TIN TỨC TỔNG HỢP ĐẦU TUẦN

Sự kiện & lễ hội

50 “Sứ giả của vẻ đẹp con người” sang biểu diễn tại Việt Nam
Theo Cục Hợp tác quốc tế (Bộ VHTTDL), ngày 1-12 tới, 50 “sứ giả của vẻ đẹp con người” lần đầu tiên tới biểu diễn tại Việt Nam. 

Đây là đoàn nghệ thuật đặc biệt của Trung Quốc đã nổi tiếng trên thế giới, được thành lập năm 1987. Đoàn có 110 diễn viên là người khuyết tật. Từ trưởng đoàn, chỉ đạo nghệ thuật, biên đạo múa, chỉ đạo âm nhạc đều là người khuyết tật.

Từ khi thành lập đến nay, đoàn đã đi lưu diễn trên 60 quốc gia, được khán giả thế giới mệnh danh là “Sứ giả của vẻ đẹp con người” và giành được nhiều giải thưởng cao quý: Giải “Nghệ thuật kiệt xuất” (của Hội Lân quốc tế), “Giải lớn đặc biệt” (tại triển lãm thành quả của người khuyết tật tổ chức tại Paris, Pháp)…, trưởng đoàn Thai Lệ Hoa được Italia trao “Giải thưởng quốc tế năm 2000”, và được bình chọn là “Nhân vật cảm động Trung Quốc”; tất cả các nghệ sĩ trong đoàn được UNESCO phong danh hiệu “Nghệ sĩ vì hòa bình”.

Sang Việt Nam lần này, 50 nghệ sĩ của đoàn sẽ biểu diễn nhiều tiết mục ca, vũ thuộc các chương trình gắn với tên tuổi của đoàn  vào tối 2.-12 tại Nhà hát Lớn, Hà Nội như:“Giấc mơ của tôi” (được LH phim truyền hình tổ chức tại Holywood trao giải thưởng “Phim nghệ thuật truyền hình hay nhất” và được liên hoan Phim quốc tế tổ chức tại Hy Lạp trao “Giải thưởng lớn đối với nguyên tác” và giải “Sáng tạo”);  “Quan Thế âm trăm tay, nghìn mắt” (do nhà biên đạo nổi tiếng của Trung Quốc Trương Chí Cương dàn dựng).

Chương trình được truyền hình trực tiếp trên sóng truyền hình Việt Nam và hai màn ảnh rộng ở quảng trường Cách mạng tháng Tám.

Mai An (Theo SGGP)

Thế giới ngày nay
Phật giáo tiếp tục nở hoa trên đất nước Mông Cổ
Shand Khiid, Mongolia: Trong không gian nội thất sơn màu đỏ thẫm của một tu viện ở miền trung Mông Cổ, những cậu bé khoảng chừng 6 tuổi ngồi trên ghế và tụng những bài kinh theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng, điều mà rất phù hợp với nhận thức ở lứa tuổi các em. Các cậu bé ở chùa ba tháng. 

Theo một nhà sư, người hướng dẫn khách tham quan, thì tu viện này đã từng lưu giữ lá cờ chinh chiến màu đen của Thành Cát Tư Hãn cho tới khi nó được chuyển về Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Mông Cổ vào năm 1994. Hiện nay, Phật giáo tại Mông Cổ tiếp tục phát triển sau một thời gian dài bị gián đoạn.

Bà Vesna Wallace, giáo sư khoa Tôn giáo học ở Đại học Santa Barbara nói: “Ngày càng có nhiều người hơn tìm đến những tu viện, bởi lợi ích đến từ sự thực hành thiền định trong cộng đồng”. Bà cho rằng những người dân Mông Cổ đã thấm nhuần Phật giáo như là một yếu tố mang đặc tính dân tộc của họ. Hiện nay, các cặp nam nữ thanh niên trưởng thành đang chọn để được làm lễ kết hôn trong những ngôi chùa có sự chứng minh của các nhà sư. Tu viện Gandan ở thủ đô Ulan Bator là tu viện lớn nhất nước và có nhiều người tới lễ hơn trong nhiều thập niên qua. Khi có tang sự, người Mông Cổ tham vấn ý kiến của các nhà sư trước khi quyết định người thân của mình nên được chôn cất, hỏa thiêu hay thiên táng.

