Nghĩ gì khi làm mới đài tưởng niệm như Con mắt còn lại…

Thừa Thiên Huế: Trùng tu Đài kỷ niệm Thánh tử đạo.

(GNO-TT-Huế): Đài kỷ niệm Thánh tử đạo nằm bên bờ sông Hương, ngay đầu múi Nam cầu Trường Tiền, trước đài phát thanh cũ được đặt đá xây dựng vào ngày vía Đức Phật A-di-đà – 17 tháng 11 năm Ất Tỵ 1965. Theo đồ án kiến trúc của kỹ sư Ngô Nẫm, đài được thiết kế gồm 3 phần: phần đế, phần thân và phần đỉnh.

Phần đế được xem như phần mộ, gồm trụ đế và đài, có chiều cao 0,8m, chu vi khoảng 9,91m; phần đài hoa dễ nhận dạng hơn, vì đó là cả một hoa sen cách điệu gồm 8 cánh, biểu trưng cho Bát Thánh đạo, mà cũng là biểu trưng cho 8 vị Thánh tử vì đạo.

Phần thân được xây theo hình khối lăng trụ gồm 4 mặt. Phần bên dưới được đúc hình vuông có cạnh 0,9m, tiến dần lên trên cạnh thu hẹp lại còn 0,77m và chiều cao của tháp là 1,28m. Mặt tiền tháp hướng ra ngã tư, được dùng làm bia ghi lạc khoản “Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phật lịch 2507, ngày 8.5.1963” ở bên trên, “Giáo hội Thừa Thiên phụng lập” ở phía dưới và ở giữa ghi pháp danh và thế danh 8 vị Thánh tử đạo vào đêm mùng 8 tháng 5 năm 1963, tức đêm rằm tháng 4, PL. 2507:

Tâm Đồng – Đặng Văn Công.
Tâm Thành – Dương Viết Đạt
Tâm Thanh – Nguyễn Thị Yến
Tâm Thông – Nguyễn Thị Phúc
Tâm Hiển – Lê Thị Kim Anh
Tâm Thuận – Trần Thị Phước Trị
Tâm Chánh – Nguyễn Thị Ngọc Lan
Tâm Tôn – Huyền Tôn Nữ Tuyết Hoà.

Phía sau bia tháp là bài minh bằng chữ Hán được viết theo lối chân phương khắc sâu vào đá cẩm thạch, mà đã có lời dịch vô cùng thống thiết:

“Toàn thiện thay, Tám vị Thánh!
Sanh là tuấn anh, chết thành Thánh linh.
Sông Hương núi Ngự, rạng rỡ kết tinh.
Chánh ngược triều Ngô thân dẫu gặp,
Hồn mai nước Phật kiếp lai sanh.
Thà cam nát thịt tan xương, giữ gìn Chánh pháp,
Mặc kẻ báng Tăng huỷ Phật, họ phải hy sinh.
Nhìn xưa rồi ngó lại nay, kẻ đại bi rồi mới là đại lực,
Không sau mà chẳng có trước,
Chỉ tranh đấu cho thấy uy danh.

Phần đỉnh là một đài hoa được trang trí bằng hình lá sen ngược và 3 quả cầu chồng lên nhau biểu trưng cho Tam bảo Phật-Pháp-Tăng. Chiều cao của phần đỉnh ước chừng 1,5m. Phía trên cùng là bánh xe Pháp 12 nạn được đúc bằng đồng, biểu thị cho 12 nhân duyên. Như vậy, tổng chiều cao của đài gồm 3 phần đế, thân và đỉnh vừa chẵn 6m.

tudao-1.gif

Toàn cảnh buổi lễ đặt đá trùng tu sáng 28-11-2010

tudao-3.gif

Non nửa thế kỷ trôi qua, thành phố Huế đã có nhiều thay đổi, ngôi nhà “Đài Phát thanh” nơi diễn ra biến cố đã bao lần thay ngôi đổi chủ và giờ đây cũng đã biến mất để tạo thành vườn hoa. Con đường Lê Lợi cũng đã bao lần được nâng cấp làm cho hiện trạng Đài Thánh tử đạo vốn đã rất “khiêm tốn” nay lại càng “khiêm tốn” hơn.

