu biểu cho sự hoằng dương và hộ trì đạo pháp. Sự tăng tiến của đội ngũ tác giả xuất thân nho học cùng quan niệm của họ, cùng sự thể hiện thực tế của quan niệm ấy đã khiến cho văn bia thời Trần có sự thay đổi quan trọng trên nhiều phương diện, từ nội dung đến kết cấu, giọng điệu, bút pháp. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn có những văn bia được viết theo phong cách văn bia thời Lí, tiêu biểu như Thiệu Long tự bi.

Phần thuyết lí – duyên khởi, tác giả viết:

“Nép nghĩ: càn khôn chính khí, nhật nguyệt tinh hoa. Bản chân không rời, ngũ hình tán loạn. Gió lốc tạm ngừng, lục dục tam tịnh mới thành; nước lụt lại dâng, cửu nghi bát trọng bèn đến. Trong thì ngưng tụ thành người trời, thánh triết; đục thì kết nên quỷ đói, súc sinh. Thảy sinh diệt ở lò đất trời, đều biến hóa trong lửa phiền não. Đó là thế giới lúc mới hình thành vậy. Đến như pháp thân: chân như khó thấu, lặng lẽ không lời. Đạo: mênh mông khó tỏ tường, thể: mập mờ sao biết được. Nhỏ thì náu trong hạt cải, hạt cải mênh mông; lớn thì thâu cả Tu Di, Tu Di nghiêng ngả. Cứu vớt muôn vật, chế ngự mọi dòng. Sức hiển linh ánh sáng phải nhòa, sự giáo hóa phàm ngu cũng tỏ. Ấy là cái đạo tuyệt diệu vậy. Đến khi: gió lành đã tản, sóng nhẹ dần lan. Ngũ dục như rắn rết lan tràn; lục trần như tử sinh oán hận. Cho nên đức Phật ta: ở nơi vô tịch của không tướng, xót nỗi luân hồi của chúng sinh. Giáng tại cung vua, tu nơi Tuyết lĩnh. Đất lòng gieo mầm tốt đẹp, ruộng tình rải giống thiện lương. Giấu thực phô quyền, tùy duyên độ vật. Ruổi thuyền từ mà vượt bể khổ, cứu kẻ đắm chìm; khuơ đuốc tuệ mà rọi đường mù, chiếu nơi tăm tối. Đến khi: dung nhân khuất lấp thời Chu Mục, thánh giáo truyền dài buổi Hán Minh. Tượng Phật nhờ đấy xắp hàng, nào khuôn vàng hình gỗ; chùa chiền từ đây la liệt, những Bạch Mã Thanh Uyên. Đời trước đời sau, chẳng dứt nhân duyên; Thiên Vương Luân Vương, đều theo phúc Phật. Dốc lòng uống đạo, dầm gió chắp tay. Nếu không phải dòng hiền triết, sao có thể theo được dấu thơm xưa?”.

Đoạn văn thuyết lí tinh vi, sử dụng hàng loạt điển tích, điển cố và thuật ngữ Phật học; lối văn biền ngẫu điêu luyện, vừa cân chỉnh vừa bóng bẩy, rất giàu hình ảnh, đủ thấy tác giả hẳn phải là người am tường về Phật giáo và đặc biệt có tài năng về văn chương.

Vẫn tuân thủ theo kiểu thức văn bia thời Lí, bài văn bia đi từ thuyết lí – duyên khởi dẫn nhập vào phần tự sự, khởi đầu là miêu tả nhân vật. Đây là đoạn miêu tả về nhân vật Trung Tín:

“Tinh anh từ sông núi, đức hạnh tựa băng sương. Thác sinh phải nhà hiển quý, hợp thời được nét anh hoa. Lúc nhỏ có kì tướng, khi lớn càng phi phàm. Dáng vẻ đường đường xuất chúng, phong tư nghiêm nghị hơn người. Đầy lòng hiếu đễ, dốc tiết trung thành. Đạo đức tốt đẹp để gánh vác gia đình, phong thái thanh cao để bảo vệ đất nước. Oai hùng trùm đời, khí lực nhổ núi. Sắp đặt sĩ tốt chỉnh tề, điều động quân đội nghiêm cẩn. Cơ binh chỉ một, nghiệp tướng không hai. Đáng làm mẫu mực cho đất nước, thực là bàn thạch của vương gia. Hoàng đế mến tài, ban xe ban áo. Công lớn rõ ràng, y quan rực rỡ. Quyền sau thiên tử, danh vượt trăm quan. Đội mũ vào vẻ trăng tròn trịa, khoác áo lên dáng phượng dập dờn. Thêm vẻ vang nhờ quân kị mạnh, lại hào hùng bởi sĩ tốt hăng. Tiên phong tung hoành oai hổ, trung quân vùng vẫy sức bằng. Dập khói lang khắp miền biên tái; diệt giặc dữ đủ mười phương trời. Nếu không có sức thánh thần, sao được như thế. Đấy là cái đức văn võ song toàn của ông vậy”.