Những trụ cầu nguyện và những cột đá khổng lồ được dựng lên khắp nơi trên đất nước. Tài xế xe tải để lại những chiếc lốp xe bị thủng để cầu nguyện cho chuyến đi an toàn. Những người chăn cừu để lại những hộp sọ thú nuôi với niềm hy vọng bầy thú khỏe mạnh. Những chiếc khăn xanh  rung rinh trong gió – biểu tượng của bầu trời xanh mà người Mông Cổ thờ cúng từ thời kỳ tiền Phật giáo. Phật giáo Mông Cổ chủ yếu là phái Mũ Vàng theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng. Tuy nhiên, bà Wallace cho rằng người Mông Cổ đã tạo ra những sắc thái riêng mình, có hòa nhập với tín ngưỡng dân gian tiền Phật giáo. Bà nói: “Người Tây Tạng yêu thích những chiếc khăn màu trắng, còn người Mông Cổ thích những chiếc khăn màu xanh da trời. Thậm chí chính các vị thần được yêu thích trong Phật giáo Mông Cổ là những vị thần tượng trưng cho tính vĩnh cửu, rộng lớn và bao trùm của bầu trời”.

Mông Cổ là một trong những nước có dân cư thưa thớt nhất thế giới, có những thảo nguyên mênh mông, với ½ trong 2,8 triệu dân đang sinh sống tại Ulan Bator. Năm 1578, hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn là Altan Khan chọn Phật giáo làm quốc giáo, sắp đặt những Lạt Ma người Tây Tạng và lệnh cho nam giới tới thực tập Phật pháp trong những tu viện thay vì vào quân đội.

Tu viện cổ nhất quốc gia hiện nay là Erdene Zuu, được xây năm 1585 tại cố đô Karakorum. Những tàng tích của nó vẫn có thể được nhìn thấy ở gần thành phố Kharkhorin. Tại thời điểm hưng thịnh, Erdene Zuu có tới 67 ngôi đền trong quần thể tu viện và 1.500 nhà sư. Hiện nay, 28 nhà sư tu tập tại nơi này với 18 tòa kiến trúc hiện còn. Những nhà sư sử dụng một ngôi đền để nghiên cứu và tụng niệm kinh, còn những tòa kiến trúc khác được mở ra cho công chúng tham quan lễ bái.

Năm 1937, Liên minh Xô Viết – Mông Cổ khi ấy đã ra lệnh cấm đạo Phật và đàn áp 100.000 nhà sư. Họ đã thảm sát gần 20.000 nhà sư chân chính và đào tạo ít nhất 10.000 “nhà sư” khác làm tay sai. 10.000 nhà sư bị “đưa” đến những trại lao động ở Sibiria. Hầu hết trong tổng số 2.000 tu viện trên toàn quốc bị phá hủy.

Trong chế độ đàn áp Phật giáo, một số Phật tử phải thể hiện niềm tin của họ một cách bí mật tại nhà riêng. Những người ngoan đạo giả vờ chơi bài nhưng thực ra họ trao đổi Phật pháp và cầu nguyện. Trẻ em hành động như những người cảnh vệ để đảm bảo rằng không có quan chức tới làm phiền.

Enkhtuya, 40 tuổi, giáo viên tiểu học ở Ulan Bator nói: “Mẹ tôi là một Phật tử thuần thành. Ngay cả trong thời kỳ đàn áp, khi bà có rắc rối gì hay con cái bị bệnh…, bà vẫn tìm tới tịnh thất của  một vị sư để tư vấn”.

Năm 1990, khi nền dân chủ hiện diện, Munkhbaatar Batchuluun đã 11 tuổi. Những trưởng bối trong làng của anh, phía Đông Nam Ulan Bator đã giữ gìn ngôi chùa nhỏ và phục hồi những nghi thức tụng kinh. Munkhbaatar, hiện là Trưởng Ban đối ngoại của tu viện Gandan kể lại: “Người dân bị tẩy não để chống lại tôn giáo. Tôi hỏi ý kiến bố mẹ tôi về việc nếu tôi có thể tham gia tụng niệm. Biết được, ban đầu họ không vui. Họ cười chê và xem nhà sư như là những kẻ thù của đất nước. Nhưng cuối cùng bố tôi cũng đồng ý”.

