VAI TRÒ GIỮA ÁNH SÁNG KHOA HỌC VÀ PHẬT GIÁO

Đạo Phật và “trường phái kiến tạo” trong khoa học quan hệ quốc tế
Minh Thạnh
image

Trước đây, trong một vài bài viết, chúng tôi đã có dịp giới thiệu về sự hiện diện một cách “tự phát” các yếu tố Phật giáo nơi những nhân vật tinh hoa của nhân loại, là các nhà văn, nhà triết học, nghệ sĩ…

Trong bài viết này, chúng tôi xin được ghi nhận yếu tố Phật giáo ở một trường phái khoa học quan hệ quốc tế, được gọi là trường phái kiến tạo (constructivism).

Đúng ra, phải gọi là học thuyết kiến tạo, hay chủ nghĩa kiến tạo (vì từ “trường phái” thường được dùng để dịch từ “school”), nhưng vì trên thực tế, đây chỉ mới là một thuyết có tính cách học thuật, hơn là một “chủ nghĩa” theo cách hiểu thông thường của người Việt, nên chúng tôi xin phép dịch bằng từ “trường phái”.

Khoa học về quan hệ quốc tế còn tương đối mới mẻ với bạn đọc Việt Nam. Sách, tài liệu giáo trình tiếng Việt của bộ môn này còn khá hiếm hoi, chủ yếu chỉ lưu hành trong Học viện Quan hệ quốc tế và một số trường đại học. Sách tiếng nước ngoài cũng nhập vào rất hạn chế, vì tính chất chuyên môn hẹp của nó.

Vì vậy, trước khi đi vào trường phái kiến tạo, chúng tôi xin điểm qua một số trường phái, học thuyết khác trong khoa học quan hệ quốc tế.

Có thể kể đến các trường phái chính: trường phái hiện thực, trường phái tự do, trường phái kiến tạo.

Trong mỗi trường phái lại có thể có những trường phái nhánh rẽ.

Xuất xứ các trường phái chính trong khoa học quan hệ quốc tế hiện nay chủ yếu là từ Mỹ và Châu Âu.

Sự khác biệt giữa các trường phái học thuật trong khoa học quan hệ quốc tế, thậm chí trái ngược nhau, mâu thuẫn nhau, thậm chí cạnh tranh nhau trong việc ảnh hưởng, đào tạo các nhà chính trị, ngoại giao, chính khách…

Các học thuyết trường phái đưa ra những cách lý giải khác nhau về quan hệ quốc tế, những mối quan tâm khác nhau, những đối tượng nghiên cứu khác nhau…

Có những trường phái, học thuyết hoàn toàn xa lạ với đạo Phật. Chẳng hạn, trường phái hiện thực, có ảnh hưởng lớn ở phương Tây trong thời kỳ Chiến tranh lạnh. Trường phái này xem quan hệ quốc tế là một cuộc đấu tranh giành quyền lực giữa các nước, trên cơ sở lợi ích quốc gia, sẵn sàng tiến hành xung đột, chiến tranh.

Các học giả theo chủ nghĩa hiện thực thường đưa ra những dự báo về gây hấn, bùng nổ xung đột. Theo họ, đặc tính của thế giới là vô chính phủ, tức là không có  một thế lực điều hòa, bảo vệ lợi ích quốc gia. Còn các quốc gia đều có yếu tố nội sinh là chi phối, thống trị các nước khác. Cho nên xu thế chiến tranh, cạnh tranh, xung đột, mâu thuẫn là tất yếu.

Nhiều nhánh nhỏ trong trường phái hiện thực càng cực đoan hơn. Có trường hợp đề cao quan điểm tấn công.

Chủ nghĩa tự do thì đề cao các quan hệ kinh tế, nhấn mạnh rằng sự liên kết kinh tế, các mối quan hệ kinh tế, đưa tới sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế sẽ hạn chế chiến tranh.

Các học giả theo trường phái tự do coi ước muốn thịnh vượng, mong muốn yên ổn làm giàu, xây dựng kinh tế, phát triển có vai trò quan trọng, chứ không phải yếu tố “xâm kích”, chế ngự nước khác.

Các nhánh của học thuyết tự do đề ra những phương thức hợp tác, những ưu tiên hợp tác kinh tế, có quan điểm lạc quan.

Đối tượng của 2 trường phái hiện thực tự do đều là nhà nước. Trường phái tự do mang màu sắc hòa bình, nhưng đó là hòa bình từ kinh tế, có yếu tố lòng tham kinh tế.

Quan niệm của đạo Phật về  hòa bình, về quan hệ giữa con người với con người, về bản chất các mối quan hệ… có thể tìm thấy ở trường phái kiến tạo, cũng có thể gọi là trường phái xây dựng.

Các học giả của trường phái kiến tạo không hẳn đã tiếp thu tư tưởng của Đức Phật, tuy nhiên, rõ ràng, là họ tư duy như đạo Phật. Đó là sự đồng quy của tiến bộ.