Miêu tả về người vợ của Thái tử Trung Tín, tác giả viết tiếp:

“Còn phu nhân: xuất thân quyền thế, thể chất ngọc ngà. Tứ đức đủ bề, tam tòng hoàn bị. Dáng hình yểu điệu, dung mạo sáng tươi. Miệng thốt ngọc châu, chí hòa cầm sắt. Nét đẹp phi thường, con người tuyệt thế. Phong tư sánh với Lạc thần, cốt cách so tày Vu nữ. Búi phượng mượt mà, núi trong mày thúy vừa ngưng; vẻ hoa rực rỡ, cảnh đẹp nụ hồng mới hé. Đức dạt dào, hoa lan thơm phức; tính thuần khiết, bạch ngọn vèn tuyền. Sức xuyến vàng, gài trâm sáu hạt, vương phi chỉ vậy; mang ngọc hương, đeo khuyên hai bên, thương lái nào hơn. Nếu không hiển quý hơn người, thời cũng phong tư tuyệt thế. Lại thêm: nếp nhà gia giáo, phúc Phật chuyên cần. Hoa tín thành chiếm mười động xuân sang; gương trí tuệ vẽ một sông trăng rọi. Trước ươm giống lạ, chắc được mầm tốt tươi; sớm lập nhân lành, ắt được quả ngon ngọt. Nói rằng con người tích thiện là mĩ lệ, là thịnh đức, đó là nói về đức tốt của phu nhân vậy”.

Đoạn văn ngôn từ điêu trác, có sự đan cài giữa tả thực với ước lệ và khoa trương. Sự miêu tả có thể nói đã đạt mức kì tuyệt, hoàn toàn không sút kém với các văn bia xuất sắc nhất thời Lí như Đại Việt quốc Lí gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi minh hay Cổ Việt thôn Diên Phúc tự bi minh.

Tiếp theo phần miêu tả nhân vật, tương tự các văn bia thời Lí, tác giả cũng đi vào miêu tả quá trình xây dựng công trình và được biệt chú trọng miêu tả cảnh chùa sau khi đã hoàn thành:

Chính điện nguy nga dáng núi dựng, hành lang uốn lượn cánh chim bay. Đốn cây tiên mà dựng rường kèo, rừng xanh núi Tam Thần giảm biếc; lấy ngọc Hán mà viền trụ cột, lọng vàng thời Vương Mãng kém sang. Cầu thang trạm rùa rồng, dáng uốn lượn chừng đang phun nước; song cửa trổ loan phượng, thế dập dờn tưởng lướt theo mây. Nhiều tinh tú sao Bắc Cực nhường tầm, rực cỏ hoa vườn Thượng Lâm giảm sắc. Ngói sen muôn tầm vẩy cá, sương sớm giọt giọt ngọc rung; chuông vàng bốn bên, gió thu giờ giờ tiếng thoảng. Màu son tươi mới, dẫu gấm họ Đậu khôn so; vẻ ngọc lung linh, dù ngọc dạ quang chỉ vậy”.

Văn biền ngẫu cân chỉnh và chặt chẽ, bút pháp ước lệ được vận dụng tối đa, cảnh chùa hiện lên qua các so sánh, như thực như hư, vừa như ở ngay trước mắt lại vừa như ở rất xa vời, không thể nắm bắt; tuy trí tưởng tượng được kích thích song rốt cục vẫn người đọc vẫn thấy rất mực mông lung, ngỡ cảnh chùa như cảnh sắc của một thế giới thần tiên. Sự miêu tả đi từ gần, rồi lại tiến ra xa, và không chỉ dừng lại bằng sự cảm nhận qua thị giác, có cả mùi hương đang luồn trong gió: “Trong ao sen thoảng, sen diễm kiều thế giới thần tiên; ngoài vườn hương đưa, hương ngan ngát trong vòng trời đất”. Cảnh chùa được miêu tả đôi khi không kém phần mộng mơ và lãng mạn: “Cạnh đường hoa nở, giai nhân tựa cửa không lời; bên nhà cây che, màn thúy rủ hiên chẳng vén”; lại có khi được so sánh với những cô gái xinh đẹp như Tần Nga, dung nhan cướp hồn người: “bồi hồi thiếu nữ quạt gió nồng, yểu điệu Tần Nga xinh cướp vía”.