Bây giờ, phần lớn nhận thức xã hội đã thay đổi, hầu hết người Mông Cổ khẳng định họ chính là Phật tử. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã có 7 chuyến viếng thăm Mông Cổ. Đó là một cuộc đấu tranh sinh tồn để giáo dục lại cộng đồng, đặc biệt là một số tác phẩm thiêng liêng được dịch từ tiếng Tạng sang tiếng Mông Cổ.

Những nhóm Cơ Đốc cải đạo dân Mông Cổ hiện nay là những người thuộc dòng Mormon đến từ Mỹ và Hàn Quốc, họ hoạt động khi chế độ Cộng sản sụp đổ, cũng như họ đã từng làm ở Đông Âu. Tuy nhiên, các bậc ông bà hướng dẫn cho con cháu của họ đi vòng quanh các tu viện và giải thích ý nghĩa của các bánh xe pháp luân, những bàn thờ, những bản kinh viết trên da thú… Điều đó cho thấy Phật giáo đã thấm nhuần trong lối sống của người dân Mông Cổ.

Tố Nhiên lược dịch (Morris Nomi, Theo Los Angeles Times, 9/ 2010)

Pháp: Làng Mai khai mạc khóa An cư kiết đông
image

Ngày 26.11.2010, tại Làng Mai đã diễn ra lễ khai mạc khóa An Cư Kiết Đông. An Cư Kiết đông từ lâu đã trở thành một truyền thống của Làng Mai.

Vào thời Bụt còn tại thế, sau khi theo học với Bụt một thời gian các thầy, các sư cô tản đi khắp nơi để hoằng pháp. Vào ba tháng mùa hạ, mưa nhiều nên việc khất thực và hoằng pháp gặp rất nhiều khó khăn.

Vì vậy Bụt đã đề nghị, trong ba tháng mùa hạ tất cả các thầy, các sư cô dù đang giáo hóa ở nơi đâu cũng phải trở về để cùng đại chúng an trú và tu tập dưới sự dạy dỗ trực tiếp của Bụt. Gọi là An Cư Kiết Hạ.

Trong ba tháng đó, các vị xuất sĩ chỉ ở yên trong đại chúng mà không đi đâu hết. Chuyện thực phẩm đã có các vị cư sĩ đem tới cúng dường.

Làng Mai được thành lập ở phương Tây, mùa hè là mùa du lịch. Thường thì các bạn thiền sinh chỉ có thể dành những ngày nghỉ hè của mình để tới tu tập với tăng thân.

Vì vậy Sư Ông Làng Mai đã khế cơ, khế lý chuyển ba tháng An Cư Kiết Hạ sang ba tháng An Cư Kiết Đông dành mùa hè cho việc mở những khóa tu lớn.

Năm nay, số người An Cư tại Làng Mai có 176 vị xuất sĩ và 49 vị cư sĩ, tổng cộng là 225 vị. Việc cư sĩ được an cư chung với các vị xuất sĩ là một điều rất đáng mừng.

Theo truyền thống, An Cư chỉ dành riêng cho người xuất gia, còn người tại gia chỉ đứng bên ngoài để yểm trợ. Điều này cho thấy, tu viện không chỉ là nơi dành riêng cho các vị xuất gia, nơi đây cũng có thể trở thành ngôi nhà chung cho tất cả những ai có mong muốn tiến xa hơn trên con đường tu tập.

Trước hôm đối thú an cư, vào ngày 24.11.2010, tại Sơn Cốc có một buổi quán niệm dành riêng cho chúng xuất gia, gọi là ngày xuất sĩ.