Nếu đối tượng của trường phái hiện thực và tự do, cũng như nhiều trường phái khác trong khoa học quan hệ quốc tế là nhà nước, thì đối tượng của trường phái kiến tạo là cá nhân.

Đạo Phật quan niệm “nhất thiết duy tâm tạo” hòa bình đến từ bên trong, trong mỗi con người, thì trường phái kiến tạo cũng quan niệm như thế.

Trường phái kiến tạo đặt sự lưu tâm vào ý tưởng, sự chuyển biến suy nghĩ ở mỗi con người. Nói theo đạo Phật, là đề cao vai trò của “tâm”. Nó đối lập với các trường phái đề cao công cụ sức mạnh quân sự, sức mạnh kinh tế, các công cụ chính trị bên ngoài.

Chúng ta nhớ tới Pháp cú: “Trong các pháp, tâm là chủ, tâm dẫn đầu, tâm tạo tác tất cả”. Dường như quan niệm này chi phối rất lớn đối với trường phái kiến tạo.

Cái khác, có nhưng không lớn, là trường phái kiến tạo, tuy nhấn mạnh đến ý tưởng (“tâm”) từ mỗi cá nhân, tuy vậy, có hướng nhiều hơn đến với giới tinh hoa, nhất là tinh hoa chính trị (quan chức, chính khách, học giả, trí thức…).

Trong khi đạo Phật thì có quan điểm bình đẳng hơn, không có sự phân biệt.

Nhưng có lẽ, quan niệm như những học giả của trường phái kiến tạo cũng không sai, nếu xét trên lý nhân duyên của nhà Phật. Giới tinh hoa chính trị, những nhà hoạt động chính trị, giới trí thức… những người chi phối nhiều hơn đến hoạt động tinh thần, quan hệ đối ngoại của quốc gia, tất nhiên sẽ có “duyên” nhiều hơn đối với việc quyết định quan hệ quốc tế, so với những người lao động chân tay, lao động phổ thông, tầng lớp bình dân…

Yếu tố ý thức, tư tưởng, ý tưởng, tư duy tất nhiên liên hệ nhiều đến giới tinh hoa. Tuy nhiên vẫn có thể thấy rằng “các học giả này theo trường phái kiến tạo” tập trung sự chú ý vào những diễn biến chính trong tư tưởng (discourse) của xã hội bởi vì các diễn biến đó phản ánh và làm sâu sắc thêm niềm tin và lợi ích, đồng thời tạo ra những chuẩn tắc hành vi được chấp nhận” (1). Tức là sự nhấn mạnh giới tinh hoa cũng chỉ là tương đối.

Không đặt nặng sức mạnh của vũ khí, của tiền bạc, của bản năng bạo lực, chế ngự đối tượng khác, của bản năng làm giàu, trường phái kiến tạo quả đã có những tiến bộ, những tiến bộ đó đã, trong một chừng mực nào đó, tương đồng với Phật giáo.

Tiến tới thấy được vai trò của tâm, của cá nhân, trường phái kiến tạo đã đồng quy với đạo Phật, trong xu thế coi trọng vai trò con người, của ý tưởng, của “tâm”!.

MT

1. Nhiều tác giả: Lý luận Quan hệ Quốc tế, Học viện Quan hệ Quốc tế, Hà Nội, 2007 (Lưu hành nội bộ)

Bạn theo tôn giáo nào?
Có thời nhiều người Việt ra nước ngoài được bạn bè hỏi theo tôn giáo nào thì đều nhanh nhảu mà rằng chẳng theo tôn giáo nào cả. 

Kể ra trả lời thế cũng chẳng làm sao. Thế giới đang đầy những phong trào xã hội đòi tự do này nọ. Đức tin cũng là một thứ tự do, ai muốn theo gì thì theo, không theo thì thôi, chẳng ai có quyền áp đặt đức tin cho người khác.

Nhưng hình như có điều không ổn trong chính những câu trả lời kia, nhất là bao giờ nói xong cũng như kèm thêm một vẻ hãnh diện tự đắc, cứ vênh vênh nhơn nhơn ra.

Tôi từng ở những nơi nhiều tôn giáo: Ấn Độ, và Rome “thần với thánh chất chồng như lợn con lăn lóc”, trong một câu thơ báng bổ của Evtushenko. Những nơi đa tôn giáo, tôn giáo lại đa thần, người ta không thể hình dung được có người không theo tôn giáo nào. Không tôn giáo đường như đồng nghĩa với không giới tính. Bởi vì người ta quan niệm tôn giáo là một thuộc tính của con người – con người lọt lòng mẹ là có tôn giáo, cũng như khi lọt lòng phải có giới tính. Có mấy ai lại vênh vang tự nhận không giới tính?