Trước đây, khi đường Lê Lợi chưa nâng cấp thì mặt bằng Đài Thánh tử đạo cao hơn mặt đường 2 đến 3 cấp, nhưng sau khi thành phố Huế cho nâng cấp mặt đường Lê Lợi thì mặt bằng Đài Thánh tử đạo đã bị thấp xuống gần ngang với mặt đường. Đồng thời khi vẽ đồ án Đài Thánh tử đạo, kỹ sư Ngô Nẫm cũng đã “dựa” vào tòa nhà

của Đài Phát thanh để làm hậu cảnh, vì vậy chiều cao tổng thể của đài cũng tương ứng. Năm 2010, khi tỉnh Thừa Thiên Huế cho phá bỏ tòa nhà để trồng hoa làm công viên thì toàn bộ Đài Thánh tử đạo đã mất phần hậu cảnh và rất “nhỏ nhoi” so với cảnh quan thực.

tudao-2.gif

tudao-4.gif

tudao-6.gif

HT. Thích Đức Phương và chư tôn đức niêm hương

Đài Thánh tử đạo lại tọa lạc tại vị trí ngã tư đường Lê Lợi-Hà Nội, ngay đầu múi Nam cầu Trường Tiền, với diện tích chỉ chưa đầy 150m2 mà hằng năm Ban Trị sự và các ban ngành cùng hàng ngàn Tăng, Ni Phật tử và du khách đến dâng hương, tưởng niệm rất ảnh hưởng đến giao thông công cộng. Thấy được điều này, Ban Trị sự đã có văn bản đề nghị chính

quyền tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Huế cấp thêm đất và giấy phép để Ban Trị sự trùng tu cho hợp với nhu cầu. Và vào sáng 28-11-2010, dưới sự chứng minh của HT.Thích Đức Phương, Phó Chủ tịch HĐTS, Trưởng ban Trị sự THPG T

hừa Thiên Huế cùng chư tôn đức trong Ban Trị sự và các ban ngành trực thuộc, các tổ đình, tự viện và đông đảo Phật tử, buổi lễ khai búa đặt đá trùng tu Đài Thánh tử đạo đã được long trọng cử hành trước sự chứng kiến của rất nhiều du khách trong và ngoài nước.

tudao-7.gif

HT. Thích Đức Phương khai búa trùng tu

tudao-8.gif

HT. Thích Đức Phương đặt viên đá trùng tu

tudao-9.gif

Hoa sen cách điệu phần bệ đài

tudao-10.gif

Mặt trước phần thân đài ghi pháp danh và thế danh 8 vị Thánh

tudao-11.gif

Mặt sau phần thân đài ghi bài minh

tudao-12.gif

Phần đỉnh đài

Theo thiết kế, việc trùng tu sẽ không làm thay đổi đài cũ mà vẫn giữ nguyên thân đài, chỉ mở rộng khuôn viên và nâng cao bệ, di dời đài thụt lùi khoảng 1 đến 2 mét để tạo cảnh quan thích hợp cho toàn bộ ngôi đài v

à có không gian hành lễ thoáng rộng hơn.

Như vậy, gần nửa thế kỷ soi mình bên dòng Hương, Đài Thánh tử đạo luôn in hình trong tâm thức người Phật tử Việt Nam nói chung và người Phật tử Huế

nói riêng, và vẫn còn vang vọng mãi lời người xưa “… Lập đài kỷ niệm này, chúng tôi chỉ muốn cho mọi người Phật tử Việt Nam nhớ lại công đức của những người đã hy sinh… để tự mình đừng quên nhiệm vụ của chính mình đối với Dân tộc, đối với Đạo pháp” *.

Bài, ảnh Trí Năng

* Diễn văn khánh thành Đài Thánh tử đạo vào ngày 27-2-

1966, PL. 2509 của cố Hoà thượng Thích Đôn Hậu.

* TSPP bổ sung : PHẬT GIÁO VIỆT NAM còn là PG … thời bấy giờ.