Cuối buổi pháp thoại Sư Ông có nhắn nhủ đôi lời đối với chúng xuất sĩ trước khi bước vào An Cư, Người nhắc nhở: “Đã là người thợ mộc thì phải biết đóng bàn ghế, là người thợ hồ thì phải biết xây cất. Mình là người tu thì phải làm công việc của một người tu đó là thực hiện cho được bốn việc : Buông bỏ căng thẳng, chuyển hóa khổ đau, chế tác hạnh phúc và thiết lập truyền thông. Khi mình làm được bốn việc ấy rồi thì mình phải hướng dẫn cho người khác cũng làm được như vậy. Đó là bổn phận của một người tu.

Thứ năm ngày 25.11.2010, có ngày quán niệm tại Xóm Hạ, cuối buổi pháp thoại Sư Ông cũng dặn dò tứ chúng phải thực tập ba tháng An Cư cho miên mật, phải trân quý cơ hội được tu tập chung với đại chúng.

Người còn nói thêm: “Thầy rất biết ơn Đức Thế Tôn đã chế ra ba tháng an cư, nhờ vậy mà trong suốt ba tháng thầy được ở yên với các con của thầy, mà không phải đi giảng ở những nơi khác.

An Cư là một cơ hội lớn dành cho các vị xuất sĩ cũng như cư sĩ có điều kiện chuyên tâm đào sâu vào sự thực tập, củng cố thêm năng lượng để sau đó tiếp tục bước ra đem giáo pháp của Đức Thế Tôn đi vào cuộc đời.

Đức Dalai Lama sẵn sàng đến Việt Nam
image

Hàng ngàn Tăng, Ni, người Mỹ và người Mỹ thuộc các sắc dân thiểu số Á Châu đã tham dự buổi thuyết giảng về giáo lý Tứ Diệu Đế của Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Hội Trường Long Beach Convention & Entertainment Center vào sáng Thứ Sáu, ngày 25 tháng 9 năm 2009.

Sau phần thuyết giảng Phật Pháp, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã dành gần nửa tiếng đồng hồ để đón tiếp các ký giả tại buổi họp báo lúc gần 1 giờ chiều cùng ngày.
Trong số những quan khách chính quyền địa phương tham dự buổi thuyết giảng có ông Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang Lou Correa, Thị Trưởng Thành Phố Long Beach Bob Foster, Thị Trưởng Thành Phố Anaheim Curt Pringle.

Trong hội trường dù có trên chục ngàn người có mặt, nhưng không khí im lặng một cách lạ lùng. Đặt biệt khi Đức Đạt Lai Lạt Ma bước vào hội trường thì không khí lại càng thanh tịnh hơn.

Mở đầu buổi thuyết pháp là lời chào mừng Đức Đạt Lai Lạt Ma của Thị Trưởng Thành Phố Long Beach Bob Foster. Ông bày tỏ niềm kính trọng và vui vẻ để được đón tiếp Đức Đạt Lai Lạt Ma thêm lần nữa đến thành phố này. Nhân đó, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tặng và choàng khăn truyền thống Phật Giáo Tây Tạng cho ông Thị Trưởng.

Trước hết, Đức Đạt Lai Lạt nói sơ qua về vai trò của Phật Giáo trong bối cảnh thế giới hiện nay. Ngài nói rằng, “Dĩ nhiên, Phật Giáo hiện là một trong những tôn giáo quan trọng nhất trên thế giới.”

Ngài giải thích về vai trò quan trọng của các tôn giáo trong đó có Phật Giáo cho nhân loại. Vai trò đó là đem lại lòng thương yêu, sự bao dung và hài hòa để con người với nhiều truyền thống văn hóa, với nhiều tôn giáo khác nhau từ Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo, Ấn Độ Giáo, Phật Giáo, v.v…có thể sống chung hòa bình và góp phần cải thiện xã hội.

Ngài cũng mong muốn các Phật Tử thuộc các sắc dân như Việt Nam, Trung Hoa, Đại Hàn nên giữ gìn truyền thống Phật Giáo của mình để đóng góp cho sự phong phú của văn hóa nhân loại. Ngài cũng không quên khuyến khích tinh thần nỗ lực nghiên cứu, học tập và thực hành giáo lý của Đức Phật.