Cũng thế, người ta không hình đung được rằng người không tôn giáo lại biết sống có đạo. Tôn giáo như một cái phanh hãm, nó có thể thắng con người dừng lại bên bờ vực tội lỗi, trước vùng ranh giới thiện-ác, bóng tối-ánh sáng… Có cỗ xe nào lại vênh vang tự nhận rằng nó không cần phanh?

Phải hiểu tâm lý người mộ đạo như vậy thì mới thấy câu trả lời thật thà nọ có thể gây sốc, thậm chí gây ác cảm cho người đối thoại. Một thời, không tôn giáo là câu cửa miệng, người ta khai vào lý lịch ở mục tôn giáo chỉ một chữ: Không. Lúc khác thì: Lương. Có người lý giải lương tức là mình lương thiện, có nghĩa là những ai không lương là theo tôn giáo, tà tà giáo. Chẳng biết có đúng nghĩa thế không?

Nhưng nghĩ cho cùng, nói rằng mình không tôn giáo là thật thà song chưa hẳn đã trung thực. Xin hãy xem, mọi tôn giáo đích thực đều có 5 yếu tố trụ cột:

– Có khái niệm về một đấng tối cao.
– Có người sáng lập.
– Có kinh sách.
– Có nơi linh thiêng để thờ phụng.
– Thực hành tụng niệm.

Xét theo năm tiêu chuẩn ấy thì thử hỏi có mấy ai trên thế gian này thực sự không tôn giáo? Nhiều thứ chủ nghĩa đang tồn tại hội đủ những điều trên, thực tế cũng là một kiểu tôn giáo. Mọi người ở một mức độ nào đó cũng có thể là những giáo đồ. Xung đột nảy sinh do khác hệ tư tưởng liệu có phải là một thứ thập tự chinh tôn giáo, dù cách này hay cách khác?

Mỗi một người thông minh có tôn giáo riêng của mình, Bernard Shaw từng nói vậy. Rất nhiều danh nhân, nhiều trí thức có sẵn trong mình một vị chúa, một ông thánh, và vị chúa tể nội tâm ấy khó mà cúi đầu trước đức chúa của một đám đông. Trong mỗi con người thông minh có hệ tư tưởng riêng, một thế giới riêng của mình và thế giới ấy đủ rộng lớn để bao trùm lên thế giới nhân loại bên ngoài. Nói như vậy không có nghĩa là đức chúa nội tâm, thế giới nội tâm là mối đe doạ xung đột với tôn giáo và xã hội, với thế giới nhân loại Cũng không hàm nghĩa trí thức tất thảy đều vô thần. Có rất nhiều người mộ đạo là đằng khác, nhất là trên các hành tinh bấn loạn và bất ổn hôm nay, nhất là vào thế kỷ XXI mà có người gọi là “thế kỷ tôn giáo”.

Mặt khác có theo đạo cũng không phải là thứ để phô trương. Nhà văn Khushwant Singh từng phê phán một số thủ tướng Ấn Độ đến dự lễ ở các đền thờ trước ống kính truyền hình. Theo ông, tôn giáo là thứ rất riêng tư, một chính khách theo đạo Hindu chỉ nên thờ cúng ở nhà, cũng không nên rầm rộ dẫn đoàn đến thăm các nhà thờ Thiên Chúa giáo, Hồi giáo… như để biểu diễn hay khoe khoang. Một chính khách không thể thuộc về riêng một tôn giáo nào.

Cũng như một chính khách không nên gây ấn tượng thuộc về riêng một vùng quê nào. Nếu đó không phải là con người của mọi tôn giáo, của cả đất nước, thì thảm họa chia rẽ là nguy cơ tiềm tàng.

Một người bạn tôi không bao giờ nhận mình là người vô thần hay là không tôn giáo. Chẳng phải là những nhãn hiệu ấy không dùng làm đạo trang sức được, biết thế nào là đẹp hay không đẹp. Chỉ đơn giản là trả lời như vậy dễ dãi quá, hấp tấp quá, trong khi mỗi con người còn chưa hiểu hết thế giới bên trong mình, một phần nhỏ cũng chưa. Được hỏi theo tôn giáo gì, bao giờ anh cũng nói mình là một agnostic, một kẻ cho rằng con người chỉ có khả năng nhận thức những gì thuộc về vật chất, còn những gì thuộc về tinh thần, về tôn giáo, về dạng tối cao là bất khả tri. Làm sao con người có thể vội vàng nói có hoặc là không trước những vấn đề ấy. Chẳng lẽ lại có thể dễ dàng đến thế?

Agnostic không phải là câu trả lời láu lỉnh, lại nhuốm màu triết học, cốt để lảng tránh tranh luận, tránh xung đột, nhằm bảo toàn uy tín và danh dự cho một trí thức khôn khéo. Đấy nên là câu trả lời phải chăng và biết điều của tất cả những ai không chịu được một tôn giáo nào và tự xem là cái gì cũng biết. Nên thận trọng, thưa những ông những bà Biết Tuốt, những Mr. và Ms. Know-All.