Con mắt còn lại

Thi sĩ Bùi Giáng xuất khẩu thành thơ, ông sống trong cõi giới riêng ông, trong hư tưởng mông mênh lạ kỳ, nên khi lời thơ ông thốt ra, với chúng ta có khi rất bỡ ngỡ xa lạ, khó hiểu. Ta cố hiểu, rán hiểu về ông, tuy vậy cũng chưa chắc đúng ý ông. Thôi thì cứ mỗi người một cách mà cảm nhận, mà hiểu. Thơ hai câu của ông rất nhiều, tôi chỉ nhớ được vài câu thôi :
Em ơi em đẹp vô cùng, vì em có cái lạ lùng bên trong.

buigiang-2.gif

Bùi Giáng (tranh Đinh Cường)

Đi tu thứ nhất ở chùa,
Thứ nhì ở tận cuối mùa lang thang.

Dược Sư thơ mộng vô vàn,
Sầu lên vút tận mây ngàn tần thân
.
“Còn hai con mắt khóc người một con“. Chính câu thơ này mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có cảm hứng sáng tác bài nhạc “Con mắt còn lại”. Trịnh Công Sơn, Bùi Giáng, Văn Cao, Nguyễn Tuân là những thiên tài Việt Nam, rất hạp nhau và chơi với nhau, bất chấp tuổi tác chênh lệch. Có những ý tưởng gặp nhau, thầm hiểu nhau, vô ngôn thinh lặng vẫn hiểu. Có những điều Trịnh Công Sơn định nói bằng ca từ thì Bùi Giáng đã nói trước bằng thi ca. Ta có thể nói bài nhạc “Con mắt còn lại“ Trịnh Công Sơn và Bùi Giáng cùng sáng tác vẫn được. Ý vô cùng quan trọng, không có tác ý thì thân và khẩu đâu có hành động, Phật dạy như vậy mà !
Bài con mắt còn lại, gồm 24 câu, chia làm ba khổ.
Khổ một:
Còn hai con mắt khóc người một con
Còn hai con mắt một con khóc người
Con mắt còn lại nhìn cuộc đời tôi
Nhìn tôi lên cao nhìn tôi xuống thấp
Con mắt còn lại nhìn cuộc tình phai
Tình trong hai tay một hôm biến mất
Con mắt còn lại là con mắt ai
Con mắt còn lại nhìn tôi thở dài

Nếu chúng ta có ba con mắt như Dương Tiễn trong Tây Du Ký thì dễ cho ta suy đoán ý của tác giả biết mấy, đằng này ta chỉ có hai con khiến phải động não đây. Trong nhà Phật có năm thứ mắt: nhục nhãn, thiên nhãn, tuệ nhãn, pháp nhãn, Phật nhãn… Phàm phu chúng sinh đều có nhục nhãn và tuệ nhãn, tuệ nhãn hiển thị, thấu thị nhiều hay ít, thấp hay cao là tùy ở sự tu tập, chuyển hóa khổ đau của mỗi chúng sanh. Ai mà có Định có Tuệ có tu tập nghiêm chỉnh đàng hoàng thì có mắt tuệ (tuệ nhãn) thấy biết hết, dự cảm chuyện tương lai, đoán việc như thần. Tuệ nhãn ở nơi chúng sinh có và sáng từng lúc, lúc nào có tu, có thao thức nghĩ đến vận mệnh của quê hương và đạo pháp, thì lúc đó đôi mắt rực sáng, có nhiều vị lãnh tụ cũng có đôi mắt này. Còn lúc nào vong thân quên lãng, sống say chết mộng thì mắt chỉ còn thấy mờ mờ, một con mà thấy sáng vẫn quý hơn hai con mà mờ.
Con người vốn dĩ mau quên, mà mau quên thì bị người đời chê trách và nhắc: Thôi thì khóc người một con thôi, khóc cả hai con bị dư nước mắt, mà còn phải dự phòng nữa chứ. Câu một câu hai là nhục nhãn. Câu ba bốn năm sáu là nhìn bằng mắt tuệ (tuệ nhãn), có tuệ nhãn nên mới biết nhìn lại mình, xếp bằng ngồi quán chiếu “nhìn tôi lên cao, nhìn tôi xuống thấp”. “Con mắt còn lại nhìn cuộc tình phai, tình trong hai tay một hôm biến mất“. Ngộ lý vô thường chưa ? Có khi nào lên cao mãi mà không xuống thấp, có cuộc tình nào mãi ấm nồng mà không phai lạt, cứ ngỡ cứ tưởng chồng mình con mình vợ mình tài sản mình, là mãi mãi thuộc về mình, luôn khư khư nắm chặt trong tay, nhưng đùng một cái một hôm biến mất.
Trong đau thương mất mát hụt hẫng vô vọng, bỗng lóe lên một vầng sáng, trong vầng sáng đó có một con mắt từ bi nhìn mình, mời gọi mình. Mắt ai vậy ? Vẫn chưa rõ chưa nhận là mắt ai à ? Mắt Phật chớ còn mắt ai (từ nhãn thị chúng sinh) lấy mắt từ bi mà nhìn mọi loài chúng sinh. Ngài thương quá nên nhìn tôi, nhìn chị, nhìn em… thở dài. “Con mắt còn lại là con mắt ai, con mắt còn lại nhìn tôi thở dài“ câu bảy, tám.