Sau đó, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã mời chư Tăng, Ni thuộc các truyền thống Phật Giáo khác nhau tụng bài Tâm Kinh Bát Nhã. Trước hết là một vị Tăng gốc Ấn Độ tụng Tâm Kinh Bát Nhã bằng tiếng Sankrit (Phạn Ngữ). Tiếp theo là một vị Ni Sư tụng Tâm Kinh bằng tiếng Trung Hoa. Rồi đến chư Ni Việt Nam tụng Bát Nhã Tâm Kinh bằng âm Hán Việt. Và cuối cùng Ngài cùng chư Tăng Tây Tạng tụng Tâm Kinh Bát Nhã bằng tiếng Tây Tạng.

Đến phần giảng giáo lý Tứ Diệu Đế, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã sử dụng tiếng Tây Tạng qua sự phiên dịch sang tiếng Anh của một vị giáo sư người Tây Tạng. Qua phần thông dịch của vị giáo sư Tây Tạng này thính chúng có thể hiểu được một cách thâm thúy nội dung giáo lý Tứ Đế mà Đức Đạt Lai Lạt Ma đã giảng.

Dẫn nhập vào bài giảng giáo lý Tứ Đế, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã giới thiệu tổng quát về bối cảnh tôn giáo của Ấn Độ trước và trong thời kỳ Phật thị hiện ra đời. Khi đề cập đến bản thân của Phật Giáo, Đức Đạt Lai Lạt Ma dạy rằng Phật Giáo có nhiều hệ phái, trường phái, nhưng tất cả đều đưa ra cùng một thông điệp giống nhau. Thông điệp đó có chung một mục đích là giải trừ khổ đau, mang đến an lạc, hạnh phúc cho mọi người. Ngài nhấn mạnh đây là triết lý tổng thể mà người Phật tử cần hiểu biết và phổ biến cho mọi người được biết.

Đức Đạt Lai Lạt Ma đưa ra một thực tế phũ phàng qua đó những gì được diễn giảng trong các Chùa, nhà thờ Thiên Chúa Giáo, và Hồi Giáo và những gì xảy ra trong đời thường ngoài xã hội thì khác biệt nhau. Bên ngoài xã hội đầy rẫy những thù hận, đố kỵ, bạo động, v.v… Ngài nói rằng đó là điều mà nhân loại cần quan tâm và cố gắng đóng góp để mang lại cuộc sống hòa bình và an lạc.

Giảng về giáo lý Tứ Diệu Đế, Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng tuỳ theo hậu cảnh tâm thức và hoàn cảnh bên ngoài mà con người cảm nhận về Khổ khác nhau. Trong đó luôn luôn có hai mặt tiêu cực và tích cực. Tiêu cực là nhìn cuộc đời khổ để đưa đến thái độ chối bỏ. Tích cực là nhận thức khổ được hình thành bởi duyên khởi và do đó vừa mang tính không thật, vừa có thể chuyển hóa tận gốc. Nguyên nhân sâu xa và căn cội nhất của khổ là vô minh, tức không nhận thức đúng như thực tại đang là.

Đức Đạt Lai Lạt Ma tóm tắt tinh yếu của giáo lý Tứ Diệu Đế qua ba cấp độ. Thứ nhất, nhận thức thực trạng của cuộc đời mà khổ là một trong những thuộc tính bất khả phân. Thứ hai, nhận thức nguyên nhân tạo ra khổ, mà vô minh là đầu mối căn bản nhất. Thứ ba, thực hiện phương pháp diệt khổ bằng sự tu tập theo giáo lý đức Phật để đạt đến đích điểm tận cùng tối thượng là Niết Bàn.

Sau phần giảng thuyết về Tứ Diệu Đế, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã dành cho báo giới một buổi họp báo để Ngài trình bày một vài việc và để cho báo chí có cơ hội đặt một số câu hỏi lên Ngài và nhờ Ngài trả lời.

Buổi họp báo được tổ chức trong một căn phòng nhỏ nằm cạnh hội trường chính của  Long Beach Convention & Entertainment Center. Trước khi vào phòng họp báo, lực lượng an ninh của chính phủ Hoa Kỳ đã kiểm soát từng thẻ căn cước, dò tìm từng túi xách và máy thu hình của báo giới.