Trở lại với câu bạn theo tôn giáo nào? Rất nhiều người Việt ra nước ngoài đều thản nhiên trả lời: Tôi không tôn giáo. Người ta lại hỏi: Thế thì bạn tin cái gì? Rất nhanh nhảu bên ta đáp luôn: Tôi chỉ tin vào khoa học.

Nhưng mà tôn giáo là khoa học. Người đối thoại khẳng định.

Hồ Anh Thái (Theo Tia Sáng)

TIN TỨCThế giới ngày nay
Tính dục, luân lý, bò điên – Tạp chí Le Point phỏng vấn Đức Đạt Lai Lạt Ma
 

Dưới đây là phần chyển ngữ của một bài phỏng vấn Đức Đạt-Lai Lạt-Ma do tạp chí LE POINT của Pháp thực hiện và đăng ngày 22 tháng 1 năm 2007. Bài phỏng vấn nêu lên nhiều vấn đề liên quan đến tín ngưỡng, thời sự, xã hội và đồng thời nhắc đến một lời tiên đoán từ nhiều tháng trước của Đức Đạt-Lai Lạt-Ma về một trận động đất giết hại 20 000 người ở bắc Ấn độ (xem phần phụ lục).

Trong tháng giêng [2007] một trận động đất lớn ở bang Gujerat (Ấn độ) làm cho 20 000 người thiệt mạng  đã được Đức Đạt-Lai Lạt-Ma tiên đoán trước…

Le Point: Thưa Ngài, trận động đất ấy có phải là một điềm bất hạnh cho nước Ấn hay không?

Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Tôi cũng không biết, tuy nhiên chắc chắn đấy là kết quả phát sinh từ các nghiệp không tốt. Không có khổ đau nào bất công, cũng không có khổ nào vô cớ… Nếu như khổ đau không phải là hậu quả phát sinh từ nghiệp trong quá khứ thì thế giới này phải là một thế giới vô cùng ác độc và phi lý. Tuy nhiên muốn thấu triệt được những hiện tượng hiển nhiên ấy phải tin vào sự tái sinh, nếu không ta sẽ không thể nào hiểu được tại sao một đứa trẻ vô tội hay một thiếu phụ chưa bao giờ làm hại ai phải gánh chịu những đau đớn lớn lao. Bất cứ một hành động nào cũng đưa đến hậu quả ngay hôm nay hay ngày mai, trong kiếp sống này hay kiếp sống khác. Quy luật trên đây không chỉ tác động trên bình diện cá nhân mà còn bao gồm cả một tập thể hay một quốc gia.

Le Point: Ngài có nghe nói đến chuyện “bò điên” hay không?

Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Vâng, dĩ nhiên là có… Bắt những sinh vật ăn cỏ phải ăn những thực phẩm chế tạo bằng thịt thì thật là vô cùng khiếp đảm ! Quý vị cũng hiểu chúng ta sinh ra từ Thiên nhiên, là thành phần của Thiên nhiên, và Thiên nhiên cung ứng cho chúng ta mọi nhu cầu cần thiết. Chúng ta chưa biết phải đền ơn Thiên nhiên ra sao mà còn ra sức khai thác các tài nguyên sẵn có và không hề trả lại cho Thiên nhiên bất cứ gì, hơn thế nữa chúng ta còn làm đảo lộn cả trật tự thiên nhiên. Nếu tiếp tục hành động như thế dù đối với thực vật, động vật hay con người chúng ta sẽ phải nhận lãnh những hậu quả tai hại. Xin đừng phá hoại Thiên nhiên !

Le point: Vậy thì Ngài chống lại việc nhân giống vô tính (clonage – cloning)?

Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Vâng, đúng như thế… Những gì Thiên nhiên tạo ra đều hoàn hảo và chúng ta không có quyền chạm vào đấy.

Le Point: 40% người Đức không ăn thịt. Ngài nghĩ như thế nào về sự kiện ấy?

Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Chúng ta chỉ có thể tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn khi nào chúng ta không giết hại thú vật. Vì lý do vệ sinh, cố tránh không nên ăn thịt.

La Point: Tháng rồi Ngài có tham dự hội nghị thế giới về “Bhagavad-Gita” [Thánh Kinh của Ấn giáo]. Ngài có biết là kinh “Gita” chấp nhận sự hung bạo khi phải bênh vực vợ con, biên thùy và nền văn hóa của mình hay không?

Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Có chứ, tuy nhiên chúng tôi đâu phải là Ấn giáo. Theo quan điểm Phật giáo, động cơ thúc đẩy gây ra sự hung bạo mới chính là điều quan trọng. Quý vị có biết sự tích sau đây về tiền thân của Đức Phật hay không : có một lần Ngài cùng với năm trăm người khác đang lênh đênh trên một chiếc ghe lớn. Trong số năm trăm người ấy có một tên sát nhân mưu đồ giết hết 499 người kia để cướp tiền bạc của họ. Vị tiền thân Đức Phật cố thuyết phục hắn nhưng vô ích. Ngài tự hỏi :”Vậy phải làm sao bây giờ ? Nếu giết tên sát nhân sẽ cứu được 499 mạng người nhưng phải gánh chịu nghiệp ác ; nếu không giết hắn, hắn sẽ giết hết anh chị em của mình trên chiếc ghe này”. Sau cùng vị tiền thân quyết định giết tên sát nhân và chấp nhận gánh chịu nghiệp ác. Tuy nhiên hành động đó của vị tiền thân không những cứu được 499 mạng người mà còn giúp tên sát nhân tránh khỏi nghiệp hung dữ vì đã không giết hại những người vô tội. Hành động ấy tất nhiên cũng mang lại nghiệp lành !

Le Point: Theo cách lý luận của Ngài thì bom hạt nhân có thể xem như chánh đáng…

Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Chuyện ấy lại khác, phức tạp hơn nhiều. Rất khó để bào chữa cho quả bom trước sự tàn khốc do chiến tranh hạt nhân gây ra, dù cho quả bom được sử dụng với một chủ đích tốt. Nhân đây, tôi cũng thấu hiểu mối lo âu của người dân Ấn : quý vị cũng hiểu là năm cường quốc trên thế giới ép buộc nước Ấn không được có bom hạt nhân, thế nhưng lại tự cho mình có cái quyền ấy. Như thế vừa bất công lại vô cùng nguy hiểm. Người Ấn phải đương đầu với những mối đe dọa từ phương tây lẫn phương đông [Pakistan và Trung quốc].

Le Point: Vậy phá thai có phải là một hành động hung bạo hay không?

Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Nhất định đúng như thế, tốt hơn nên tránh. Tôi đồng ý nên sử dụng các phương pháp như dùng thuốc ngừa thai hoặc bao cao-su [Ngài dấu ngón tay trỏ của mình dưới vạt áo đỏ và bật cười dòn].

Le Point: Thế Ngài nghĩ sao về đồng tính luyến ái ?

Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Đấy là gì mà những người Phật giáo chúng tôi gọi là “hành động tính dục thiếu hạnh kiểm” (“mauvaise conduite sexuelle” – “wrong sexual behaviour”). Các cơ quan tính dục sinh ra là để sử dụng vào việc sinh sản giữa nam giới và nữ giới, trên quan điểm Phật giáo những gì lệch lạc đều không thể chấp nhận [Ngài đếm trên đầu ngón tay] : giữa đàn ông với đàn ông, giữa đàn bà với đàn bà, bằng miệng, bằng hậu môn, hay bằng tay…

Le Point: Ngài cũng chống cả việc cải đạo?

Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Nhất định là chống ! Quý vị là những người Thiên chúa giáo, quý vị đang làm một việc hoàn toàn lỗi thời và quá xa xưa, đấy là việc nhiệt tình lôi kéo người khác theo tôn giáo của mình (prosélytisme – proseletysm). Tại Mông cổ chẳng hạn, các nhà truyền giáo Thiên chúa giáo cải đạo cho hàng nghìn người trước kia theo Phật giáo Tây tạng. Đồng thời người Trung quốc tại Tây tạng khuyến khích các vị cố đạo của quý vị cải đạo những người đồng hương của chúng tôi. Tại các vùng miền đông Ấn độ các nhà truyền giáo người Mỹ sử dụng các phương tiện tài chính để cải đạo các bộ tộc miền núi nghèo đói, cô lập họ với cội nguồn, văn hóa và lối sống lâu đời của tổ tiên họ để lại. Như thế thật không hợp lý : thế giới phải ngày càng cởi mở hơn. Quý vị thi hành việc cải đạo, đấy là một hình thức chiến tranh chống lại các dân tộc khác và các nền văn hóa khác không giống với dân tộc và văn hóa của quý vị. Như thế không đúng với thông điệp của đức Chúa Trời (Christ) !

Le Point: Thưa Ngài, Ngài có biết là một triệu người Pháp đến gần với Phật giáo hay chăng?

Đức Đã-Lai Lạt-Ma: Thế à? Người ta bảo với tôi là con số này lên đến 5 triệu kia mà [Ngài cười] ! Tôi xin trả lời câu hỏi này bằng hai cách khác nhau : trên khía cạnh tích cực người Pháp rất thích tìm hiểu và học hỏi – thật vậy tôi còn nhớ lần đầu tiên đến Pháp vào khoảng năm 1973 thì phải, tôi vô cùng ngạc nhiên vì các ký giả đã đặt các câu hỏi rất cao siêu gần với lãnh vực triết học ; trái lại ngày nay tôi nhận thấy Phật giáo Tây tạng trên đất Pháp tương tợ như là một phong trào và người Pháp có vẻ dễ thay đổi quan điểm – đấy là gì mà tôi không tán thành – điều đó chứng tỏ nền móng tín ngưỡng lâu đời không hề ăn sâu vào văn hóa của quý vị, sự bành trướng dễ dàng của Phật giáo đã chứng minh điều ấy.