Khổ hai:

Còn hai con mắt khóc người một con
Còn hai con mắt một con khóc người
Con mắt còn lại nhìn một thành hai
Nhìn em yêu thương nhìn em thú dữ
Con mắt còn lại ngờ vực tình tôi
Cuồng điên yêu thương cuồng điên nỗi nhớ
Con mắt còn lại nhìn mây trắng bay
Con mắt còn lại nhìn tôi bùi ngùi


Nguyên nhân của khổ đau là từ một mà nhìn thành hai. Tâm ban đầu (Sơ Tâm) con người dễ thương lắm, trong veo không phân biệt người thân kẻ sơ, chưa phân biệt như các bé thơ nên nhìn ai cũng cười, cũng quơ tay đòi ẵm, nhưng đến khi ý thức lớn mạnh, biết phân biệt người lạ kẻ quen thì không còn một nữa, mà đã hóa thành hai. Chân tâm, Phật tánh, bản thể chân như, tự tánh thanh tịnh… hay nói như thi sĩ Bùi Giáng “vì em có cái lạ lùng bên trong“ Sống với tự tánh thanh tịnh, cái lạ lùng bên trong đó, nên em mới đẹp, chớ không phải phấn son lòe loẹt mà em đẹp. Từ cái đẹp bên trong, mới biểu hiện cái đẹp bên ngoài. Bởi không sống với vô phân biệt trí nên mới thấy một thành hai, khi thì nhìn em yêu thương, khi thì nhìn em như thú dữ. Bởi sống trong ngã chấp, ngã ái nên sợ mất. Bởi chưng sợ mất nên cuồng điên yêu thương, cuồng điên nỗi nhớ. Yêu mà chân thật đàng hoàng, thì luôn tỉnh táo, tỉnh táo để nhận diện, chấp nhận ưu khuyết điểm của nhau để sống chung. Chứ cuồng điên khi yêu, khi tỉnh lại ta không còn yêu nữa. Cũng vậy, nhớ mà cuồng điên thì khi tỉnh lại ta không còn nhớ nữa. Biết tu tâm một chút, bớt phù phiếm xa hoa đua đòi một chút. Biết nỗi khổ của vợ của con ở nhà với canh rau dưa muối mà nén lòng trong những bữa dạ tiệc cao sang một chút. Được như vậy chỉ yêu bình thường thôi, bởi bình thường tâm thị Đạo, không cần phải cuồng điên gì hết. Bốn câu này là nhìn bằng mắt thịt (nhục nhãn).
Và khi nhận diện chuyển hóa niềm đau nỗi khổ rồi, một không thành hai nữa, mà một là tất cả, tất cả trong một. Lúc bấy giờ ngồi trước hiên nhà, nghe thoang thoảng hoa cau, mà nhìn mây trắng bay. Và vẫn còn một chút hối hận ngày qua, bỗng thốt lên: May mà, may mà ! len vào trong tâm một chút bùi ngùi. Hai câu bảy, tám này là quán chiếu bằng tuệ nhãn.
Khổ ba:
Còn hai con mắt khóc người một con
Còn hai con mắt một con khóc người
Con mắt còn lại nhìn đời là không
Nhìn em hư vô nhìn em bóng nắng
Con mắt còn lại nhẹ nhàng từ tâm
Nhìn em ra đi lòng em xa vắng
Con mắt còn lại là đêm tối tăm
Con mắt còn lại là đêm nồng nàn.