Mở đầu cuộc họp báo, Đức Đạt Lai Lạt Ma đi ngay vào vấn đề chính, Ngài nói rằng đến đây với 2 mục đích:

– Kêu gọi những người dù có tôn giáo hay không tôn giáo, dù là giới khoa học hay các nhà tôn giáo thể hiện nhiều hơn nữa lòng từ bi, thương yêu, và bao dung để góp phần vào việc mang lại đời sống an lạc, hạnh phúc và hòa bình cho con người, cho nhân loại.

– Là một tu sĩ thực hành theo giáo lý Phật Giáo Ngài đến đây để diễn giảng về Phật Pháp cho mọi người đều được hiểu rõ và nỗ lực thực hành để làm cho mọi người đều được hạnh phúc. Đối với xã hội, Ngài muốn vận động cho một xã hội công lý, hòa bình và giảm trừ thù hận, bạo động.

Được hỏi Ngài có ý định sang thăm Việt Nam, nơi mà có khoảng 60 chục triệu người dân là Phật tử, Đức Đạt Lai Lạt Ma vừa cười vừa nói rằng đâu có ai mời Ngài đến Việt Nam, điều đó tuỳ thuộc vào chính quyền Việt Nam có mời Ngài hay không. Và nếu được mời thì Ngài sẵn sàng đến đó. Ngài cũng cho biết rằng có người nói với Ngài là hình Ngài cũng được treo trong một số Chùa và tư gia tại Việt Nam. Nhân đó Ngài nói xin cầu nguyện cho nhân dân Việt Nam.

Được hỏi về đáp ứng của Ngài đối với chính quyền Trung Quốc, Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng Ngài không gây ra bạo loạn ở Tây Tạng, Ngài chỉ muốn bảo vệ truyền thống văn hóa và Phật Giáo Tây Tạng đang bị Trung Quốc huỷ diệt.

Trả lời cho câu hỏi về ngôi vị của một Đạt Lai Lạt Ma trong xã hội Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng kể từ năm 2001 tới nay Ngài muốn người dân Tây Tạng bỏ phiếu để quyết định về việc này, tức là ngôi vị Đạt Lai Lạt Ma sẽ do người dân Tây Tạng bầu chọn chứ không theo truyền thống 400 năm truyền thừa từ vị Đạt Lai Lạt Ma này đến vị khác.

Khi trả lời câu hỏi Ngài nghĩ thế nào trước thách thức của thời đại tin học, Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng Phật Giáo của 2,500 năm trước và hiện nay không có gì thay đổi, tinh hoa Phật Giáo vẫn y như cũ. Nhưng hoàn cảnh xã hội của 2,500 năm qua trải qua nhiều biến thiên thay đổi. Ngài nói Phật Giáo Tây Tạng tại Ấn Độ từ bấy lâu nay đã có nhiều chương trình dạy cho Tăng Ni về kỹ thuật truyền thông để vận dụng trong công cuộc hoằng pháp.

Kết thúc buổi họp báo, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã hoan hỷ chụp hình chung với các ký giả. Ngài còn vui vẻ ký tên vào các bức hình, các  cuốn sách mà các ký giả này nhờ Ngài làm. Buổi họp báo diễn ra và kết thúc trong tinh thần hài hòa và cảm thông giữa nhà lãnh đạo tối cao của Phật Giáo và chính phủ lưu vong Tây Tạng với báo giới điạ phương.

Nhiều ký giả ra về vẫn còn thấy luyến tiếc giây phút ngắn ngủi được có mặt bên Ngài. Nhiều ký giả vui vẻ khoe với bạn bè rằng đã được hân hạnh đứng chụp hình chung với Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Quả thật nhân cách đặc biệt của một Bồ Tát hóa thân của Ngài đã làm cho nhiều người lúc gần gũi cảm nhận được đạo lực từ bi và trí tuệ bao trùm. Hiếm có nhà lãnh đạo tôn giáo nào có được ân đức đó.

Theo: Việt Báo
Advertisements

About Kinh Tâm

Từng bước hoa sen nở
Bài này đã được đăng trong Thông tin và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s