Le Point: Vậy có thể xem đấy là một phong trào Phật giáo?

Đức Đạt-Lai Lạt-Ma:  Có vẻ như thế ! Và tôi không tán thành một “phong trào” Phật giáo. Hơn nữa tôi nghĩ rằng người Pháp theo Thiên chúa giáo đã lâu đời vì thế cứ giữ lấy tín ngưỡng của mình. Tốt nhất cứ bảo tồn giá trị truyền thống của mình. Chỉ khi nào đã suy nghĩ thật cẩn thận và cân nhắc kỹ lưỡng và thấy Phật giáo có thể mang lại một cái gì đó nhiều hơn so với Thiên chúa giáo thì khi đó mới nên theo Phật giáo.

Le Point: Có đúng là Đức Giáo hoàng đang cố gắng tìm cách ngăn chận sự suy tàn của Thiên chúa giáo hay không?

Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Đúng, hành động như thế rất tốt ; hơn nữa tôi còn nhận thấy Giáo hoàng thật tuyệt vời, là một vị thầy tâm linh thành thực quan tâm đến các vấn đề đang chi phối thế giới ngày nay. Ngược lại, hơn một lần, tôi không đồng ý với cách Ngài gọi “Á châu là mảnh đất truyền bá Phúc âm trong niên kỷ thứ III” : Sự kiện ngày nay tại Tây phương không mấy khi có người đến nhà thờ và thiên hướng giảm sút không phải là một lý do để tìm cách cải đạo những người nghèo khổ ở Đông phương và để đào tạo các tu sĩ, các bà xơ (soeur) ở Ấn độ [rất nhiều nhà truyền giáo và các bà xơ Thiên chúa giáo hoạt động tại Phi châu chẳng hạn, là người Ấn gốc Kérala hay Tamil Nadu]*. Tốt hơn hết là Giáo hoàng nên chăm lo sự an lạc tâm linh cho những người Thiên chúa giáo ngay trên quê hương của quý vị : hiện nay sự khủng hoảng tâm linh đang thật sự xảy ra tại Tây phương, sự khủng hoảng đó đòi hỏi những phương thuốc hữu hiệu.

Le Point: Thế nhưng Thiên chúa giáo và Phật giáo cùng chia sẻ một số giá trị nào đó, có đúng thế không?

Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Hoàn toàn đúng như thế : cùng nêu cao tình yêu thương đồng loại, chủ trương lòng từ bi, sự tha thứ và giúp con người vượt lên các thói hư tật xấu… Tất cả các tôn giáo lớn đều mang mục đích giống nhau. Tuy nhiên phải nói Phật giáo có đôi chút khác biệt với Thiên chúa giáo : chúng tôi tin có vô lượng kiếp – và quý vị chỉ tin có một kiếp. Quý vị tin có một Vị Sáng Tạo – và chúng tôi thì không. Quý vị tin có sự tự do ý chí (libre arbitre – free will) – và chúng tôi thì nhất quyết đấy là do nơi nghiệp…

Le Point: Ngài thích những chính trị gia nào nhất?

Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Nhất định phải là Gorbachev : ông ta đơn thương độc mã dám chống lại cả một hệ thống mà người ta tin rằng không thể nào lay chuyển được – tôi tin rằng lịch sử sẽ ghi nhớ tên ông, dù cho ông từng bị Eltsine (Yeltsin) làm cho lu mờ ; Vasclav Havel : cởi mở, duy linh, dân chủ, bất bạo động từ trong thâm tâm mình ; Jimmy Carter : ông có vẻ như một người vô tích sự, nhưng thực ra rất tích cực và đã giữ một vai trò trung gian trong nhiều cuộc tranh chấp ; Mao Trạch Đông [Đức Đạt-Lai Lạt-Ma cười]…: quý vị ngạc nhiên à ? Trong giai đoạn đầu, ông ta là một nhà lãnh đạo cách mạng đưa Trung quốc ra khỏi sự nghèo đói và lạc hậu của thời Trung cổ, sau đó thì ông ta mới trở nên một tên đồ tể thật khiếp đảm.

La Point: Ngài hy vọng khi nào có thể trở về Tây tạng?

Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Rất khó nói trong tình thế hiện nay. Các cuộc tiếp xúc với người Trung quốc vừa được tái lập qua sự trung gian của em tôi, thế nhưng người Trung quốc là bậc thầy trong nghệ thuật nói thế này làm thế khác, hoàn toàn trái ngược lại với lời nói. Tuy rằng trước đây từ năm 1954 đến 1959, tôi vẫn thành thực nghĩ xứ Tây tạng có thể thừa hưởng chế độ xã hội chủ nghĩa mà Mao rất tha thiết và chúng tôi có thể thỏa hiệp với nhau. Thế nhưng từ năm 1957, người Trung quốc đối xử quá cứng rắn với Tây tạng – và do đó đã xảy ra cuộc nổi dậy vào năm 1959 và đã bị nghiền nát bằng sắt máu.

Le Point: Có khi nào Ngài nghi ngờ điều gì hay không?

Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Có, nhất định là có, trong tất cả mọi lãnh vực – nhưng không bao giờ tôi nghi ngờ bản chất vững chắc của Phật giáo như : tứ diệu đến, bất bạo động, lòng từ bi. Trái lại tôi không chắc lắm là có đến mười ngàn vị Phật [Ngài cười thật to như sấm vang]!

Le Point: Vai trò của phụ nữ sẽ ra sao trong thế kỷ XXI này?

Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Người phụ nữ sẽ giữ một vai trò ngày càng quan trọng hơn. Sự tranh đấu nữ quyền cũng trở nên quan trọng và mang lại nhiều đổi mới : chẳng hạn như ở Tây tạng người phụ nữ từng bị ít nhiều kỳ thị qua bao thế kỷ. Tuy nhiên cũng nên hiểu là một số các vị lạt-ma thuộc các cấp bậc thật cao đã tái sinh làm người phụ nữ, và tôi có thể nói rằng hoàn cảnh người phụ nữ Tây tạng có thể tốt hơn nhiều so với các chị em người Trung quốc.

Le Point: Ngài mến mộ các phụ nữ nào nhiều nhất?

Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Golda Meir, Indira Gandhi, Bandaranaike [cựu Thủ tướng Sri Lanka]. Và sau hết là bà Mitterand, bà là một phụ nữ thật tuyệt vời, là người Pháp quý vị thật may mắn!

Le Point: Nước Tây tạng tự do sẽ đóng một vai trò như thế nào tại Á châu?

Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Hai vai trò : nước Tây tạng phi quân sự và phi vũ khí hạt nhân có thể làm trái độn giữa hai quốc gia Á châu khổng lồ là Ấn độ và Trung quốc, hai nước này luôn kình chống nhau từ khi giành được độc lập ; vai trò thứ hai là tất cả các con sông lớn của Á châu là Brahmapoutre, Trường giang, Mê-kông, Indus, Sutlej đều bắt nguồn từ Tây tạng, các sông này bị người Trung quốc làm ô nhiễm, người Tây tạng chúng tôi chỉ mong ước có dịp trả lại sự tinh khiết cho các con sông này. Nước Tây tạng sẽ giữ một vai trò vừa chính trị vừa môi sinh trong cộng đồng thế giới.

Le Point: Đây là câu hỏi cuối cùng, thưa Ngài thế ngài Karma-pa** (Cát-mã-ba) thứ XVII hiện nay ra sao?

Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Chính quyền Ấn độ vẫn không cho phép ngài trở về tu viện Rumtek [trụ sở truyền thống của dòng Karma-pa tọa lạc tại bang Sikkim thuộc vùng Hy-mã Lạp-sơn đang bị người Trung quốc tranh giành – Ấn độ không muốn ngài Karma-pa đến Sikkim vì sợ đụng chạm đến Trung quốc]. Tuy nhiên, ngài đúng thật là vị tái sinh của ngài Karma-pa trước đây. Ngài là một nhà sư trẻ rất chân thật, đầy thiện chí, chúng tôi đang chăm lo việc giáo huấn thật cẩn thận cho ngài. Chính quyền Ấn độ nên tin tưởng nơi ngài, nếu không lớn lên biết đâu ngài vẫn còn mang một chút tình càm kém thân thiện đối với chính quyền Ấn.

Le Point: Có phải ngài Karma-pa sẽ thừa kế Ngài hay không?

Đức Đạt-Lai Lạt-Ma bật cười lớn và lấy tay bấm vào nút “Ngưng” của máy thu âm và nói : “Stop” !

* Các lời giải thích thêm trong hai ngoặc kép […] thuộc vào bản chính của bài báo (không phải của người dịch).

** Ngài Karma-pa thứ XVII tên là Urgen Trinley Dorjee, 15 tuổi (vào năm 2007), là vị tái sinh của ngài Karma-pa XVI. Một phái bộ do Đức Đạt-Lai Lạt-Ma gởi đi đã khám phá ra ngài trong một gia đình du mục ở Tây tạng vào năm 1992. Ngài bị người Trung quốc bắt giữ, mặc dù họ cũng công nhận ngài chính thực là vị hóa thận của ngài Karma-pa XVI. Sau cùng vị thiếu niên trẻ tuổi trốn thoát được và dùng đường bộ vượt sang Ấn độ và tìm đến tu viên Dharamsala.