Sau khi miêu tả cảnh khánh thành chùa cùng lời chúc tụng vị đương kim hoàng thượng, các vị tướng công cùng phu nhân, các Thái tử, quý nương… tác giả tỏ ý khiêm cung, cho rằng mình kiến thức hẹp hòi, được ủy thác trách nhiệm soạn bia, khác chi “ốc nhỏ mà đo biển lớn, ngựa hèn mà ruổi đường dài”, do không thể từ chối nên miễn cưỡng soạn bia. Văn bia kết lại bằng một bài minh dài 62 câu tứ ngôn tóm lược ý tứ toàn bài, lại kèm theo cả những lời chúc tụng. Văn bia chùa Thiệu Long là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất trong các văn bia thời Trần hiện còn, cũng là sự kế thừa trọn vẹn thành tựu của văn bia thời Lí. Tuy vậy, nhìn trên tổng thể, ngoài một số ít bài như Thiệu Long tự biPhụng Dương công chúa thần đạo bi tính tự… văn bia thời Trần không có độ hoàng tráng như văn bia thời Lí, sự dụng công trong nghệ thuật ngôn từ, nghệ thuật xây dựng nhân vật và tả cảnh cũng sút giảm đáng kể. Dẫu vậy, văn bia thời Trần vẫn có nhiều điểm khả thủ, thể hiện ở ngôn ngữ giản dị, tự nhiên, tự sự tường tế, không quá sa đà vào khoa trương… cùng văn bia thời Lí, xác lập địa vị đỉnh cao của thể loại văn bia thời Trung đại.

Phạm Văn Ánh

Tư liệu tham khảo:

1. Trung Quốc văn học sử. Viên Hành Bái (chủ biên), T.III, Cao đẳng Giáo dục xuất bản xã, 2001.

2. Lê Quý Đôn: Kiến văn tiểu lục – thiên chương (bản dịch), Nxb. Sử học, H. 1963.

3. Chử Bân Kiệt: Trung Quốc cổ đại văn thể khái luận, Bắc Kinh Đại học xuất bản xã, BK. 1990.

4. N. I. Ni-Cu-Lin: Ba bài văn bia và sự phát triển của văn học Việt Nam đầu thế kỉ XIITạp chí Văn học, số 2 – 1976.

5. Tần Công Vương Xuân Nguyên: Tần thuyết bi kí, Trung Quốc Thanh niên xuất bản xã, BK. 1977.

6. Ngô Sĩ Liên: Đại Việt sử kí toàn thư (bản dịch), T.I, II, Nxb. KHXH, H. 1993.

7. Thơ văn Lí – Trần, T.I, Nxb. KHXH, H. 1971.

8. Thơ văn Lí – Trần, T.II, quyển Thượng, Nxb. KHXH, H. 1989.

9. Thơ văn Lí Trần, T.II, quyển Hạ, chưa xuất bản, bản thảo tại Phòng Văn học Cổ trung đại Việt Nam, Viện Văn học.

10. Thơ văn Lí – Trần, T.III, Nxb. KHXH, H. 1978.

11. Đinh Khắc Thuân: Văn bia thời Mạc, Nxb. KHXH, H. 1996.

12. Lê Trắc: An Nam chí lược (bản dịch), Nxb. Thuận Hóa – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, H. 2002.

13. Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, T.I: Từ Bắc thuộc đến thời Lí, Viện Nghiên cứu Hán Nôm – Viện Viễn đông Bác cổ Pháp, 1998.

14. Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, T.II: Thời Trần, Viện Nghiên cứu Hán Nôm – Viện Đại học Trung Chính Đài Loan, 2002.

15. Phạm Thị Thùy Vinh: Văn bia thời Lê xứ Kinh Bắc và sự phản ánh sinh hoạt làng xã, Nxb. Văn hóa – Thông tin, H. 2003.

(Theo Viện Nghiên cứu Hán Nôm)

About Kinh Tâm

Từng bước hoa sen nở
This entry was posted in Văn hóa and tagged . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s