Thực tính của cuộc đời, của vạn hữu là không. Không đây không phải là không ngơ, là trống không, mà nhìn sắc thấy có không, nhìn không thấy có sắc, sắc tức là không, không tức là sắc, tất cả chỉ là nhân duyên hòa hợp giả có giả không. Không đây là Không của trung quán luận, vượt thoát tất cả mọi ý niệm đối đãi. Nhìn đời là Không, nhìn em hư vô, nhìn em bóng nắng. Tuyệt quá ! Nhìn được như vậy tức là nhìn bằng mắt tuệ. Nhìn em hư vô, nhìn em bóng nắng. Từ hư vô của tây phương khác với từ Không của Phật giáo, dịch chữ Không là hư vô là không chính xác. Hư vô mà Trịnh Công Sơn viết trong ca từ là ám chỉ, còn đó mất đó, nắm trong tay rồi một hôm biến mất, như vậy hư vô đây là vô thường. Đi giữa sa mạc hay đi vào vùng nhiều đồi cát nóng, những ngày nắng gắt, mắt ta thấy có hiện tượng như sóng dợn,lóm đóm lao xao, nhà Phật gọi là hoa đóm, để chỉ cho những hiện tượng mong manh sanh diệt đổi dời của vũ trụ nhân sinh, cứ tưởng thật mà chẳng thật chút nào, Trịnh Công Sơn gọi hoa đóm là bóng nắng. Thấy em là hư vô, là bóng nắng thì em có bỏ ta mà đi, thì cũng nhẹ nhàng từ tâm thôi, vì ta đã hiểu sự đời tình đời, duyên nghiệp vốn như vậy mà, dẫu em ra đi lòng em xa vắng không còn nhớ gì ân tình kỷ niệm ngọt ngào một thuở. Có tuệ nhãn trong bốn câu này.

buigiang-1.gif

Tranh Bửu Chỉ

Trịnh Công Sơn có quy y Phật với pháp danh Nguyên Thọ, lúc nhỏ thường theo mẹ lên chùa Phổ Quang lễ Phật, thiên phú có chất giọng trầm ấm và mê nhạc lễ chùa, nên được các thầy ở chùa Phổ Quang dạy nghi lễ, chính vì vậy mà một số nhạc phẩm của anh, trong đó có bài Ca Dao Mẹ, chỉ cần có cái chuông cái mõ là đệm tốt cho bài hát.
Đến với đạo Phật từ nhỏ, học đạo, học Phật rất sớm, trưởng thành tiếp tục học trường Triết, nên Trịnh Công Sơn luôn nghĩ đến vô thường, đến hư vô, đến cái chết, chết là một ám ảnh đối với anh. Thỉnh thoảnh anh nằm mơ thấy mình qua đời. Có duyên với đạo, biết đạo là một chuyện, còn có tu tập để chuyển hóa khổ đau, vượt thoát ý niệm sanh tử, còn mất có không để thong dong tự tại nhìn mây trắng bay như các Thiền Sư là một chuyện khác. Ta không nên đòi hỏi ở anh quá nhiều, nhưng nếu Trịnh Công Sơn gặp một đạo sư tâm linh hợp gu với anh, như anh kỳ vọng , hướng dẫn anh tu tập thì chúng ta đã có được thánh sư – nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, như trường hợp ở Ấn Độ có thi hào Tagore, được xưng tụng là bậc thánh trong thi đàn thế giới. Chúng ta tiếc vô cùng cho hai câu kết: ”Con mắt còn lại là đêm tối tăm, con mắt còn lại là đêm nồng nàn” .

Thích Giác Tâm

Advertisements

About Kinh Tâm

Từng bước hoa sen nở
Bài này đã được đăng trong Văn hóa và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s