Phụ lục

Lời tiên tri của Đức Đạt-Lai Lạt-Ma
Vào tháng tám năm 2006 , Đức Đạt-Lai Lạt-Ma tiên đoán một cuộc động đất sẽ xảy ra trước tháng hai năm 2007 tại miền bắc Ấn. Lời tiên đoán của Ngài sau đó được xác nhận bởi vị tiên tri chính thức Nechung của chính phủ lưu vong Tây tạng đặt tại thị trấn Dharamsala trong vùng bắc Ấn dưới chân Hy-mã lạp-sơn. Ngay sau lời tiên đoán này vị đoạt giải Nobel hòa bình cho tổ chức các buổi lễ tan-tra theo định kỳ đều đặn khẩn cầu cho Dharamsala tránh khỏi tai ương. Về phía vị Bộ trưởng Tôn giáo và Văn hóa của chính phủ lưu vong là Tashi Wangdi cũng như những người Tây tạng nói chung đều tin rằng động đất là hậu quả của những nghiệp xấu, ông cũng đã đích thân đứng ra tổ chức một buổi lễ đặc biệt. Trong toàn vùng Hy-mã Lạp-sơn thường xảy ra động đất, nhất là vào năm 1986 (Đức Đạt-Lai Lạt-Ma suýt bị một mảng trần nhà trong gian phòng của Ngài rơi trúng ; sau đó tòa nhà cư trú của Ngài được xây dựng lại đúng theo tiêu chuẩn chống động đất). Trận động đất do Đức Đạt-Lai Lạt-Ma tiên đoán đã thật sự xảy ra tuy ở xa hơn về phía tây thuộc bang Gujerat. Thị trấn Dharamsala (thuộc bang Himachal Pradesh nằm về phía bắc) không hề hấn gì. F.G.

Bures-Sur-Yvette, 09.11.10

Hoang Phong chuyển ngữ (Theo Thư Viện Hoa Sen)

About Kinh Tâm

Từng bước hoa sen nở
This entry was posted in Khoa học and tagged . Bookmark the permalink.

Có 1 phản hồi tại VAI TRÒ GIỮA ÁNH SÁNG KHOA HỌC VÀ PHẬT GIÁO

  1. NGUYEN PHONG nói:

    THỜI SỰ PHẬT PHÁP
    CON ĐƯỜNG HIỆN ĐẠI HÓA
    trước tiên như tối nay PB đã cho ra mắt 1 vài thông tin cụ thể, tạo bước đi mạnh mẻ cho TS PP rồi đó anh HOÀNH ơi?
    trước tiên, xin anh rút ngắn lại các tin tức, bài vở ( trích dẫn thôi ) dài quá, mất chỗ của trang ….
    xin mạo muội trả lời vài ý thô thiển đến ANH!
    TSPP: 1. BẤT PHÂN TÔN GIÁO ( ĐỊNH HƯỚNG DÂN TỘC VÀ PG HIỆN ĐẠI HÓA)
    2. THÔNG TIN CHỌN LỌC, CHẤT LƯỢNG, TIN CẬY VN VÀ TRÊN THẾ GIỚI .
    3. MỌI NHÀ ĐỌC BÁO MẠNG QUAN TÂM, MANG TƯ TƯỞNG LỢI THA VÀ ĐỒNG HÀNH.
    4. PHÂN TÍCH CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN CỦA XÃ HỘI QUAN TÂM
    5. HÀNH ĐẠO THIẾT THỰC, MANG LỢI ÍCH GIAO THOA, TRUYỀN BÁ CHÁNH TÍNH VÀ LỜI DẠY CỔ NHÂN.

    tb: đặc biệt, bổ sung vào cho các chuyên mục thời sự tại mạng ĐCN, CỔ PHÁP, VĐPP….hay các trang kết nối ( nếu cần)
    – có các thầy phụ trách về mảnh nầy riêng, rà soát tin tức, TS đàu tuần, giữa tuần, cuối tuần ( 3 số )

    xin cám ơn nhà PHỤ TRÁCH ĐCN
    Pháp Bảo huynh,

    Nếu vậy thì mình suy nghĩ theo kiểu người làm thương mãi là hay nhất: “Ai là nhóm khách hàng mình nhắm vào?” Như là mở nhà hàng, mỗi loại khách hàng cần một loại thực đơn và không khí khác nhau. Nhà hàng nhắm vào sinh viên thì khác nhà hàng nhắm vào các chuyên gia.

    Cho nên huynh nên tự hỏi: “Ai là nhóm đọc giả mình muốn nhắm vào?” (Ví dụ ĐCN là nhắm vào thành phần sinh viên và trí thức trẻ là chính) Như vậy ta mới có khái niệm là nội dung nên có những gì, cách hành văn nên thế nào….

    Mến,
    Hoành

    THỜI SỰ PHẬT PHÁP
    từng bước hoa sen nở

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s